LOGO VNBET
xin giáo sư gởi những kinh, luật, luận mà Trung Quốc bị thất truyền, vì thế bộ Vãng sanh luận chú này được trở lại Trung Quốc, khoảng một trăm năm trước.
 
Nhưng, một trăm năm trở lại, có thể nói trong lịch sử cận đại Trung Quốc, chúng sanh bị tai nạn chồng chất: Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Chiến tranh thế giới lần thứ hai, quân Nhật xâm lấn Trung Hoa, sau cùng là chiến tranh Quốc cộng, cho nên không được an bình. Bộ Vãng sanh luận chú này dù trở về Trung Quốc, nhưng không có người nghiên cứu, mà còn bị gác xó.
 
Gần nhất, có thể nói cơ duyên của chúng sanh đã đến, bộ Vãng sanh luận chú này lại được trình bày, phân đoạn, rất dễ đọc, dễ hiểu. Hiện tại bộ
 
Vãng sanh luận chú phân đoạn đối chiếu Vãng sanh lễ chú yếu nghĩa đã được xuất bản.
 
II. CHÁNH THUYẾT
 
Chỉ thẳng hai chỗ đại ý
 
Vãng sanh luận chú có quyển thượng và quyển hạ, đại ý nằm ở đâu?
 
Chỗ thứ nhất, nằm ở phần đầu. Phần mở đầu của Vãng sanh luận chú kết hợp tông chỉ trong Dị hành phẩm của Bồ-tát Long Thọ với tư tưởng trong Vãng sanh luận của Bồ-tát Thiên Thân, đây là đại ý.

* Trang 184 *
device

Ngoài ra, chỗ thứ hai là phần cuối cùng. Ý nghĩa của phần cuối và phần đầu là nhất trí nhau, chỉ nhấn mạnh thêm, để khuyên bảo chúng ta, có thể nói là trước sau thống nhất.
 
1. Chỉ rõ Dị hành là cao tột
 
Như vậy, đại ý của phần đầu, nội dung nói gì?
 
Căn cứ theo Thập trụ tỳ-bà-sa của Bồ-tát Long Thọ nói:
 
Bồ-tát cầu A-bệ-bạt-trí1, có hai đường: Một là Nan hành đạo2. Hai là Dị hành đạo.
 
Nan hành đạo nghĩa là ở đời ngũ trược, lúc không có Phật, cầu A-bệ-bạt-trí rất khó. Sự khó khăn này có nhiều phương diện, nói về thô thì có năm ba điều, để biểu thị nghĩa ý:
 
Một là pháp thiện của ngoại đạo làm loạn pháp tu của Bồ-tát.
 
Hai là sự tự lợi của hàng Thanh văn làm chướng ngại tâm đại từ bi.
___________________
1 A-bệ-bạt-trí 阿鞞跋致 Cg: A-tì-bạt-trí, A-duy-việt-trí. Trung Quốc dịch là Bất thoái chuyển, Vô thoái, Tất định. Không thoái chuyển. Chỉ sự tu hành không lui sụt cho đến khi thành Phật.
2 Nan hành đạo 難行道: Đạo khó tu, là một trong hai đạo do Bồ-tát Long Thọ phán định, đối lại với Dị hành đạo. Ở cõi này tinh tấn tu hành tích công lũy đức, trải qua hàng nghìn kiếp mới đắc quả, nên gọi là Nan hành đạo.

* Trang 185 *
device

Ba là những kẻ ác vô cớ phá hoại thắng đức của người ấy.
 
Bốn là quả báo thiện điên đảo có thể phá hoại phạm hạnh.
 
Năm là chỉ có tự lực mà không có tha lực gia trì.
 
Những việc như vậy, nhìn đâu cũng thấy, thí như đi đường bộ, đi bộ thì khổ nhọc.
 
Dị hành đạo có nghĩa là chỉ cần nương vào nhân duyên của Phật, nguyện sanh về Tịnh Độ, nương vào nguyện lực của Phật, thì được vãng sanh về cõi Tịnh Độ thanh tịnh kia. Nhờ Phật lực gia trì liền nhập vào chánh định tụ1 của Đại thừa. Chánh định tức là A-bệ-bạt-trí, thí như đường thủy, đi thuyền sẽ an vui”.
 
Vô Lượng Thọ kinh Ưu-bà-đề-xá này vốn là ‘chỗ cùng cực của Đại thừa, là chiếc thuyền thuận gió bất thoái chuyển’.
 
Đoạn văn này nằm ở phần đầu tiên, cũng chính là đại ý. Đoạn văn này có ba tầng ý nghĩa:
 
Thứ nhất, nói rõ nguyên nhân tại sao Nan hành đạo là khó.
_________________
1 Chánh định tụ 正定聚 Cg: Chánh tín định tụ, Chánh định đẳng tụ, Thiện tụ, Trực kiến tế. Giai vị của hành giả đã an định trong Niết-bàn tịch diệt.

* Trang 186 *
device

Thứ hai, giảng giải nội dung của Dị hành đạo và nguyên nhân tại sao Dị hành đạo là dễ.
 
Thứ ba, khen ngợi Dị hành đạo là cảnh giới cao nhất trong Phật pháp Đại thừa, cũng là phương pháp mau đạt đến bất thoái chuyển.
 
Phán định Nan hành đạo và Dị hành đạo
 
Dị hành phẩm của Bồ-tát Long Thọ đem tất cả các pháp môn tu hành trong kinh, luật, luận được nói trong hơn 300 hội trong 49 năm của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, quy nạp lại thành hai pháp môn: Nan hành đạo và Dị hành đạo.
 
Dị hành đạo, chính là chỉ cho nguyện thứ 18 trong kinh Vô Lượng Thọ, pháp môn cứu độ của Phật A-di-đà gọi là Dị hành đạo.
 
Ngoài môn Dị hành đạo ra thì các tông các phái, các phương pháp tu hành đều gọi là Nan hành đạo.
 
‘Nan’ là khó khăn, cũng là chỉ cho hiểm trở gian nan. Cũng chính là tu hành pháp môn khác đã khó khăn lại còn nguy hiểm sa đọa, cho nên gọi là khó.
 
‘Dị’ trong Dị hành đạo, dị này là đơn giản, dễ dàng, đồng thời cũng là an toàn, an nhàn, không có sự hiểm trở gian nan. Sở dĩ là dễ bởi không nương vào sức tu hành của chúng ta, cũng chẳng phải dựa vào bản thân chúng ta, mà hoàn toàn đều do sức của Phật A-di-đà, nếu có sức của Phật

* Trang 187 *
device

A-di-đà thì rất đơn giản, tất cả đều được an toàn.
 
Sở dĩ Nan hành đạo khó, là bởi vì chỉ có tự lực
 
Phần đầu trong Vãng sanh luận chú, Tổ sư Đàm Loan giải thích sơ lược nội hàm về Nan hành đạo và Dị hành đạo của Bồ-tát Long Thọ, và đồng thời đưa ra kết luận nói, sở dĩ Nan hành đạo là khó, chính bởi:
 
Chỉ có nương vào tự lực mà không có tha lực gia trì.
 
Sẽ có khó khăn, sẽ có hiểm trở, bởi đều dựa vào sức của chúng ta, dựa vào sức của chúng ta mà muốn thoát ly sanh tử luân hồi trong sáu đường thì rất khó khăn.
 
Đồng thời, dù cho có người có thể thoát ly sanh tử luân hồi trong sáu đường, nhưng họ muốn thành Phật cũng không hề dễ dàng. Tại sao? Bởi vì sợ rằng sẽ thoái chuyển, cho nên có sự nguy hiểm này. Họ chỉ dựa vào sức tự lực, ‘chỉ có nương vào tự lực, mà không có tha lực gia trì’, chữ ‘tha’ ở đây chính là Phật A-di-đà.
 
Không có sự cứu độ của sức Phật A-di-đà, cho nên rất là khó.
 
Sở dĩ Dị hành đạo dễ, là bởi vì tin vào nhân duyên Phật
 
Như vậy, Dị hành đạo tại sao gọi là ‘dễ’? Ở trong đây, Tổ sư Đàm Loan phát huy, giải thích thêm:

* Trang 188 *
device

Chỉ tin vào nhân duyên của Phật.
 
Câu này rất quan trọng. Chữ ‘đãn’ nghĩa là chỉ có, riêng có, duy nhất, độc nhất. Không có cái thứ hai, cũng không có cái thứ ba, chỉ ‘tin Phật’. ‘Tin Phật’, chỉ cho tin Phật A-di-đà.
 
Tại sao phải tin Phật A-di-đà? Bởi vì chư Phật trong mười phương ba thời chỉ có Đức Phật A-di-đà phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh trong mười phương. Chúng sanh trong mười phương nếu không vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc thì Ngài không thành Phật. Lời nguyện này đã thành tựu mười kiếp trước đây, cho nên Phật A-di-đà thị hiện ở trong vũ trụ, kêu gọi chúng ta, cứu độ chúng ta, đã được mười kiếp. Vì thế, chúng ta tin Phật chính là tin sự cứu độ của Phật A-di-đà.
 
Chúng ta tin Phật, Phật A-di-đà phát nguyện muốn cứu độ chúng ta, chúng ta lại có tâm nguyện vãng sanh, như vậy là do nhân duyên hòa hợp, thì chắc chắn được vãng sanh.
 
Nếu nói Phật A-di-đà muốn cứu độ chúng ta, mà chúng ta không biết, hoặc không muốn được cứu, không muốn vãng sanh, nhân duyên không hòa hợp thì không thể vãng sanh. Hoặc là nói chúng ta muốn vãng sanh về Tịnh Độ, mà Tịnh Độ đó vẫn chưa hoàn thành, sức của Đức Phật đó chưa đủ, như vậy tuy chúng ta muốn vãng sanh,

* Trang 189 *
device

cũng không thể vãng sanh, bởi vì duyên không đầy đủ. Vì thế, chúng ta lấy việc tin thuận sự cứu độ của Phật A-di-đà mà nguyện sanh về Tịnh Độ của Phật A-di-đà làm nhân, cộng thêm sự cứu độ mạnh mẽ của Phật A-di-đà, nhân duyên hòa hợp thì có thể đạt đến quả vãng sanh, cho nên nói:
 
Chỉ cần tin nhân duyên của Phật, nguyện sanh về Tịnh Độ, nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà liền được vãng sanh về Tịnh Độ thanh tịnh kia.
 
Bởi thế, chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đều là do nguyện lực của Phật A-di-đà. Nguyện lực này, nói cụ thể là sức bản nguyện thứ 18, và sức oai thần công đức không thể nghĩ bàn.
 
Đồng thời, Phật A-di-đà dùng ánh sáng nhiếp thọ người nguyện vãng sanh, ánh sáng ấy luôn ở xung quanh bảo hộ người này, kết quả sẽ vào chánh định tụ. ‘Nhập chánh định tụ’ chính là đã chắc chắn vãng sanh, một khi vãng sanh thì nhất định thành Phật, cho nên chúng sanh nhất định muốn thành Phật là chúng sanh ‘nhập chánh định tụ’. Vì thế nói:
 
Nhờ Phật lực gia trì nên liền nhập vào chánh định tụ của Đại thừa.
 
Bởi vì pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Đại thừa, pháp môn Đại thừa lấy việc cứu độ chúng sanh làm mục tiêu. Dù ở thế giới Ta-bà, tâm chí của chúng ta

* Trang 190 *
device

rất nhỏ hẹp, căn tính thấp kém, nhưng một khi đến thế giới Cực Lạc sẽ không còn ngã chấp, pháp chấp, hơn nữa, lấy 48 đại nguyện của Phật A-di-đà làm tâm nguyện của chúng ta. Vì thế, đến thế giới Cực Lạc thì tự nhiên tâm này trở nên rộng lớn, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi giống như Phật A-di-đà, đi khắp mười phương thế giới để cứu độ chúng sanh.
 
Cho nên, đừng buồn chúng ta không thể thuyết pháp độ chúng sanh, mà chỉ sợ chúng ta không thành Phật; không sợ chúng ta không thành Phật, mà chỉ sợ chúng ta không biết Phật A-di-đà, không tin sự cứu độ của Ngài. Khi tin thuận sự cứu độ của Ngài, thì sự vãng sanh, thành Phật, độ chúng sanh đều nằm trong tín tâm. Bởi thế, Tổ sư Đàm Loan mới nói: “Dị hành đạo là tin Phật”, chỉ có một điều là ‘tin Phật’.
 
Tính siêu việt Dị hành đạo của Tịnh Độ
 
Tin pháp môn này của Phật, không chỉ là Dị hành đạo mà còn là pháp môn của Đại thừa. Vì thế, phần cuối của đoạn này, Tổ sư Đàm Loan đưa ra kết luận, nói:
 
Bộ Vô Lượng Thọ kinh Ưu-bà-đề-xá này, là chỗ cao tột của Đại thừa, là chiếc thuyền thuận gió trong pháp môn bất thoái.
 
Tông Pháp Hoa, tông Hoa Nghiêm, Thiền tông, Mật tông đều là Đại thừa, tông Tịnh Độ Dị

* Trang 191 *
device

hành đạo cũng là Đại thừa, nhưng, chỉ có tông Tịnh Độ Dị hành đạo mới thực sự là cảnh giới cao nhất trong Đại thừa.
 
Có người cho rằng: “Pháp môn khác có lẽ cũng có pháp môn bất thoái”, nhưng môn bất thoái này là chậm chạp tiến về phía trước không thoái chuyển, hay là mau chóng tiến về phía trước không thoái chuyển? Pháp môn Dị hành đạo này, Tổ sư Đàm Loan giảng giải là ‘chiếc thuyền thuận gió trong pháp môn bất thoái’. Chiếc thuyền thuận gió vừa thoải mái vừa mau chóng.
 
Thí như muốn đến Thâm Quyến, nếu chúng ta đi bộ thì chẳng biết phải đi bao lâu, sợ rằng đi không đến, bởi vì khoảng giữa có rất nhiều hiểm trở. Nhưng nếu có con sông, chúng ta ngồi trên thuyền, lại thuận gió, như vậy không phải đi bộ, ngồi an ổn trên thuyền, thuận gió thuận nước, một ngày đi cả nghìn dặm.
 
Bởi thế, Bồ-tát Long Thọ nói pháp môn Tịnh Độ Dị hành đạo giống như ngồi trên thuyền, ngồi thuyền rất dễ và rất mau, lại rất an ổn, cho nên gọi là đạo an lạc.
 
Còn pháp môn khác, Bồ-tát Long Thọ dụ cho đi bộ, rất khổ cực, đồng thời lại phải chuẩn bị rất nhiều tư lương, hơn nữa gặp núi phải trèo núi, gặp sông phải lội sông, lại có hổ báo, thổ phỉ, trộm

* Trang 192 *
device

cướp, có thể bị cướp, bị giết, cho nên rất khó khăn.
 
Tóm lại, Nan hành đạo đi bộ rất nguy hiểm, còn Dị hành đạo ngồi thuyền an toàn lại mau chóng.
 
Đương nhiên, thời xưa không có máy bay, nếu thời nay thì có máy bay, có lẽ sẽ dùng phi cơ để thí dụ. Chẳng qua thí dụ chỉ là thí dụ mà thôi, bởi vì có người sẽ nói ‘máy bay thì có nạn trên không, đi thuyền thì có nạn ở biển’, thuyền nguyện của Phật A-di-đà là tuyệt đối an toàn, không thể có bất kỳ tai nạn nào cả.
 
Đây là một trong những đại ý của Vãng sanh luận chú.
 
2. Khuyên tín tâm tha lực
 
Đại ý thứ hai nằm ở phần sau cùng, chỗ kết luận quyển hạ, Tổ sư Đàm Loan nói:
 
Ngu thay! Người học đời sau, nghe tha lực có thể nương vào, nên phát khởi lòng tin, chớ ỷ vào tài năng của mình.
 
Nghĩa là để khuyến khích chúng ta mà nói: ‘Ô kìa! Người tu hành sau này, nếu nghe nói sự cứu độ của Phật A-di-đà, nghe nói đến pháp môn tha lực này (Tha lực chỉ cho sức lực của Phật A-di-đà, chứ không phải chỉ cho chư Phật trong phương khác), thì nên phát khởi lòng tin, mà không nên nắm chặt sự hạn chế của mình’.

* Trang 193 *
device

Tại sao hạn chế? Vì có người tu pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật, nhưng không nắm chắc vãng sanh, cho rằng ‘Tuy ta niệm Phật, nhưng tội nghiệp rất nặng, phiền não rất sâu, vọng tưởng rất nhiều, như thế e rằng không thể vãng sanh’; hoặc cho rằng ‘Tuy ta niệm Phật, nhưng không thể đạt đến Sự nhất tâm1, dù cho công phu thành phiến, thức ngủ niệm Phật cũng như nhau, cũng nhìn không thấy bóng dáng của vọng tưởng, như thế e rằng không thể vãng sanh’; cũng có người niệm Phật cho rằng ‘Tuy ta niệm Phật, muốn vãng sanh Tịnh Độ, nhưng thời gian niệm Phật không nhiều, bởi vì gia đình, sự nghiệp, thời gian rất vội, như thế sợ rằng không thể vãng sanh…’.
 
Kỳ thật, những suy nghĩ như vậy đều sai cả, đây là tự giới hạn mình, chỉ nhìn từ lập trường của bản thân, hoàn toàn không nhìn trên lập trường của Phật A-di-đà.
 
Chúng sanh mà Phật A-di- đà muốn cứu độ, vốn đã là hạng phàm phu luân hồi trong sanh tử như chúng ta đây, nào là nghiệp bận rộn, nào là
__________________
1 Sự nhất tâm 事一心: Miên mật trì danh, khiến danh hiệu Phật rõ ràng nơi tâm, đi đứng nằm ngồi, ăn cơm mặc áo… luôn trì danh hiệu không dứt, giống như hơi thở vậy, vừa không tán loạn vừa không hôn trầm (đây là trạng thái đả thành nhất phiến) phải tiến đến phá kiến tư hoặc thì mới được gọi là thành tựu Sự nhất tâm (tương đương với bậc A-la-hán).

* Trang 194 *
device

niệm Phật không thanh tịnh, nào là phiền não nghiệp chướng rất nhiều. Đối tượng mà Phật A-di -đà muốn cứu độ, chính là hạng chúng sanh này, cho nên Ngài không đặt điều kiện, nói ‘Bạn nhất định phải làm phiền não mỏng đi, niệm Phật có thể được thiền định nhất tâm, thậm chí bỏ hết sự nghiệp mà chuyên tâm niệm Phật’, hoàn toàn không có điều kiện và qui định này. Ngài nói:
 
Chúng sanh trong mười phương, chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác.
 
Chúng sanh trong mười phương, có thể là người xuất gia, có thể tu hành, hay công phu có thể thành phiến, phiền não có thể cạn mỏng; đồng thời cũng có người nghiệp chướng sâu nặng, sự nghiệp bận rộn, niệm Phật không thể có thiền định nhất tâm. Phật A-di-đà đều bình đẳng cứu độ chúng sanh trong mười phương, hơn nữa bạn thuộc căn tính nào thì Ngài dùng căn tính ấy để cứu độ.
 
Bình đẳng cứu độ
 
Sau khi bình đẳng cứu độ đến thế giới Cực Lạc, bất kể người xuất gia biết tu hành hay chúng tại gia không biết tu hành, tất cả đều đạt đến quả

* Trang 195 *
device

vị bình đẳng, đều giống Vô lượng thọ, Vô lượng quang, không có cái này đẹp, cái kia xấu, đều có ba mươi hai tướng1, tám mươi tùy hình hảo2, đều giảng kinh thuyết pháp giống như Phật A-di-đà.
 
Có khác nhau là những chúng sanh ở Ta-bà này, mỗi chúng sanh đều tùy theo túc nghiệp ở quá khứ, vì thế đời này kiếp này khác nhau. Nhưng sau khi đến thế giới Cực Lạc thì tất cả chúng sanh đều giống như Phật.
 
Tợ như nước ở trên mặt đất có nước sạch, có nước bẩn, nhưng một khi chảy ra biển cả, thì chẳng còn phân biệt sạch bẩn nữa, như nước biển chỉ có cùng một vị mặn.
 
Tông chỉ trước sau, nhất quán
 
Tuy đại ý có hai điểm, nhưng thật ra chỉ có
___________________
1 Ba mươi hai tướng (Tam thập nhị tướng 三十二相) Cg: Tam thập nhị đại nhân tướng, Tam thập nhị đại trượng phu tướng, Tam thập nhị đại sĩ tướng, Đại nhân tam thập nhị tướng. Gt: Đại nhân tướng, Tứ bát tướng, Đại sĩ tướng, Đại trượng phu tướng... Ba mươi hai tướng thù thắng vi diệu của Chuyển Luân Thánh vương và Ứng hóa thân của Phật. Xem Tam thập nhị tướng trong Từ điển Phật học Huệ Quang, quyển 5, tr. 4198.
2 Tám mươi tùy hình hảo (Bát thập tùy hình hảo 八十隨形 好) Cg: Bát thập chủng hảo, Bát thập tùy hảo, Bát thập vi diệu chủng hảo, Bát thập tiểu tướng, Chúng hảo bát thập chương. Tám mươi vẻ đẹp của thân Phật, Bồ-tát. Xem Bát thập chủng hảo trong Từ điển Phật học Huệ Quang, quyển 1, tr. 426.

* Trang 196 *
device

một điểm, một tư tưởng, một tông chỉ, không có hai tông chỉ, trước sau, nhất quán; phần đầu nêu ra tông chỉ này thì đến phần cuối cũng là tông chỉ này, trước sau không thay đổi.
 
‘Cơ’ là đối tượng cứu độ bao gồm cả chúng sanh ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp
 
Chúng ta bàn về căn cơ mà Dị hành đạo cứu độ được nói trong Vãng sanh luận chú.
 
Vừa rồi lược nói đối tượng mà Phật A-di-đà cứu độ là chúng sanh trong mười phương, bất kể là người biết tu hành hay không, tất cả đều bao hàm trong danh hiệu.
 
Phần sau cùng của quyển thượng trong Vãng sanh luận chú có ‘tám câu hỏi đáp’. Tám câu hỏi đáp này nói rõ pháp môn Tịnh Độ Dị hành đạo, đối tượng cứu độ của Phật A-di-đà là chúng sanh nào? Chính là chúng sanh tội chướng sâu nặng như chúng ta đây. Vậy thì, hạng chúng sanh này cũng bao gồm luôn cả chúng sanh phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp.
 
Thu nhiếp hạng Ngoại phàm phu
 
Tám câu hỏi đáp, câu 1 nói về văn Thành tựu nguyện thứ 17 và nguyện thứ 18 trong kinh Vô Lượng Thọ, sau đó Tổ sư Đàm Loan kết luận rằng, căn cứ theo nguyện thứ 17 và thứ 18, và văn Thành

* Trang 197 *
device

tựu nguyện thứ 17 và thứ 18 thì tất cả hạng phàm phu đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Phàm phu có hai loại: Ngoại phàm phu và Nội phàm phu
 
Nội phàm phu là người thượng căn lợi trí, họ có thể không phạm ngũ giới1, đồng thời có thể tu thập thiện2.
 
Ngoại phàm phu có thể là người phạm ngũ giới, không thể tu thập thiện.
 
Tổ sư Đàm Loan nói tất cả hạng Ngoại phàm phu đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tất cả hạng Ngoại phàm phu đều là đối tượng của Phật A-di-đà cứu độ.
 
Thu nhiếp kẻ tạo tội ngũ nghịch
 
Câu hỏi đáp tiếp theo, Tổ sư Đàm Loan nêu ra chúng sanh Hạ hạ phẩm trong kinh Quán Vô Lượng
___________________
1 Ngũ giới 五戒 Cg: Ngũ giới Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tắc giới. Năm giới của hàng nam nữ tại gia thọ trì, đó là: 1. Sát sanh, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Vọng ngữ, 5. Uống rượu.
2 Thập thiện 十善 Cg: Thập thiện nghiệp, Thập thiện nghiệp đạo, Thập thiện đạo, Thập thiện căn bản nghiệp đạo, Thập bạch nghiệp đạo. Đây là mười hành vi thiện do ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra. Mười thiện nghiệp, đó là: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4. Không nói dối, 5. Không nói lời thêu dệt, 6. Không nói lời thô ác, 7. Không nói hai lưỡi, 8. Không tham dục, 9. Không sân khuể, 10. Không tà kiến.

* Trang 198 *
device

Thọ là chúng sanh phạm tội ngũ nghịch, chúng sanh phạm tội ngũ nghịch cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chứng minh tất cả hạng Ngoại phàm phu đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Nhiếp kẻ phỉ báng chánh pháp
 
Trong đây chỉ nói ngũ nghịch và thập ác cũng có thể vãng sanh, có phải chúng sanh phỉ báng chánh pháp không thể vãng sanh? Tổ sư Đàm Loan nói, chúng sanh phạm tội phỉ báng chánh pháp chỉ cần hồi tâm chuyển ý. Tại sao gọi là hồi tâm chuyển ý? Là tự biết trước đây mình phỉ báng chánh pháp là tà tri tà kiến, là sai lầm, hiện tại hồi tâm mà tin nhận, như vậy, họ vẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Ở quyển hạ của Vãng sanh luận chú, tướng thứ ba ‘trang nghiêm khẩu nghiệp công đức thành tựu’ trong việc quán sát tám loại trang nghiêm công đức thành tựu của Phật, Tổ sư Đàm Loan nói rõ ý này.
 
Ngài nói chúng sanh ở thời quá khứ do kiêu mạn, cho nên phỉ báng chánh pháp. Phỉ báng chánh pháp thì nhất định chịu những thống khổ gấp bội lần, người phỉ báng chánh pháp sẽ đọa vào địa ngục, phải bị cắt lưỡi cắt đầu; dù cho thoát khỏi địa ngục trở về nhân gian cũng sẽ bị quả báo câm (bởi vì đời trước, miệng phỉ báng chánh pháp, cho nên bị quả báo miệng không thể nói);

* Trang 199 *
device

luân hồi đến đời sau, họ thoát được quả báo câm thì có thể nói được, nhưng những gì họ nói không được người tin, hơn nữa thường bị nhiều người sỉ nhục, không được mọi người khen ngợi, chịu nhiều quả báo thống khổ. Nhưng nếu như họ tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì chắc chắn được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tất cả quả báo này lập tức được tiêu trừ.
 
Trước đây phỉ báng chánh pháp nhưng bây giờ chỉ cần hồi tâm chuyển ý, thì có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc như thường, quả báo phỉ báng chánh pháp cũng được tiêu trừ.
 
Người nguyện vãng sanh thì đều được vãng sanh.
 
Vì thế, trong tám câu hỏi đáp này, Tổ sư Đàm Loan nói:
 
Người nguyện vãng sanh thì đều được vãng sanh.
 
Chỉ cần chúng sanh chúng ta có tâm nguyện vãng sanh thì chắc chắn vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Ở loại trang nghiêm thứ 11, ‘Trang nghiêm diệu thanh công đức thành tựu’ trong Vãng sanh luận chú, Tổ sư Đàm Loan nói:
 
Nếu người nào chỉ nghe sự thanh tịnh an lạc ở cõi nước kia, khắc niệm nguyện sanh thì

* Trang 200 *
device

cũng được vãng sanh, liền nhập vào chánh định tụ. Đây là tên cõi nước làm Phật sự, đâu có thể nghĩ bàn?
 
Đó là nói, nếu có người chỉ nghe đến thế giới Cực Lạc là nơi thù thắng trang nghiêm, thanh tịnh an lạc, vi diệu hương khiết, khiến mọi người hướng về (đối lại với ‘Cực Lạc’ là ‘Ta-bà’, thế giới Ta-bà là thế giới ô uế, nhiễm ô, tội ác, điên đảo làm chúng sanh tạo tội tạo nghiệp, chịu khổ chịu nạn; ngay lúc đó họ nghe đến ‘thế giới Cực Lạc’), chán Ta-bà thích sanh về Tịnh Độ, tâm này rất tha thiết, nên gọi là ‘khắc niệm nguyện sanh’. Những chúng sanh như vầy:
 
‘Cũng được vãng sanh’: Cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
‘Liền nhập vào chánh định tụ’: Ngay ở cõi này đã nhập vào chánh định tụ mà chưa vãng sanh.
 
Ở đây, Tổ sư Đàm Loan nói:
 
‘Tên cõi nước làm Phật sự’: Là ‘thế giới Cực Lạc’, tên gọi này có thể cứu độ chúng sanh, cho nên nói ‘tên cõi nước làm Phật sự’.
 
‘Đâu có thể nghĩ bàn’: Làm sao có thể tưởng tượng được! Làm sao có thể dùng trí nông cạn của chúng sanh mà suy lường được!
 
Cảnh giới của Phật, chúng ta không thể tưởng tượng được. Trong kinh nói:

* Trang 201 *
device

Hàng Nhị thừa chẳng có thể suy lường, chỉ có Phật mới hiểu rõ.
 
Cảnh giới của Phật A-di-đà chỉ có Phật với Phật mới có thể biết được. Hàng ‘Nhị thừa’ là Thanh văn, Độc giác, vốn không thể tưởng tượng được. Trong kinh A-di-đà nói chư Phật trong mười phương đều khuyên bảo chúng ta:
 
Chúng sanh các ông phải tin kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhất thiết chư Phật sở hộ niệm này.
 
Công đức và oai thần của Phật A-di-đà được chư Phật trong mười phương đều khen ngợi là ‘bất khả tư nghị’, cho nên chúng ta không thể dùng tâm phàm phu mà hoài nghi, suy đoán, bởi vì việc này được chư Phật trong mười phương xưng dương khen ngợi.
 
Thậm chí trong kinh Vô Lượng Thọ lại nói:
 
Oai thần quang minh của Phật A-di-đà là tối tôn đệ nhất, quang minh của chư Phật không thể sánh bằng.
 
Quang minh của chư Phật trong mười phương và quang minh của Phật A-di-đà không thể xem như nhau được.
 
Tại sao gọi là quang minh? Ngoại tướng của trí huệ là quang minh (bản thể là trí huệ, ngoại tướng

* Trang 202 *
device

là quang minh). Trí huệ bao hàm cả từ bi, bao hàm luôn cả sức cứu độ chúng sanh. Quang minh của chư Phật trong mười phương đó không thể sánh với Phật A-di-đà, cho thấy sức cứu độ, trí huệ, từ bi của chư Phật trong mười phương đều không bằng Phật A-di-đà. Vì thế, bản dịch khác trong kinh Vô Lượng Thọ nói:
 
Chư Phật trung chi vương dã, Quang minh trung chi cực tôn dã.
 
Nghĩa là:
 
Vua trong các Đức Phật Bậc tối tôn trong ánh sáng.
 
Cũng chính là nói, Phật A-di-đà là vua trong các Đức Phật ở mười phương, sức quang minh, trí huệ và từ bi của Ngài là ‘tối tôn’- ‘tối tôn’ chính là cao nhất, không có cái gì cao hơn được nữa.
 
Cho nên, ngày nay chúng ta tin một Đức Phật, Phật A-di-đà là vua trong các Đức Phật.
 
Phật A-di-đà vốn phát nguyện muốn cứu độ chúng sanh trong mười phương, mười kiếp đến nay Ngài đều duỗi tay đợi chúng ta, kêu gọi chúng ta, thậm chí luôn luôn chắp tay ở trước chúng ta, yêu cầu, xin chúng ta để Ngài cứu độ. Vì thế, Phật A-di-đà vốn muốn cứu độ chúng ta, mà chúng ta không biết vãng sanh, thậm chí cũng không muốn

* Trang 203 *
device

vãng sanh, Ngài đang kêu gọi chúng ta. Một khi chúng ta có tâm nguyện vãng sanh, cũng chưa chắc vãng sanh! Một mặt chúng ta nguyện vãng sanh, mặt khác Phật A-di-đà phát thệ nguyện muốn cứu độ chúng ta, nhân duyên hòa hợp như vậy thì nhất định vãng sanh, cho nên ‘người nguyện vãng sanh đều được vãng sanh’.
 
Tội nghiệp so với danh hiệu nặng hay nhẹ, giải thích tam tại
 
Câu thứ sáu trong ‘tám câu hỏi đáp’, nói về tội nghiệp so sánh với danh hiệu nặng hay nhẹ.
 
Có người sẽ cho rằng: “Tội nghiệp của chúng sanh chúng ta không chỉ là đời này kiếp này tạo thập ác, phạm giới, mà là từ nhiều kiếp đến nay tích lũy tội nghiệp ngũ nghịch và thập ác, có thể nói những tội nghiệp này vô lượng vô biên, đầy khắp cả vũ trụ, làm sao có thể ở ngay đời này kiếp này, thậm chí lúc lâm chung nghe đến lời giảng giải và khuyên bảo của vị thiện tri thức, mà lập tức xưng niệm mấy câu danh hiệu liền có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc được chứ? Tội nghiệp từ nhiều kiếp đến nay rất nặng, mà lúc ấy niệm mấy câu danh hiệu Phật là rất nhẹ, rất ít, làm sao có thể tiêu trừ tội nghiệp nặng như vậy từ nhiều kiếp đến nay, mà lìa khỏi sáu đường luân hồi vãng sanh về thế giới Cực Lạc thành Phật được?’, có người nghi ngờ như vậy.


 

* Trang 204 *
device

Tổ sư Đàm Loan cho rằng nặng hay nhẹ, không thể nói như vậy được. Tổ sư Đàm Loan giải thích bằng ba điểm, gọi là ‘Giải thích tam tại’.
 
‘Tam tại’ chính là tại tâm, tại duyên, tại quyết định.
 
‘Giải thích tam tại’, có lẽ mọi người rất khó hiểu. Đơn giản mà nói, sáu chữ danh hiệu của Phật A-di-đà là chân thật, tội nghiệp của chúng ta từ nhiều kiếp đến nay được tích lũy là hư giả, nghìn cái giả cũng không bằng một cái thật, hư giả nhiều bao nhiêu chăng nữa cũng đều bằng không, một nghìn cái không cũng là không, một vạn cái không cũng là không; danh hiệu sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ là công đức chân thật, cho nên không thể sánh bằng.
 
Chúng ta tạo nghiệp từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, dĩ nhiên là vô lượng vô biên, nhưng sáu chữ danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật cũng là từ vô lượng kiếp đến nay ‘tích lũy vun bồi vô lượng vô biên đức hạnh của Bồ-tát’. ‘Vô lượng đức hạnh’ chính là tam học, lục độ, vạn hạnh, những công đức này đều được tích lũy và dung nạp trong sáu chữ danh hiệu.
 
Giống như một tấm chi phiếu, tuy chẳng phải là Nhân dân tệ, nhưng có thể viết vào con số trăm nghìn vạn ức. Tấm chi phiếu này, hơn tất cả Nhân

* Trang 205 *
device

dân tệ trong ngân hàng, có thể trả hết tất cả nợ nần. Cũng như vậy, tấm chi phiếu sáu chữ danh hiệu này, có thể thắng tất cả tội nghiệp mà chúng ta tích lũy từ nhiều kiếp đến nay. Xưng niệm câu danh hiệu này thì tất cả tội nghiệp đều được tiêu trừ.
 
Huống gì ba cõi sáu đường, nhìn bằng con mắt của chúng ta, thì cho rằng là chân thật, nhưng nhìn bằng con mắt của Phật thì ba cõi sáu đường vốn là hư giả, tợ như giấc chiêm bao, cho nên kinh Kim cang nói:
 
Tất cả pháp hữu vi1, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như điện, nên quán tưởng như vậy.
 
Tất cả pháp hữu vi, tại sao gọi là pháp hữu vi? Bởi vì chúng sanh ở trong ba cõi sáu đường, khởi tâm động niệm, lời nói hành vi đều là pháp hữu vi, thảy đều hư giả cả, như mộng, huyễn, bọt, bóng.
 
Lúc chúng ta nằm mơ chưa tỉnh, bất cứ chuyện gì trong mơ thảy đều chân thật. Là khổ, chịu khổ trong mơ; là vui, hưởng vui trong mộng. Nhưng đối với người không ngủ, nó là hư giả, chẳng phải là chân thật. Bởi vì cảnh giới trong mơ không có ở thế gian này, chỉ là tâm ý thức hiển hiện mà thôi.
_______________________
1 Hữu vi 有爲 Cg: Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Tức chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi.


 

* Trang 206 *
device

Nếu như anh ta tỉnh dậy, trong mơ dù trải qua sự khổ vui trong trăm năm, nghìn năm đi nữa cũng lập tức biến mất. Nếu anh ta không ngủ, thì giấc mơ cũng chẳng có, làm gì có giấc mộng trăm nghìn năm? Vì thế, cảnh giới lúc tỉnh, không có chiêm bao, chỉ có người nằm chiêm bao mới có giấc mơ đó, mà giấc mơ đó cũng chẳng chân thật.
 
Cuộc đời chúng ta từ nhiều kiếp đến nay đều là giấc chiêm bao lớn, từ trước đến nay không tỉnh thức, dù cho chúng ta hiện tại ở nơi đây vẫn là giấc mơ. Nhưng người học Phật, phương hướng tiến tới của họ từ trong trạng thái mơ chuyển sang trạng thái tỉnh. Người không học Phật, từ giấc chiêm bao này bước vào giấc chiêm bao khác, không có cơ duyên tỉnh thức, vẫn chịu sự khổ vui trong giấc chiêm bao mà thôi. Cuộc đời đương nhiên khổ nhiều vui ít, cho nên chỉ chịu khổ trong giấc chiêm bao.
 
Câu danh hiệu này là công đức huân tu từ nhiều kiếp đến nay của Phật A-di-đà, là chân thật. Niệm một tiếng, hai tiếng, có thể vượt hơn tội nghiệp của chúng ta đã tạo nghìn trăm ức kiếp. Dù niệm một, hai tiếng cũng lập tức tin nhận, lập tức mạng chung, lập tức vãng sanh; sanh tử luân hồi từ nhiều kiếp đến nay lập tức dừng lại. Vì thế, từ nay về sau, lúc nào chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì lúc ấy sanh tử luân hồi từ nhiều kiếp đến nay sẽ chấm dứt; sanh tử luân hồi từ nhiều kiếp đến nay

* Trang 207 *
device

ngay lập tức đoạn trừ, không còn trở lại luân hồi nữa. Lúc nào mạng chung thì lúc đó vãng sanh về thế giới Cực Lạc, cho nên không thể nghĩ bàn.
 
Đây là tám câu hỏi đáp phần cuối quyển thượng trong Vãng sanh luận chú, chỉ rõ ‘Cơ’ của Dị hành đạo.
 
Không đoạn phiền não vẫn đắc phần Niết-bàn
 
Trong Vãng sanh luận chú quyển hạ, khi giải thích ‘Trang nghiêm thanh tịnh công đức thành tựu’, Tổ sư Đàm Loan giải thích loại ‘Cơ’ này rằng:
 
Có kẻ phàm phu phiền não thành tựu, cũng được vãng sanh về Tịnh Độ của Phật A-di-đà. Nghiệp trói buộc trong ba cõi rốt cuộc không dắt đi được, đây là không đoạn trừ phiền não mà đắc phần Niết-bàn. Làm sao có thể nghĩ bàn!
 
Cũng chính là nói, hạng phàm phu chúng ta, phiền não đầy dẫy, bản chất là phiền não, giống như bản chất của than là đen. Chúng ta vừa sanh ra có mắt, mũi, tai, nếu lìa khỏi mắt, mũi, tai thì không giống người nữa; chúng ta vừa sanh ra, nội tâm toàn bộ là phiền não, lìa những phiền não này thì chẳng phải phàm phu, cho nên nói ‘phiền não thành tựu’.
 
Loại chúng sanh này đầy phiền não, chẳng thanh tịnh gì cả, nhưng họ cũng có thể vãng sanh

* Trang 208 *
device

về thế giới Cực Lạc, dây thừng trong ba cõi sáu đường không buộc họ được. Ngay khi không đoạn trừ được phiền não cũng đã được thành phần Niết-bàn rồi, việc này quả thật không thể nghĩ bàn!
 
Không thể nghĩ bàn ở chỗ nào? Nằm ngay chỗ nguyện lực cứu độ của Phật A-di-đà. Không pháp nào dễ hơn Dị hành đạo!
 
Viên, Đốn, Giản, Tốc
 
Bởi thế, Tổ sư Đàm Loan xếp Nan hành và Dị hành ở phần đầu, hơn nữa nhấn mạnh về Dị hành đạo, có hàm nghĩa: Cho thấy luận Vãng sanh này chính là pháp môn Tịnh Độ, và cũng là pháp môn nguyện lực cứu độ của Phật A-di-đà. Dị hành đạo không khó khăn, đồng thời không chỉ là đạo dễ thực hành mà còn là cảnh giới tối cao của Đại thừa, là pháp môn mau nhất trong các pháp môn bất thoái, cũng chính là ‘Viên, Đốn, Giản, Tốc’.
 
‘Viên’, tại sao gọi là Viên? Pháp đầy đủ tất cả các pháp nên gọi là Viên.
 
‘Đốn’, tại sao gọi là Đốn? Đời nay tu hành đời nay chứng đắc nên gọi là Đốn.
 
Đương nhiên pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tín tâm, là pháp môn xưng danh niệm Phật, ngay ở trong tín tâm xưng danh, tuy không tu mà công đức rất lớn. Vì thế, không tu cũng giống như tu,

* Trang 209 *
device

cho nên là ‘Viên, Đốn, Giản, Tốc’, đơn giản mà lại mau chóng. Điều này ở đoạn văn trên, là triển khai tông chỉ nói rõ nội dung, xuất hiện trong ‘đoạn văn bàn về Nan hành đạo và Dị hành đạo’.
 
‘Pháp’ mau thành Phật nhờ nguyện lực của Phật A-di-đà
 
Vừa giảng điểm thứ nhất là ‘bàn về hai môn Nan hành đạo và Dị hành đạo’, sau đó giảng về ‘Cơ’ của Dị hành đạo, tiếp theo sau phải từ Vãng sanh luận chú mà xem ‘Pháp’ của Dị hành đạo.
 
Pháp môn Dị hành đạo này là pháp môn cứu độ của Phật A-di-đà, ở đây giảng đại khái. Trong Vãng sanh luận chú phân tích rất lô-gích, đoạn cuối cùng trong quyển hạ của Vãng sanh luận chú nói về pháp ‘Dị hành đạo’, chính là lý do ‘Dị hành đạo’ là ‘Dễ’, nguyên nhân nằm chỗ nào?
 
Đầu tiên, Tổ sư Đàm Loan lấy phương thức hỏi đáp để nói: “Có nhân duyên gì mà có thể khiến cho môn Dị hành đạo này ‘mau chóng’ đạt đến A-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề?”.
 
Tìm về nguồn gốc, Phật A-di-đà là tăng thượng duyên.
 
Tổ sư Đàm Loan tự hỏi và trả lời rằng: “Nguyên nhân mau đắc được A-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề, tìm về nguồn gốc, chính là lấy Phật A-di-đà

* Trang 210 *
device

làm tăng thượng duyên” (không dùng sự tu hành của chúng ta làm tăng thượng duyên).
 
Vì thế, nguyên nhân pháp môn ‘Dị hành đạo’ này mau chóng, về căn bản chính là do sức của Phật A -di-đà, chẳng phải do công phu tu hành của chúng ta.
 
Tổ sư Đàm Loan lại nói:
 
Chúng sanh vãng sanh về Tịnh Độ Cực Lạc cho đến hàng Bồ-tát, nhân thiên ở cõi kia khởi các hạnh đều do sức bản nguyện của Phật A-di-đà.
 
Nói khác đi: Hễ chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc cho đến hàng Bồ-tát đã vãng sanh về thế giới Cực Lạc, việc cứu độ chúng sanh của những Bồ-tát này làm, đều nương vào sức bản nguyện của Phật A-di-đà.
 
Tổ sư Đàm Loan lại nêu ra câu hỏi:
 
- Tại sao nói điều này? (Tại sao nói như vậy? Do nguyên nhân gì?)
 
Tổ sư Đàm Loan tiếp tục tự trả lời:
 
- Nếu chẳng phải Phật lực thì 48 đại nguyện không có tác dụng.
 
Bởi vì có Phật lực, nếu như không có sức của Phật A-di-đà thì 48 đại nguyện không có tác dụng.

* Trang 211 *
device

Như vậy, Phật A-di-đà phát 48 đại nguyện rốt cuộc để làm gì? Chính là để khiến cho hạng phàm phu phiền não như chúng ta đây không đoạn trừ phiền não cũng được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Nay lấy ba nguyện dùng để chứng minh ý của nghĩa này.
 
Tổ sư Đàm Loan nói: “Hiện tại để trích dẫn ba lời nguyện và chứng minh lời mới vừa giảng là chân thật”.
 
Tiếp theo trích dẫn ba nguyện: Nguyện thứ 18, nguyện thứ 11, nguyện thứ 22.
 
Căn cứ theo nguyện thứ 18, cho đến mười niệm vãng sanh
 
Nguyện thứ 18 nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác. Chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp”.
 
‘Cho đến mười niệm’ thì có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Đương nhiên, mười niệm này là mười niệm của ‘cho đến’, đều chẳng phải nói chỉ có mười niệm. ‘Cho đến mười niệm’ mấy hôm nay đã giảng rồi, ‘cho đến’ chính là nói: Sau khi nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì suốt cả đời này niệm Phật, có

* Trang 212 *
device

người mười niệm, năm niệm, một niệm (căn cơ lúc lâm chung nghe tin), có người niệm nghìn niệm, vạn niệm, hoặc một ngày, hoặc bảy ngày, hoặc một năm, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm (căn cơ lúc bình sanh nghe tin), đều là ‘cho đến’.
 
Cũng do căn cơ chúng sanh khác nhau, có người khi còn trẻ gặp được pháp môn Tịnh Độ, có người cả đời không gặp được duyên này, mãi đến lúc lâm chung nằm ở trên giường, lúc sắp tắt thở mới gặp được pháp môn này.
 
Lúc còn trẻ gặp được pháp môn này, bắt đầu từ đây họ xưng danh niệm Phật, không dựa vào công phu nào khác, người này chính thức niệm Phật ‘cho đến một đời’.
 
Dù cho nói suốt đời đều gặp duyên ác, làm cho họ tạo nhiều tội ác, không hiểu nhân quả báo ứng, không biết hành thiện tích đức, đến lúc lâm chung bệnh khổ nằm trên giường, mới gặp được người có duyên thỉnh thiện tri thức đến giảng ‘có nhân quả báo ứng, làm thiện được làm người, làm ác sẽ đọa vào địa ngục’ cho họ nghe, họ mới sợ hãi, mới bắt đầu tìm đường giải thoát. Vị thiện tri thức này lại bảo họ rằng: “Tội nghiệp của bạn nặng như vậy, chẳng phải dễ dàng mà được giải thoát. Trong tất cả pháp môn chỉ có pháp môn này, chính là nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà mới có thể giải thoát”. Người này,

* Trang 213 *
device

có thể nói chẳng còn pháp môn nào khác, chỉ có tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà mà thôi.
 
Huống gì sự cứu độ của Phật A-di-đà là tối thắng nhất, mau nhất trong tất cả pháp môn, hạ thủ dễ mà lại thành tựu cao. Anh ta lập tức tin nhận, lập tức xưng niệm, ngay lúc mạng chung, liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Thế thì, anh ta niệm cho đến mười niệm, năm niệm, một niệm.
 
Đây chính là hàm nghĩa ‘cho đến mười niệm’.
 
Niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ trong nguyện thứ 18, có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc; một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì thoát khỏi luân hồi trong ba cõi sáu đường; không còn luân hồi, ở thế giới Cực Lạc là Vô lượng thọ, nhất sanh bổ xứ, cho nên có thể mau đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề. Đây là lời chứng minh thứ nhất về nguyện thứ 18.
 
Căn cứ theo nguyện thứ 11 mà nhất định đến Niết-bàn thành Phật
 
Chứng minh thứ hai là nguyện thứ 11:
 
Nếu Tôi thành Phật, hàng nhân thiên trong cõi nước Tôi mà không trụ được chánh định tụ, chứng quả Niết-bàn thì Tôi không thành Chánh giác.
 
Nương vào sức của Phật A-di-đà nguyện thứ 11, chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở đây

* Trang 214 *
device

đã ‘trụ chánh định tụ’, cho nên đến thế giới Cực Lạc ‘nhất định đến diệt độ’, cũng là nhất định được thành Phật, không có nạn trở lại luân hồi, cho nên rất mau đạt đến A-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề.
 
Tại sao nói không có nạn trở lại luân hồi? Nếu như dựa vào tự lực mà tu hành thì từ khi lìa thế giới Ta-bà đến quả vị Sơ địa, phải trải qua một đại kiếp. Từ Sơ địa đến Thất địa lại phải trải qua một đại kiếp, như vậy phải trải qua hai đại kiếp. Nếu như ở giai vị Thất địa không tiến lên nữa, thì sẽ thoái lui. Do có sức của Phật A-di-đà nên trụ trong chánh định tụ, mà đến thế giới Cực Lạc diệt độ, cũng chính là được Niết-bàn, ngộ được Vô sanh pháp nhẫn1 rồi thành Phật, cho nên rất siêu việt. Không cần phải trải qua Sơ địa, Nhị địa, Thất địa, đương nhiên cũng không có sự nguy hiểm thoái chuyển, đó gọi là ‘không có các nạn trở lại luân hồi’.
 
Căn cứ theo nguyện thứ 22, Hoành siêu các Địa độ khắp chúng sanh
 
Chứng minh thứ ba là nguyện thứ 22. Vãng sanh về thế giới Cực Lạc nương vào nguyện thứ 22 của Phật A-di-đà, nói:
_______________
1 Vô sanh pháp nhẫn 無生法忍 Cg: Vô sanh nhẫn, Vô sanh nhẫn pháp, Tu tập vô sanh nhẫn. Pháp nhẫn vô sanh, 1 trong 3 nhẫn, nhẫn thứ 4 trong 5 nhẫn nói trong kinh Nhân vương. Tức quán lý không sanh không diệt của các pháp, nhận kỹ lý ấy, an trụ tâm bất động.

* Trang 215 *
device

Vượt hẳn hạnh các Địa thông thường
Hiện tiền tu tập đức Phổ Hiền.
 
Hàm nghĩa của hai câu này chính là pháp môn Tịnh Độ thuần chánh, là pháp môn Hoành siêu, chẳng phải là pháp môn Thụ xuất1, là pháp môn nương vào sức của Phật A-di-đà, chẳng phải pháp môn nương vào sức của bản thân chúng ta.
 
Nếu như nương vào sức của bản thân chúng ta thì phải tự mình phá được kiến hoặc2, tư hoặc3, ‘Sơ tín’ sau đó tiến đến ‘Thập tín’; lại từ ‘Thập tín’ tiến vào ‘Thập trụ’; ‘Thập trụ’ xong rồi đến ‘Thập hạnh’; ‘Thập hạnh’ xong rồi đến ‘Thập hồi hướng’; ‘Thập hồi hướng’ xong rồi tiến đến ‘Thập địa’; từng cấp, từng cấp như vậy hướng đến quả vị Phật.
 
Nhưng pháp môn Tịnh Độ của chúng ta là Hoành siêu, siêu việt 51 giai vị này, cho nên nguyện thứ 22 nói:
____________________
1 Thụ xuất 竪出: Dùng tự lực tu các giáo nghĩa như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ…, lần lượt trải qua các thứ bậc mà xa lìa sanh tử.
2 Kiến hoặc見惑 Gđ: Kiến đạo sở đoạn hoặc. Cg: Kiến phiền não, Kiến chướng, Kiến nhất xứ trụ địa. Những phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị Kiến đạo.
3 Tư hoặc 思惑 Cg: Tu hoặc. Gđ: Tu đạo sở đoạn hoặc. Các hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo. Tức các phiền não thuộc về mê sự như tham, sân, si được đoạn trừ khi hành giả tu tập đến giai vị Tu đạo.

* Trang 216 *
device

‘Vượt hẳn hạnh các Địa thông thường’: Vượt qua sự tu hành của Sơ địa, Nhị địa… thông thường.
 
‘Hiện tiền tu tập đức Phổ Hiền’: ‘Đức Phổ Hiền’ chính là hành vi cứu độ chúng sanh.
 
Phật A-di- đà vì chúng ta mà phát 48 đại nguyện, trong đó thì nguyện thứ 22 nói: “Khiến người vãng sanh về thế giới Cực Lạc, ngay lập tức vãng sanh thì siêu việt 51 giai vị. Cũng chính là siêu việt giai vị Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng Giác, mà đạt đến giai vị Diệu Giác”. Vì thế nói ‘vượt hẳn hạnh các Địa thông thường’.
 
Đây chẳng phải nương vào sức của bản thân chúng ta, mà nương vào sức của Phật A-di-đà. Sức của Ngài hiển hiện chỗ nào? Hiển hiện ở lời nguyện thứ 22.
 
Ở đây, Tổ sư Đàm Loan trích dẫn ba lời nguyện: Nguyện thứ 18, nguyện thứ 11, nguyện thứ 22, để chứng minh ‘Dị hành đạo’ là pháp môn mau thành Phật.
 
3. Công năng danh hiệu là phá nghi, mãn nguyện
 
Vãng sanh luận chú còn có một chỗ chính yếu là ‘Tán thán môn’ phần đầu của quyển hạ, nói về hiện tượng tu hành, có người ‘tu hành chân thật’,

* Trang 217 *
device

và có người ‘tu hành không chân thật’.
 
Danh hiệu Vô Ngại Quang Như Lai có năng lực phá tan tất cả vô minh của chúng sanh, có thể đầy đủ tất cả chí nguyện của chúng sanh. Nhưng có người xưng danh ức niệm mà vô minh vẫn còn, không vừa lòng mong cầu, vì sao? Bởi vì tu hành không chân thật, vì không tương ưng với danh nghĩa.
 
Thế nào là tu hành không chân thật, không tương ưng với danh nghĩa?
 
Tức là không biết Đức Như Lai là ‘Thật tướng thân’, là ‘Vị vật thân’.
 
Lại có ba trường hợp không tương ưng: Một là ‘Tín tâm không thuần, vì lúc có lúc không’; hai là ‘Tín tâm không chuyên nhất, vì không quyết định’; ba là ‘Tín tâm không liên tục, vì niệm khác xen vào’.
 
Vừa nói pháp môn Tịnh Độ là ‘phi tu bất tu’, không nói về tu hành mà nói về xưng danh. Xưng danh so với tu hành thông thường, vừa dễ vừa siêu việt.
 
Ở đây, Tổ sư Đàm Loan nói: Câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này có thể phá trừ được vô minh của chúng ta, có thể thỏa mãn nguyện vọng của chúng ta. Nhưng có người hiện tại đã và đang niệm Phật, ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, nhưng lại không phá trừ vô minh, người

* Trang 218 *
device

ấy cũng không đạt được nguyện vọng, do nguyên nhân gì? Ở đây, Tổ sư Đàm Loan giảng giải.
 
Chúng ta trước tiên giải thích ‘vô minh’ và ‘mãn nguyện’.
 
‘Vô minh’ có hai loại ‘Tổng’ và ‘Biệt’: Tổng tức là ‘Si vô minh’, Biệt tức là ‘Nghi vô minh’.
 
‘Si vô minh’ chính là các phiền não tham sân si, đây gọi là vô minh. Tất cả vô minh đều bao gồm trong ‘Si vô minh’.
 
‘Nghi vô minh’ là hoài nghi về sự cứu độ của Phật A-di-đà, đây gọi là ‘Nghi vô minh’.
 
Nói chung là tất cả tham sân si, nói riêng chính là ‘Nghi vô minh’.
 
Như vậy, chỉ cần ‘Nghi vô minh’ về Phật A-di-đà bị phá trừ, chỉ cần tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì cho dù tham sân si, vô minh vẫn còn nhưng cũng không làm chướng ngại. Bởi vì vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì nhất định đoạn trừ được tham sân si.
 
Câu danh hiệu này của Phật A-di-đà có thể phá trừ vô minh của chúng ta, trước nhất phá trừ ‘Nghi vô minh’ của chúng ta. Chỉ cần ‘Nghi vô minh’ bị phá trừ, dù cho tham sân si, phiền não vẫn còn đi nữa, thì lúc đến thế giới Cực Lạc nhất định sẽ phá được, cho nên trước hết phải phá ‘Nghi vô minh’.

* Trang 219 *
device

Nói theo pháp môn Tịnh Độ thì vô minh nghiêm trọng nhất không phải tham sân si mà chính là nghi. Bởi vì chúng ta hoài nghi sự cứu độ của Phật A -di-đà, nên khiến chúng ta tiếp tục tạo tội nghiệp, chịu khổ báo trong ba cõi sáu đường; có luân hồi thì không tránh khỏi tội ngũ nghịch thập ác, ỷ mạnh hiếp yếu. Nói như thế, chẳng phải hoài nghi tội nghiệp. ‘Nghi vô minh’ này nặng hơn tội giết người phóng hỏa, ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp đấy sao?
 
Vì thế, hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà, hoài nghi Phật trí, không tin sự cứu độ, tội nghiệp nặng hơn giết người phóng hỏa. Bởi vì do hoài nghi nên không thể vãng sanh, mà tiếp tục luân hồi; luân hồi thì tiếp tục tạo tội thập ác, ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp, gây tạo bất cứ nghiệp gì.
 
‘Nghi’, hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà là tội lớn nhất trong tất cả tội.
 
‘Mãn nguyện’, nguyện cũng có ‘Tổng’ và ‘Biệt’. ‘Tổng’ chính là rất nhiều nguyện vọng trong cuộc đời chúng ta, vừa muốn cái này, lại muốn cái kia, vừa hy vọng cái này, lại hy vọng cái kia, nguyện vọng rất nhiều. ‘Biệt’ chính là nguyện sanh về thế giới Cực Lạc, nguyện của nguyện sanh này.
 
Tuy có nhiều nguyện khác, nhưng chỉ cần

* Trang 220 *
device

nguyện sanh về thế giới Cực Lạc được thỏa mãn, thì những nguyện khác cũng thành tựu. Bởi vì chỉ sợ không thành Phật, chứ đừng lo thành Phật mà không thể mãn nguyện. Thành Phật thì có trí huệ, có thần thông thì có thể được tự tại như ý, muốn như thế nào thì được như thế đó, muốn dùng thân nào giúp chúng sanh đắc độ thì có thể thị hiện thân đó để nói pháp.
 
Bởi thế, mãn nguyện trước hết thỏa mãn nguyện vãng sanh. Nguyện vãng sanh là căn bản của tất cả nguyện, chỉ cần nguyện này đầy đủ thì các nguyện khác cũng đều đầy đủ.
 
Tại sao xưng danh không đầy đủ sở nguyện
 
Câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này có thể phá trừ vô minh của chúng ta, có thể đầy đủ nguyện vọng của chúng ta, nhưng vẫn có người xưng danh mà vô minh vẫn không phá trừ, nguyện vọng vẫn không thỏa mãn, rốt cuộc là nguyên nhân gì?
 
Xưng danh không như thật
 
Đại sư Đàm Loan giải thích thêm:
 
Do tu hành không chân thật, vì không tương ưng với danh nghĩa.
 
Tuy chúng ta xưng danh, nhưng loại xưng danh này chẳng phải là xưng danh chân thật, có

* Trang 221 *
device

tâm hoài nghi thì chẳng phải là xưng danh chân thật. Nếu như đầy đủ tín tâm, đó chính là xưng danh chân thật.
 
Hai điều không biết: Không biết Thật tướng thân và Vị vật thân
 
Câu danh hiệu này đã có thể phá trừ tâm hoài nghi của chúng ta, khiến cho chúng ta phát khởi lòng tin; vừa khởi lòng tin thì có hy vọng vãng sanh. Nhưng tại sao không thể phá trừ cái ‘nghi’ này, để chúng ta phát khởi lòng tin?
 
Nói: Không biết Như Lai là Thật tướng thân, là Vị vật thân.
 
Do chúng ta không biết bản thân của Phật A-di-đà là Thật tướng thân và Vị vật thân.
 
Cũng chính là không biết nguyên lý, ngọn nguồn, đầu đuôi sanh khởi của câu danh hiệu này. Nếu như có thể biết được thì cái ‘nghi’ đó sẽ bị phá trừ, có được tín tâm.
 
Tại sao gọi là ‘Thật tướng thân’, tại sao gọi là ‘Vị vật thân’?
 
‘Thật tướng thân’: Cũng chính là Báo thân của Phật A-di-đà, thân thành Phật. Nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm,

* Trang 222 *
device

nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”, ‘Thật tướng thân’ này chính là thân tự lợi của Phật A-di-đà đã thành Phật. Tự bản thân Ngài đã thành Phật, đây gọi là ‘Thật tướng thân’. Nếu như vẫn chưa thành Phật thì họ vẫn là Bồ-tát. Đã là Bồ-tát thì chúng ta không thể mãn nguyện đoạn nghi. Nếu thành Phật thì nguyện vọng vãng sanh của chúng ta có thể đầy đủ. Tại sao vậy? Vì tư lương và công đức vãng sanh đều nằm ở trong câu danh hiệu này khi Phật A -di-đà thành Phật! Thế nên, một khi Phật A-di-đà thành Phật là Thật tướng thân, thì danh hiệu đó liền xuất hiện, mà bản thân danh hiệu có lòng tin của chúng ta, danh hiệu hiển hiện thì có thể phá trừ sự hoài nghi của chúng ta. Vì thế nói, ‘Thật tướng thân’ là thân tự lợi của Phật A-di-đà, cũng chính là ‘Chánh giác’ trong từ đã thành Chánh giác.
 
‘Vị vật thân’: ‘Vật’ chính là chúng sanh, ‘Vị vật thân’ là thân cứu độ chúng sanh. Sự tồn tại bản thân của Phật A-di- đà chính là muốn cứu độ chúng sanh trong mười phương. Nếu như không thể cứu độ chúng sanh trong mười phương thì Ngài không thể tồn tại, không thể thành Phật. Ngài đã thành Phật rồi, thì có thể cứu độ chúng sanh trong mười phương.
 
Do không hiểu Phật A-di-đà đã trở thành một vị Phật Thật tướng thân và Phật Vị vật thân này,

* Trang 223 *
device

cho nên tâm hoài nghi của chúng ta không thể Phật phá trừ.
 
Không biết Thật tướng thân và Vị vật thân, đây gọi là ‘hai điều không biết’(nhị bất tri).
 
Tam bất tín
 
Do ‘nhị bất tri’ thì hiển hiện ‘tam bất tín’, cũng chính là:
 
Thứ nhất: Tín tâm không thuần, lúc có lúc không.
 
Thứ hai: Tín tâm không chuyên nhất, không quyết định.
 
Thứ ba: Tín tâm không liên tục, có niệm khác xen vào.
 
Thứ nhất: Tín tâm không thuần. Cũng chính là nói, bạn đã không biết Phật A-di-đà thành Phật trở thành Phật Thật tướng thân và Vị vật thân; đã không biết như thế thì ‘tín’ này trong tâm của bạn cũng chẳng thuần. Chẳng thuần chính là không giống tình trạng ban đầu, đây gọi là ‘không thuần’.
 
‘Lúc có lúc không’: Có lúc cảm thấy không nắm vững, có lúc cảm thấy nắm vững.
 
‘Thuần’: Thông thường giải thích giống như một khối gỗ thô được vận chuyển từ trên núi

* Trang 224 *
device

xuống, chưa được chạm trổ, chưa có hình sắc, đây gọi là thuần. Cũng chính là, bi nguyện của Phật A-di-đà (Thật tướng thân) cứu độ chúng sanh (Vị vật thân), trong tâm của chúng ta vốn dĩ đã tiếp nhận mà không thêm sự tính toán và kiến giải của bản thân, sự suy lường của bản thân để tiến vào, tín tâm này gọi là thuần.
 
Vì thế nói, tín tâm thuần sẽ phá trừ nghi ngờ vĩnh viễn. Nếu tín tâm không thuần thì vẫn còn nghi.
 
Thứ hai: Tín tâm không chuyên nhất. Phật A-di-đà cứu độ chúng ta bằng cách này (chỉ cần chuyên xưng danh, nguyện sanh về Tịnh Độ, liền được vãng sanh), chúng ta luôn không thừa nhận như thế, mà cho rằng: ‘Tuy Phật A-di-đà muốn cứu độ ta, nhưng ta cần phải như thế này, phải như thế kia mới được cứu’, hoặc là ‘Tuy có thế giới Cực Lạc, có Phật A-di-đà, nhưng ta muốn vãng sanh thì đâu có dễ? Ta muốn tích lũy cái này một chút, tích lũy cái kia một chút, tu cái này, tu cái kia (Chú: Trừ niệm Phật tu hành ra), mới có thể vãng sanh’, đây là không chuyên nhất.
 
Bởi vì không chuyên nhất, tâm luôn dao động, ‘chuyên tu niệm Phật sợ không được mà cần phải như thế này như thế kia’, mãi mãi không quyết định. Đều ở trong tình trạng ‘có lẽ như thế này, có lẽ như thế kia, thêm cái này, thêm cái kia’, rất

* Trang 225 *
device

nhiều dạng, không có tính quyết định, đây chính là ‘tín tâm không chuyên nhất’.
 
Thứ ba: Tín tâm không liên tục. Đã không chuyên nhất thì không thể luôn luôn ở trong một tình trạng, cho nên không liên tục. Lúc phiền não đến thì bị chao đảo. Hoặc người ta nói pháp môn khác rất thù thắng, liền chuyển qua pháp môn khác. Không thường tin nhận Phật A-di-đà, xưng niệm danh hiệu, không thể vĩnh hằng bất biến, duy trì lâu dài.
 
Tín tâm và xưng danh phải nhất trí
 
Do có ‘nhị bất tri’, cho nên có ‘tam bất tín’. Nếu như ‘nhị tri’ thì chính là ‘tam tín’.
 
‘Tam tín’, giải thích theo ba góc độ, thật ra ‘tam tín’ chính là tín tâm, vì thế xưng danh niệm Phật chân chính nằm ở đâu? Nằm ở chỗ tín tâm. Bạn có tín tâm này thì tự nhiên sẽ xưng danh, loại xưng danh này chính là tu hành chân thật, chân thật xưng danh. Nếu như không có tín tâm này, thì chẳng phải chân thật xưng danh.
 
Chẳng qua đây là nói theo phương diện của chúng ta. Nếu nói theo bản thân của Phật A-di-đà thì Ngài cứu độ mười phương chúng sanh, bất kể bạn biết hay không biết, tin hay không tin, Ngài đều muốn cứu độ. Chỉ sợ không biết, không tin cho nên chạy đi; nếu như không chạy đi, sẽ vĩnh viễn ở đây, chính là nói mãi mãi xưng niệm câu danh hiệu

* Trang 226 *
device

này không thay đổi thì nhất định được vãng sanh. Bởi vì bất tri bất giác tin cũng ở trong danh hiệu, tự nhiên câu danh hiệu này vận hành ở trong đó.
 
Ở phần trước, Tổ sư Đàm Loan một mặt nói: ‘Người nguyện vãng sanh thì được vãng sanh’, mặt khác lại nói ‘phải có tam tín thì mới có thể chân thật tu hành’, như thế chẳng phải mâu thuẫn sao? Kỳ thật, không mâu thuẫn. Người suốt đời đều giữ vững tâm nguyện vãng sanh, người suốt đời giữ vững việc xưng danh niệm Phật, tín tâm tự nhiên cũng nằm trong đó rồi, nếu không thì đâu được như vậy? Nếu người có thể làm được như vậy, cho thấy thiện căn đời trước của anh ta đã thành thục, thì tự nhiên tín tâm nằm ngay ở trong đó.
 
Phật
 
Thật tướng thân - tự lợi - không
 
 
Tín tâm
 
 
 
 
 
thành Phật - đã thành Phật.
 
 
 
 
 
 
 
 
thuần
 
A-di-đà
Vị vật thân-lợi tha - nếu không
 
 
 
- tương tục
 
 
 
 
sanh - xưng niệm ắt sanh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ân cần phó chúc
 
Tốt rồi, chúng ta lại trở lại điểm ban đầu. Vừa giảng đại ý của Vãng sanh luận chú phần mở đầu và phần cuối cùng, thật ra phần mở đầu và phần cuối có mối quan hệ mật thiết với nhau, bản chất là một. Vì thế, phần sau cuối, Tổ sư Đàm Loan khuyên bảo chúng ta rằng:

* Trang 227 *
device

Ngu thay! Người học sau này, nghe tha lực có thể nương vào, phải phát khởi lòng tin, chớ ỷ vào tài năng của mình.
 
Giống như kinh Vô Lượng Thọ, khi Đức Phật Thích-ca-mâu-ni giảng xong, thì Ngài đem pháp môn niệm Phật phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc:
 
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc: Nếu có người nào nghe danh hiệu của Phật A-di-đà liền hớn hở vui mừng, cho đến một niệm, nên biết người này được lợi ích rất lớn là đầy đủ công đức vô thượng.
 
Đem pháp môn niệm Phật có lợi ích lớn, là đầy đủ công đức vô thượng này phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc, muốn ngài truyền thừa, bởi vì Bồ-tát Di-lặc tương lai sẽ thành Phật. Ngài tương lai thành Phật, cuối cùng vẫn phải tuyên giảng pháp môn này, cho nên phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc.
 
Cũng giống kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đem ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ phó chúc cho tôn giả A-nan, yêu cầu ngài truyền thừa:
 
Phật bảo A-nan: Ông hãy thọ trì lời này, thọ trì lời này tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ.
 
Trì danh chứ không quán tượng Phật hoặc quán thân Phật.

* Trang 228 *
device

 
Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ