LOGO VNBET
III. GIẢI THÍCH NHỮNG HOÀI NGHI 
THÔNG THƯỜNG
 
20. Hỏi: Xin hỏi Pháp sư, nhiều người học Phật rất quan tâm đến vấn đề nhân quả báo ứng, như vậy người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì tình huống nhân quả báo ứng của anh ta như thế nào?
 
Đáp: Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là người có đủ ‘Cơ tin sâu’ và ‘Pháp tin sâu’.
 
Đầy đủ ‘Cơ tin sâu’ là thể ngộ được: Tự mình là phàm phu sanh tử tội ác sâu nặng, nếu dựa vào sự tu hành của mình thì không thể giải thoát sanh tử luân hồi của bản thân, không thể trả hết nghiệp chướng của mình, thì nhất định sẽ đọa vào địa ngục. Sự thể ngộ này gọi là ‘Cơ tin sâu’.
 
‘Pháp tin sâu’ là thể ngộ được: Hạng chúng sanh tội ác sâu nặng như chúng ta đây, chỉ cần xưng danh thì nhất định được vãng sanh, liền nghe và tin nhận sự cứu độ vô điều kiện của Phật A-di-đà, lập tức quyết định vãng sanh. Đây gọi là ‘Pháp tin sâu’. Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh’.
 
Người có hai loại quyết định tin sâu này thì nhân quả của họ như thế nào?

* Trang 284 *
device

Phật pháp được xây dựng trên nền tảng nhân quả, bất cứ pháp môn nào đi nữa cũng đều không thể trái với giáo lý nhân quả.
 
Nhưng môn tự lực (tức là Thánh Đạo môn) là ‘nhân nào quả nấy’. Tức là những gì mình làm thì mình sẽ nhận lấy: Mình tạo nhân thiện thì mình sẽ nhận quả an vui; mình gieo nhân ác thì mình nhận lấy quả khổ, đây gọi là ‘nhân nào quả nấy, tự làm tự nhận’, thiện có thiện báo, ác có ác báo, tự mình gánh lấy.
 
Pháp môn Tịnh Độ tha lực không phải như vậy, mà là ‘mình làm Phật nhận’. Chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, tự mình mắc nhiều món nợ như giết người, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời độc ác, tội ngũ nghịch và thập ác, chúng ta không thể trả nổi, cho nên thường bị luân hồi chịu khổ. Đức Phật A-di-đà mở lòng từ bi thương xót chúng ta, gánh vác cho chúng ta, tích lũy công đức cho chúng ta, trả nợ thay chúng ta, cho nên nói ‘mình làm Phật nhận’. Quả báo tội nghiệp của chúng ta, Đức Phật A-di-đà gánh vác thay chúng ta, trả nợ thay chúng ta. Công đức mà Đức Phật A-di-đà tạo ra là để cho chúng ta thọ hưởng, sở hữu. Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ nói:
 
Gánh vác quần sanh
Gánh nặng cho họ.

* Trang 285 *
device

Đức Phật A-di-đà gánh vác gánh nặng của chúng ta trên vai, gánh nặng của chúng ta trở thành gánh nặng của Ngài. Ngài muốn đi gánh vác, muốn đi trả nợ, cho nên nói ‘gánh vác quần sanh, gánh nặng cho họ’. Lại nói:
 
Khai pháp tạng cho chúng
Thí khắp công đức báu.
 
Vì chúng sanh trong mười phương mà Ngài hoàn thành ‘pháp tạng’ có thể lìa sáu đường, vãng sanh về Cực Lạc, cũng chính là sáu chữ danh hiệu, cho nên nói ‘khai pháp tạng cho chúng’, ban bố rộng rãi báu công đức của sáu chữ danh hiệu này, hơn nữa:
 
Thường ở trong đại chúng
Nói pháp Sư tử hống.
 
Thường ở trong thế giới mười phương tuyên dương pháp môn cứu độ của sáu chữ danh hiệu này, cho nên gọi là ‘mình tạo Phật nhận’.
 
Pháp môn Tịnh Độ vẫn nằm trong nhân quả.
 
Như vậy, người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà phải chăng dương dương tự đắc, cao ngạo đối với người khác? Không thể như vậy! Bởi vì, chúng ta đã biết có thiện ác báo ứng, cho nên mới bỏ ác tu thiện. Nhưng bởi vì chúng ta không đủ sức để bỏ điều ác, không thể làm điều thiện, nên mới nhận được sự cứu độ của Phật A-di-đà.

* Trang 286 *
device

Vì thế, chúng ta có được quan niệm nhân quả, quan niệm thiện ác, sẽ không làm càn làm bậy, ngược lại, biết được Phật A-di-đà có lòng bao dung, tha thứ chúng ta, chúng ta tiếp nhận sự bao dung, tha thứ to lớn. Dù chúng ta không có sự bao dung, tha thứ to lớn, nhưng cũng sẽ tha thứ và bao dung người khác. Bởi vì, người như chúng ta đây không thể được tha thứ, không thể được bao dung, không thể thoát ly sáu nẻo luân hồi, nhưng Phật A-di-đà vẫn đến bao dung và tha thứ chúng ta, dù sao đi nữa chúng ta cũng nên bao dung và tha thứ người khác.
 
Đồng thời, Phật A-di-đà ban cho chúng ta sinh mạng, sinh mạng này không chỉ là sinh mạng thoát ly sáu nẻo luân hồi, mà còn là sinh mạng Vô lượng thọ, có đủ Vô lượng thọ và Vô lượng quang giống với Đức Phật A-di-đà, trí huệ cao minh như nhau, thần thông thấu suốt như nhau, nguyện lực vô lượng vô biên như nhau, có thể nói không chỉ đạt được trong đời này mà còn được sinh mạng vĩnh hằng mãi mãi. Đồng thời, Phật A-di-đà đem thế giới Cực Lạc ban tặng cho chúng ta một cách vô điều kiện, miễn phí. Thế thì, chúng ta tiếp nhận sự ban tặng này rồi cũng đem bố thí cho người khác. Nếu người khác có yêu cầu, chúng ta chủ động nói pháp cho họ nghe, giống như Phật A-di-đà chủ động đến vì chúng ta, mà chẳng cần chúng

* Trang 287 *
device

ta yêu cầu, vái lạy… đây đều là tâm từ bi của Phật A-di-đà. Chúng ta lãnh thọ bi tâm của Phật A-di-đà, bi tâm của Ngài tiêm nhiễm, phát khởi trong tâm chúng ta. Tại sao chúng ta biết mà lại kiêu ngạo đối với người khác, không đồng tình với đối phương mà lại keo kiệt? Mà lại mặc ý làm càn làm bậy, tự ý buông lung?
 
Đồng thời, nói theo lập trường của Phật, Phật cứu độ chúng ta là thương xót chúng ta không có năng lực giải thoát, nhưng trong tâm của Phật vẫn hy vọng chúng ta siêng năng giữ giới cho tốt, làm người trọn tình trọn nghĩa ở thế gian, làm người tuân thủ giới luật trong Phật giáo.
 
Cũng như cha mẹ yêu quí con cái, bất kể con cái thông minh hay ngu dốt, tình thương của cha mẹ đều thương yêu bình đẳng. Dù con cái phạm tội bên ngoài, thậm chí phạm phải tội ác tày trời, nếu cha mẹ giàu có, lại có địa vị, thì cha mẹ sẽ dùng của cải và địa vị của mình để giải quyết tội ác ấy. Đứa con sẽ bình an trở về, như vậy lẽ nào nó lại cho rằng: ‘Dù ta tạo tội ác tày trời những vẫn được bình an, cho nên ta cứ mặc sức tái phạm, chẳng sao cả’. Nó có nghĩ như thế không? Không thể! Cha mẹ đương nhiên là rất yêu quý đứa con này, nhưng trong tâm cha mẹ hy vọng nó đường đường chính chính có chỗ đứng trong xã hội, làm người có đạo đức, tuân thủ pháp luật. Nếu đứa con hiếu

* Trang 288 *
device

kính cha mẹ thì sẽ thuận theo tâm ý của cha mẹ.
 
Bởi thế, người hiểu được điều này thì sẽ không nói: ‘Ta đạt được rồi, các bạn chưa đạt được’, cao ngạo với đối phương, sau đó căn tính hung ác, xấu xa của mình vốn có thể thay đổi, mà lại không muốn thay đổi, thậm chí càng phóng túng hơn. Nếu buông thả theo ác nghiệp như vậy, thì sẽ không hiểu được hai loại tin sâu Cơ và Pháp.
 
Pháp môn Tịnh Độ vốn đứng trên quan niệm về tội ác, hiểu rõ có thiện ác báo ứng, từ đó sẽ cẩn thận đối với các việc ác.
 
21. Hỏi: Nhiều người không hiểu rõ vấn đề phát nguyện và hồi hướng, xin Pháp sư khai thị cho.
 
Đáp: Pháp môn Tịnh Độ không nói chúng ta hồi hướng cho Phật A-di-đà, mà Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta. Ngài đem công đức chân thật của Ngài hồi hướng cho chúng ta, khiến chúng ta lìa khỏi sự luân hồi nơi thế giới Ta-bà, khiến cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đạt đến sự chân thật - thành Phật.
 
Một mặt, bởi vì chúng ta không có công đức chân thật, chúng ta tu hành đều là thiện hữu lậu, thiện tạp nhạp, hạnh giả dối, hạnh không chân thật, và không tương ưng với cảnh giới chân thật Niết-bàn của Phật A-di-đà, cho nên không thể có công đức để hồi hướng---đã không thể thì cũng không

* Trang 289 *
device

cần: Chúng ta không thể tu tập được công đức chân thật, cho nên không thể; đồng thời công đức chân thật của Phật A-di-đà đã hoàn thành, cho nên không cần. Đây không cần riêng lẻ hồi hướng, cũng chẳng cần riêng biệt phát nguyện--- Sở dĩ chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là vì có tâm nguyện sanh. Nói theo quan điểm tâm nguyện sanh này, nó thuộc về nội hàm của sự phát nguyện. Loại nội hàm này vốn đã đầy đủ, cho nên không cần mỗi ngày đều phát nguyện. Chỉ nói, nếu lúc chúng ta hành trì thời khóa sáng tối, thì sau cùng phải tụng một biến ‘văn Phát nguyện’. ‘Văn Phát nguyện’ này chính là ‘kệ Hồi hướng’. Đằng sau mỗi cuốn kinh, chúng ta đều thấy có một bài ‘kệ Hồi hướng’ của Đại sư Thiện Đạo. ‘Kệ Hồi hướng’ này không giống với bài kệ Phát nguyện hồi hướng thông thường, bài kệ này là:
 
Nguyện đem công đức này
Bình đẳng thí tất cả
Cùng phát tâm bồ-đề
Vãng sanh nước An Lạc.
 
Bài ‘kệ Hồi hướng’ này hoàn toàn là Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta.
 
‘Nguyện đem công đức này’: Là chỉ cho bi nguyện của Phật A-di-đà, đem công đức mà Ngài tích lũy.
 
‘Bình đẳng thí tất cả’: Bình đẳng bố thí cho tất

* Trang 290 *
device

cả chúng sanh trong mười phương.
 
‘Cùng phát tâm bồ-đề’: ‘Tâm bồ-đề’ là tâm thành Phật, mà vãng sanh thì có thể thành Phật, cho nên tâm nguyện vãng sanh Tịnh Độ chính là tâm bồ-đề của pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ không cần phải phát tâm bồ-đề nào khác nữa, nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A -di-đà, chuyển đổi tâm ý nguyện vãng sanh, tâm này là tâm bồ-đề của chúng ta.
 
‘Vãng sanh nước An Lạc’: Khiến cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc là cõi nước an ổn, an lạc, không có sáu nẻo luân hồi ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’, cho nên nói là ‘cõi nước An Lạc’.
 
Sau thời khóa sáng tối, chúng ta tụng bài kệ này, ngoài ra không cần phải tụng văn hồi hướng, cũng không cần phát nguyện vãng sanh. Chúng ta đã có nguyện này, thì sẽ vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Chúng ta lãnh thọ sự từ bi của Phật A-di-đà, không cần lúc nào cũng nhắc lại bảo mình rằng: ‘Ta phải như vậy, ta phải như vậy!’. Nếu như thế, chứng tỏ chúng ta vẫn còn ở giai đoạn đầu, vẫn chưa lãnh nhận được sự từ bi của Phật A-di-đà.
 
Lãnh nhận sự từ bi của Phật A-di-đà là tin Cơ và tin Pháp.
 
Tin Cơ và tin Pháp là tin rất sâu sắc, gọi là ‘tin

* Trang 291 *
device

sâu’, tin sâu là niềm tin có tính quyết định.
 
Vì thế, Đại sư Thiện Đạo mới nói: “Một là ‘Quyết định tin sâu’. Hai là ‘Quyết định tin sâu’ .
 
Tin, tức là tin sâu, hơn nữa mang tính quyết định. Đã quyết định thì mãi mãi quyết định. Về phương diện Cơ, đã quyết định tin sâu bản thân mình là phàm phu tội ác sanh tử, không có duyên ra khỏi luân hồi, cho nên mới ‘không nghi ngờ, không lo nghĩ, nếu nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh’, như vậy đã đầy đủ ba món tư lương tín- nguyện- hạnh.
 
Bạn chỉ cần luôn luôn xưng danh, trong mỗi niệm đã có phát nguyện, đã có hồi hướng rồi. Vì thế, trong mỗi câu danh hiệu đều lưu xuất công đức mà Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta, kêu gọi chúng ta để Ngài cứu độ, đều thể hiện bản thân mình tùy thuận và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, lãnh thọ công đức của Ngài, nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, mỗi tiếng danh hiệu đều biểu đạt tâm này, cho nên nói ‘một niệm tương ưng với một niệm Phật, niệm niệm tương ưng với niệm niệm Phật’.
 
Thông thường phải hồi hướng cho Long thiên hộ pháp, phải hồi hướng cái gì? Thật ra, trong mỗi niệm xưng danh, không cầu mong, cũng chẳng cần biết, mà tự nhiên có công năng đó. Không

* Trang 292 *
device

cần chúng ta phải hồi hướng mà Long thiên hộ pháp tự nhiên đến hộ trì cho chúng ta, bảo vệ chúng ta.
 
Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ là: Chỉ cần chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, tự nhiên sẽ là ‘trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ tam đồ’. Người học Phật chúng ta không thể quên ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia, ân chúng sanh, muốn báo đền bốn ân này thì chỉ có xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bạn không cần biết, chẳng cần cầu mà tự nhiên có thể siêu độ tổ tiên, có thể bảo hộ được con cháu. Dù chúng ta không nghĩ đến việc báo đáp hay không, nhưng nhờ vào Phật lực mà tự nhiên sẽ có công năng báo đáp.
 
22. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, niệm Phật có cách niệm bốn chữ và cách niệm sáu chữ, như vậy chúng ta nên niệm theo cách nào?
 
Đáp: Tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chấp trì hai chữ, hoặc bốn chữ, hoặc sáu chữ, đều không lìa sự cứu độ của Phật A-di-đà, bởi vì sự cứu độ của Phật A-di-đà không nói số chữ nhiều ít. Đồng thời, nói theo bản thân của Phật A-di-đà, thì hai chữ cũng là bản thân của Ngài, bốn chữ cũng là bản thân của Ngài, sáu chữ cũng là bản thân của Ngài, đều bao hàm lẫn nhau.

* Trang 293 *
device

Nhưng nếu chúng ta xưng niệm thì nên xưng niệm sáu chữ---‘Nam-mô A-di-đà Phật’ là tương đối hoàn chỉnh. Tại sao vậy? Bởi vì hợp với bản nguyện thứ 18.
 
Nguyện thứ 18 nói ‘chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi’, đây chính là tín-nguyện, cũng chính là ‘Nam-mô’; ‘cho đến mười niệm’---đây là bốn chữ, cũng chính là ‘A-di-đà Phật’. Vì thế, bản thân nguyện thứ 18 chính là tín - nguyện - hạnh, là ‘Nam-mô’, là ‘A-di-đà Phật’.
 
‘Nam-mô’ là chỉ cho chúng sanh chúng ta, ‘A-di-đà Phật’ là chỉ cho bản thân cứu độ. Bởi thế, trong đại nguyện thứ 18 có nói: “Chúng sanh trong mười phương, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”. Vì thế, chúng sanh trong mười phương là ‘Nam-mô’, và ‘A-di-đà Phật’ đã thành Chánh giác, cùng thành một thể trong nguyện thứ 18.
 
Bởi thế, chúng ta xưng niệm sáu chữ danh hiệu này thì phù hợp với bản nguyện thứ 18, mang tính hoàn chỉnh.
 
Đồng thời, Đại sư Thiện Đạo cũng giải thích: ‘Nam-mô’ là tín và nguyện, ‘A-di-đà Phật’ là công đức của tín-nguyện. Theo lời giải thích này, chúng ta nên xưng niệm sáu chữ danh hiệu.
 
Trong tình huống nào đó, nếu sáu chữ danh

* Trang 294 *
device

xưng niệm không hoàn chỉnh, đương nhiên cũng không lìa nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà, bởi vì nó dung thông lẫn nhau. Trong trạng thái nào đó, nếu muốn xưng danh mà cảm thấy sáu chữ danh hiệu không thuận tiện thì xưng niệm bốn chữ, hai chữ cũng được. Thậm chí không xưng danh trong trạng thái tâm lý lúc đó cũng được. Bởi vì, không lìa ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ. Cho nên, trong tác phẩm An lạc tập1, Thiền sư Đạo Xước dẫn lời kinh Phật nói: “Một người lâm chung, ngay lúc lâm chung không thể niệm Phật, nhưng biết có thế giới Cực Lạc, có sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì chúng sanh ấy vẫn vãng sanh Cực Lạc”.
 
Có người lâm chung niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, niệm được chữ ‘Nam’, chưa niệm ra chữ phía sau, họ cũng được vãng sanh. Có người lúc lâm chung nguy cấp niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, mới niệm được tiếng ‘A’, chưa niệm được ba chữ phía sau, liền gặp dữ hóa lành. Cho nên hai chữ, bốn chữ đều là bản thân của Phật A-di-đà. Bởi lúc bạn còn chưa niệm, Đức Phật A-di-đà đã biết rồi,
________________________
1 An lạc tập 安樂集: Tác phẩm có 2 quyển, do ngài Đạo Xước soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Nội dung sách này gồm 12 môn, chia giáo pháp của Đức Phật làm Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn. Vì Tịnh Độ môn thích ứng với chúng sanh độn căn ở đời mạt pháp, nên soạn giả đề xuất pháp môn niệm Phật.

* Trang 295 *
device

‘tuy miệng chưa nói mà Phật đã biết’, khi chúng ta chưa yêu cầu thì Phật đã chuẩn bị cho chúng ta rồi, khi chúng ta chưa biết thì Ngài đã tặng cho chúng ta rồi.
 
Ở Đài Loan, chào hỏi mọi người, hoặc là điện thoại, thường dùng bốn chữ. Bởi vì ở Đài Loan, chào hỏi hoặc điện thoại cũng đều niệm bốn chữ, rất bình thường, cho nên tôi cũng niệm bốn chữ theo thói quen của người bình thường. Nhưng, tự bản thân tôi niệm sáu chữ, lúc tĩnh tọa hay đi đường niệm Phật, cũng niệm sáu chữ.
 
Nhưng, bản thân hai chữ ‘Di-đà’ là sáu chữ, bốn chữ cũng là sáu chữ, hai chữ, bốn chữ đều là bản thân của Di-đà, điều này không thể nghĩ bàn.
 
Nêu ra một ví dụ rằng: Trước đây có một Sư phụ tên là Pháp Lệ, Sư rất nghèo, lúc Sư muốn xây dựng một tinh xá, nhưng thiếu cỏ tranh, nghe nói trên núi có người, Sư bèn đến hóa duyên, muốn có một xe cỏ tranh. Lúc về nhà đi đến nửa đường, Sư rất mệt mới nằm ngủ ở trên xe, gần đó xảy ra hỏa hoạn, xe của Sư thuận theo chiều gió, nên lửa đã cháy đến, lúc tỉnh dậy, đã không còn kịp nữa, bởi vì lúc bình thường Sư niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, Sư khẩn trương niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Vừa niệm ra chữ ‘Quán’ thì lửa liền tắt.
 
Chúng ta hiểu Bồ-tát Quán Thế Âm hiển hiện

* Trang 296 *
device

lòng từ bi của Phật A-di-đà. Bồ -tát Quán Thế Âm tồn tại là muốn cứu khổ cứu nạn, nhưng có thể cứu khổ cứu nạn một cách tuyệt đối, thì phải tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Vì thế, Bồ-tát Quán Thế Âm tồn tại cũng chính là phương tiện dẫn dắt chúng ta xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, để Phật A- di-đà cứu độ. Nếu không như vậy, Bồ-tát Quán Thế Âm từ đời này qua đời khác, nghe tiếng kêu khổ của chúng ta mà cứu khổ cứu nạn, như thế thì không triệt để. Chúng ta nên biết: Bồ -tát Quán Thế Âm là thể hiện lòng từ bi của Phật A- di- đà. Sau khi hiểu về sự cảm ứng này, chúng ta sẽ không thay đổi niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.
 
23. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, dù hiện tại chúng ta được Phật A-di-đà cứu độ, thế thì hiện tại chúng ta rốt cuộc là phàm phu hay thánh nhân?
 
Đáp: Hiện tại chúng ta vẫn là phàm phu. Nhưng nói phàm phu có tư cách của địa vị Bồ-tát, cổ đức nói ‘phàm phu phẩm cách Bồ-tát’.
 
Bởi vì, chúng ta tuy tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, nhưng vẫn còn tham sân si, thậm chí vẫn còn ý tưởng thấp kém ích kỷ. Nhưng hạng chúng sanh này chẳng phải là chúng sanh luân hồi trong sáu đường, mà có một phần ở thế giới Cực Lạc, cho nên nói là ‘chánh định tụ’, ‘tụ’ này là thánh

* Trang 297 *
device

chúng của Cực Lạc. Chúng ta đã nhất định tiến vào trong thánh chúng đó, cho nên nói ‘liền nhập vào chánh định tụ’. Thánh chúng ở Cực Lạc nhất định thành Phật, cho nên chánh định tụ cũng là nhất định thành Phật. Chúng sanh đó gọi là chúng sanh chánh định tụ, cho nên nói theo phẩm vị thì chúng ta chẳng phải là hạng phàm phu.
 
Nhưng một ngày tồn tại của nhục thể chính là một ngày tồn tại của phàm phu. Vì thế, chúng ta không được kiêu mạn nói: “Ta là Bồ-tát”.
 
Chúng ta là phàm phu thì khó tránh khỏi tâm kiêu mạn, lúc này phải làm thế nào? Vẫn niệm Phật, người ta nói ‘mỗi niệm xưng danh thường sám hối’.
 
Có người khi viết tên mình, đều viết ‘thường sám hối’, ‘thường hổ thẹn việc gì đó’ hoặc là ‘hổ thẹn với ai đó’, nói một cách đàng hoàng, thật ra chúng ta chẳng biết hổ thẹn, để có thể nói ‘thường hổ thẹn’. Đại sư Ấn Quang có đủ tư cách, ngài có căn tính của vị Tổ sư. Nhưng chúng ta không có căn tính đó, cho nên chúng ta phải có sự hiểu biết này. Nếu không như thế, sẽ tùy tiện xưng phàm phu là thánh nhân.
 
24. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà nhất định được vãng sanh. Như vậy, hiện tại là phàm phu, sau này vãng sanh về

* Trang 298 *
device

cõi Phàm thánh đồng cư, hay là đến Thường tịch quang Tịnh Độ của Phật ?
 
Đáp: Đại sư Thiện Đạo nói là Báo độ, thế giới Cực Lạc là Báo độ.
 
Nói về Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo trang nghiêm độ, Thường tịch quang Tịnh Độ, thảy đều không phải sự giải thích của tông Tịnh Độ, đó là căn cứ theo giáo pháp của tông Thiên Thai để giải thích về thế giới Cực Lạc. Cách giải thích này hoàn toàn sai lầm, thế giới Cực Lạc chẳng phải là cõi nước như vậy, mà là Báo độ. Báo độ là cõi nước của Phật A-di-đà đã phát nguyện tu thành tựu, nên gọi là Báo độ. Vì thế, chúng ta đến đó sẽ được quả báo của Phật A-di-đà, quả báo của Phật A-di-đà là Vô lượng quang, chúng ta cũng là Vô lượng quang; quả báo của Phật A-di-đà là Vô lượng thọ, chúng ta cũng là Vô lượng thọ; quả báo của Phật A-di-đà là ba mươi hai tướng, chúng ta cũng có ba mươi hai tướng, đều giống với Phật A-di-đà, đấy chính là Báo độ. Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ vừa đơn giản mà công đức lại thù thắng.
 
Vì vậy, gặp được pháp môn này, chúng ta nên cảm thấy rất vui mừng (đương nhiên cũng không cần nhấn mạnh rất vui mừng, thực sự hiểu rõ, tự nhiên sẽ rất vui mừng), mà nghĩ đến phải báo ân

* Trang 299 *
device

Phật. Bởi vì, pháp môn này và học thuyết của nó là ‘chúng ta tin’, chi bằng nói là ‘để chúng ta tin’. Chúng ta không có sức để tin, chính là không có tự lực. Sau khi nghe lòng từ bi của Phật A -di-đà dung nạp vào trong tâm, nương vào lòng từ bi của Ngài, trở thành niềm tin của chúng ta.
 
Cũng giống như trăng sáng trên bầu trời, chiếu xuống mặt nước các ao hồ. Nước trong ao hồ này, bạn nói nước nhận lấy trăng sáng, hay ánh trăng hòa vào ao hồ?
 
Đương nhiên, nếu không có nước thì cũng không có ánh trăng. Nếu như không có tâm chúng ta, dù Phật A-di-đà có lòng từ bi cũng không thể vào được. Nhưng nguồn gốc của tín tâm thật sự đến từ bên ngoài, đó là bản thân Phật A -di-đà. Ngài tu hành trong mười kiếp, đang kêu gọi chúng ta, Ngài khiến chư Phật trong mười phương đều khen ngợi danh hiệu Ngài, vì mục đích muốn phá vỡ tâm hoài nghi của chúng ta, đưa công đức này vào tâm chúng ta. Vì thế, lòng từ bi của Ngài làm xúc động tâm chúng ta, khiến chúng ta ngay lập tức có tín tâm, điều này không thể không tin---
 
không cần nói đến tin hay không tin, ngay lúc đó chính là tin, cho nên ‘tín’ cũng chính là miêu tả trạng thái này. Thật ra, trạng thái đó là trạng thái đó, như thế là như thế.

* Trang 300 *
device

25. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, ‘mười niệm vãng sanh trong phần Hạ phẩm hạ sanh của Quán kinh là thuộc về niệm Phật trong phần Tán thiện, như vậy vãng sanh đến thế giới Cực Lạc là chứng Niết-bàn, hay là xem nghĩa hiển của nó trong thai hoa sen?
 
Đáp: Vãng sanh về ‘Hạ phẩm hạ sanh’ ở mười hai đại kiếp trong hoa sen, hay hoa nở liền thấy Phật, ngộ Vô sanh nhẫn? Nó có nghĩa hiển và nghĩa ẩn.
 
Nghĩa hiển là trong mười hai đại kiếp, nghĩa ẩn là hoa nở liền thấy Phật ngộ Vô sanh nhẫn, giống với người khác. Nhưng tại sao trong đây phải nói mười hai đại kiếp? Bởi vì, họ là người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, nếu họ không phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp sẽ không nói mười hai đại kiếp.
 
Chúng ta dùng đoạn văn này để chứng minh ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp’ của nguyện thứ 18, tại sao nói ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’? Bởi vì, họ không phải mắc tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, nên không thêm vào ‘chỉ trừ’.
 
Chúng sanh trong mười phương thuộc loại căn cơ nào? Có bao gồm cả tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp không? Bản thân chúng sanh trong mười phương bao gồm cả tội ngũ nghịch và phỉ

* Trang 301 *
device

báng chánh pháp, thế giới Cực Lạc có thể khiến cho người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp cũng đến đó thành Phật. Cho nên nói theo nghĩa ẩn thì mười hai đại kiếp và chỉ trừ tội ngũ nghịch, hủy báng chánh pháp là như nhau, đó là hàm nghĩa nào? Có ba hàm nghĩa:
 
Một là, bởi vì người phạm tội ngũ nghịch rất nặng, cho nên nói ‘chỉ trừ’. ‘Mười hai đại kiếp’ nghiêm túc cho chúng ta biết rằng, tội nghiệp này rất nặng không nên làm! Nhưng chúng ta vẫn cứ phạm, vậy nếu phạm thì phải làm sao?
 
Cuối cùng nói: Dù phạm tội ngũ nghịch mà hồi tâm niệm Phật cũng được vãng sanh, giống như chúng sanh ở Hạ phẩm hạ sanh, cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc, sẽ lập tức đoạn tuyệt luân hồi sáu nẻo.
 
Tuy ở phần Hạ phẩm hạ sanh có nói đến tội ngũ nghịch, không nói đến tội phỉ báng chánh pháp, nhưng trong ngũ nghịch có phỉ báng chánh pháp, bởi vì trong ngũ nghịch thì có tội giết A-la-hán1, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu,
___________________
1 A-la-hán 阿 羅 漢 Hd: Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sanh, Vô sanh, Vô học, Chân nhân. Cg: A-lô-hán, A-la-ha, A-lê-ha. Bậc Thánh đã đoạn hết kiến hoặc, tư hoặc trong ba cõi, chứng được Tận trí, xứng đáng nhận tất cả sự cúng dường của thế gian, 1 trong 4 quả Thanh văn, 1 trong 10 đức hiệu của Như Lai.

* Trang 302 *
device

đấy là phỉ báng. Vì thế, hàm nghĩa khác là, cần cứu độ hạng chúng sanh này.
 
Lại có hàm nghĩa nữa, nói: Bản tính của chúng sanh mười phương là chúng sanh nào? Chính là chúng sanh có căn tính ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, sẽ tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp, dùng tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp để chỉ cho chúng sanh mười phương.
 
Có người nghi ngờ rằng: “Chỉ có các vị Đại đức Tổ sư và hàng Bồ-tát mới có thể vãng sanh”, như thế chúng ta tự ti mình không có phần. Có phải như vậy không? Phật A-di-đà coi hạng chúng sanh có thể phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp như chúng ta đây là đối tượng cứu độ, như thế càng có thể cho thấy chúng sanh mười phương là hạng chúng sanh nào, cho nên phần sau thêm vào câu ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’.
 
Nói tổng quát về ba điểm này, tội ‘ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’ cho chúng ta biết rằng: Tất cả chúng sanh đều phải cứu độ, không có một chúng sanh nào không nằm trong phạm vi cứu độ cả.
 
Như vậy, nói theo nghĩa hiển thì có mười hai đại kiếp. Nói theo Báo độ của Phật A-di-đà thì không có mười hai đại kiếp. Rốt cuộc có mười hai đại kiếp hay không? Phải đến thế giới Cực Lạc mới

* Trang 303 *
device

biết được, chúng ta ở cõi này không thể biết được.
 
Nói theo bản chất thì không có mười hai đại kiếp, nhưng nếu nói không có mười hai đại kiếp, sẽ có người kiêu mạn, cho nên nói mười hai đại kiếp, như thế rốt cuộc là có hay không? Chúng ta không cần bàn luận nhiều về điểm này, đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ biết.
 
26. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, hiện tại con được tín tâm hoan hỷ, biết mình có thể vãng sanh, thích nghe người khác nói, cũng thích nói cho người khác nghe, nhưng có người nói: Bạn không chịu thọ giới Bồ-tát thì không thể nói cho người khác nghe. Không biết lúc chưa thọ giới Bồ-tát có thể nói cho mọi người nghe không?
 
Đáp: Bất kể thọ giới Bồ-tát hay không, thậm chí có qui y hay không, chỉ cần hiểu được lòng từ bi của Phật A-di-đà, thì có thể tùy duyên, tùy sức mà nói cho mọi người nghe, đem pháp hỷ của chúng ta cùng thụ hưởng với người khác, khiến cho ánh sáng cứu độ của Phật A-di-đà chiếu khắp thân họ.
 
Điều cần chú ý là: Chúng ta cũng phải hiểu căn cơ đối phương, biết cách nói như thế nào để đối phương tin nhận, bởi vì mục đích của chúng ta không phải để nói suông, mà để họ có thể tiến vào biển thệ nguyện của Phật A -di-đà, có thể tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Như thế, phương tiện

* Trang 304 *
device

thiện xảo là rất quan trọng, nói làm sao mới khiến họ tiếp nhận, đấy là điều chúng ta cần chú ý.
 
Mục đích của chúng ta là để đối phương tiếp nhận, chứ không phải vì danh lợi. Còn đối phương phê bình như thế nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn không bị chi phối.
 
Hơn nữa, trước hết chúng ta phải hiểu tính cách của đối phương, lúc nói mới không nảy sanh ra tranh luận, nếu không sẽ cãi vã giận dữ rồi đường ai nấy đi, như vậy sẽ không hiệu quả, mà trái lại còn kết thêm duyên xấu, cho nên trước hết phải hiểu rõ đối phương.
 
27. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, nghe nói Cơ cũng có ba loại: Có hắc cơ, ám cơ, bạch cơ, xin Sư phụ khai thị cụ thể một chút.
 
Đáp: ‘Hắc cơ’, chỉ cho bản tính mỗi người chúng ta, bất kể tin hay không, bản tính của chúng ta đều là tham sân si, dơ bẩn tối tăm, dù bạn có tẩy rửa như thế nào đi chăng nữa cũng không thể sạch được, chỉ đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ hóa giải. Đây là ‘hắc cơ’, ai cũng giống nhau.
 
‘Ám cơ’, chỉ cho người có tâm hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà. Trạng thái này là đen tối, vô minh, vì có hoài nghi. Đây là ‘ám cơ’.
 
‘Bạch cơ’, chỉ cho người tin nhận sự cứu độ của

* Trang 305 *
device

Phật A-di-đà. Bởi vì, họ nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tuy còn tối tăm, nhưng chỉ tạm thời, không phải vĩnh viễn, cho nên tâm tin thuận gọi là ‘bạch cơ’.
 
28. Hỏi: Có người căn cứ theo đoạn kinh văn ‘đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện’ trong kinh A-di-đà, khi niệm Phật, trước hết phát nguyện, sau đó hồi hướng, đồng thời còn hồi hướng cho Thiên long bát bộ1 và các nhà lãnh đạo các nước...
Đáp: Thật ra, không cần như vậy, mục đích niệm Phật của chúng ta là để vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đồng thời sáu chữ danh hiệu này đã đầy đủ tín-nguyện-hạnh, ngoài ra không cần dốc sức phát nguyện. Kinh A-di-đà nói: “Nếu có người đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện”. Đây chính là nói rõ nguyên tắc của người nguyện vãng sanh mà xưng danh hiệu thì nhất định được vãng sanh, hoàn toàn chẳng phải yêu cầu bạn hiện tại niệm Phật trước phải phát nguyện, đợi niệm Phật một chút rồi lại phải phát nguyện.
 
Phát nguyện hồi hướng, thì có người nói theo phương diện Phật, có người nói theo phương diện chúng ta.
____________________
1 Thiên long bát bộ 天龍八部 Cg: Bát bộ chúng. Tám bộ chúng thủ hộ Phật pháp: 1. Thiên, 2. Long, 3. Dạ-xoa, 4. A-tu-la, 5. Ca-lâu-la, 6. Càn-thát-bà, 7. Khẩn-na-la, 8. Ma-hầu-la-ca.

* Trang 306 *
device

Nói theo phương diện Phật: Lúc chúng ta không hay không biết, thậm chí tạo tội tạo nghiệp, không biết luân hồi về đâu thì Phật A-di-đà đã chủ động phát nguyện cho chúng ta, thành tựu thế giới Cực Lạc cho chúng ta, ban tặng thế giới Cực Lạc cho chúng ta. Cũng như cha mẹ ở thế gian phát nguyện, muốn hoàn thành việc gì đó cho con cái. Bởi thế, Phật A-di -đà phát 48 nguyện và hoàn thành thế giới Cực Lạc cho chúng ta, đồng thời đem tất cả công đức đúc kết trong sáu chữ danh hiệu, sau đó đem câu danh hiệu này hồi hướng cho chúng ta, trở thành công đức của chúng ta. Chữ ‘hồi hướng’ này có nghĩa là ban ân, ban cho.
 
Chúng ta chẳng có việc thiện, chẳng tu tập, cũng chẳng có công đức, Phật A-di-đà đem công đức sáu chữ danh hiệu hồi hướng cho chúng ta, khiến chúng ta có được công đức này, tự nhiên có đại thiện, đại tu hành, đại công đức, cho nên nói theo phương diện Phật A-di-đà thì Phật A-di-đà đem sáu chữ danh hiệu phát nguyện hồi hướng cho chúng ta.
 
Về phần chúng ta: Chúng ta được sự cứu độ của Phật A-di-đà, tùy thuận Ngài, nguyện sanh về Cực Lạc. Đây là trạng thái tùy thuận nguyện sanh. Đối với chúng ta thì sự hồi hướng phát nguyện của chúng ta đã có đủ trong sáu chữ hồng danh.

* Trang 307 *
device

Hồi hướng phát nguyện của Phật A-di-đà và hồi hướng phát nguyện của chúng ta đều đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu, cho nên tín-nguyện-hạnh đều đủ bên trong, bởi thế chúng ta không cần hồi hướng nữa.
 
Cho dù hồi hướng phát nguyện cũng không giống với hồi hướng phát nguyện của người bình thường. Hồi hướng phát nguyện của người bình thường là: Tự mình niệm Phật, tích lũy số lượng công phu niệm Phật mà hồi hướng cho Phật A-di-đà, hoặc tích lũy thiện hạnh và công đức khác đều hồi hướng đến thế giới Cực Lạc. Nếu như vậy chính là tự lực, không hiểu nguyên lý của câu danh hiệu này, không hiểu lòng từ bi của Phật A-di-đà, cũng giống như cầm dao đâm vào ngực của Phật A-di-đà, làm Ngài đau lòng. Bạn làm như vậy mà muốn vãng sanh thì rất khó khăn, phải hồi hướng mới có thể vãng sanh. Hơn nữa, không hiểu được lòng từ bi của Phật A-di-đà mà niệm danh hiệu, sẽ không cảm thông với Ngài. Như vậy, chúng ta vẫn niệm ‘kệ Hồi hướng’? Vẫn niệm ‘kệ Hồi hướng’. Vào thời công phu sáng tối, sau cùng niệm:
 
Nguyện đem công đức này
Bình đẳng thí tất cả
Cùng phát tâm bồ-đề
Vãng sanh nước An Lạc.

* Trang 308 *
device

Bài kệ này là do Đại sư Thiện Đạo làm, ý nghĩa là truyền bá sự hồi hướng của Phật A-di-đà.
 
29. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tâm phàm và tâm Phật của người niệm Phật trở thành một thể, liền được vãng sanh, vậy thì chúng ta tồn tại thân nhục thể có gọi Đới nghiệp vãng sanh1 không? Có phải trước lúc lâm chung, thân trung ấm không có? Còn có nỗi khổ về cái chết không?
 
Đáp: Phật A-di-đà tồn tại là để gánh vác tội nghiệp từ nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta, trả món nợ nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta. Phật A-di-đà đã phát nguyện, đức hạnh Bồ-tát được tích lũy từ nhiều kiếp nằm ở đâu? Chính là ở đây, công đức của Ngài, là muốn trả món nợ tội nghiệp của chúng ta. Nếu Ngài không thể trả món nợ mà chúng ta mắc nợ người ta, chúng ta làm sao có thể thoát khỏi cõi Ta-bà này? Bởi thế trước đây, Phật A-di-đà trước hết phải trả nợ cho chúng ta, lúc chúng ta tín nguyện xưng danh thì tội nghiệp nhiều đời nhiều kiếp được Phật A-di-đà trả thay.
 
Nếu nhục thể còn tồn tại thì tự nhiên có tham sân si, vẫn sẽ tạo nghiệp khác nữa. Nhưng các nghiệp
______________________
1 Đới nghiệp vãng sanh 帶業往生: Sau khi chết, mang túc nghiệp sanh qua cõi khác. Người tu pháp môn Tịnh Độ, đủ điều kiện nhân duyên thì lúc chết vãng sanh về Tịnh Độ, nhưng nghiệp ác, bất tịnh, đời trước đã tạo vẫn mang theo gọi là Đới nghiệp vãng sanh.

* Trang 309 *
device

này không làm chướng ngại đến sự vãng sanh.
 
Chẳng hạn như, tuyết rơi xuống đất, càng rơi càng dày, nhưng nếu rơi xuống biển sẽ tan biến, pháp môn Tịnh Độ chính là như thế.
 
Như thế rốt cuộc là tiêu nghiệp hay mang nghiệp? Chúng ta nói mang nghiệp cũng được, tiêu nghiệp cũng được, đây là cách nói theo lí luận sơ cấp, đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ biết. Nhưng nói một cách triệt để, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tiêu nghiệp, nếu không tiêu nghiệp thì bạn làm sao thoát khỏi luân hồi? Ví dụ nói bạn giết người, giết người phải đền mạng, mắc nợ phải trả tiền, bạn không trả mạng, tiền cũng không trả, làm sao lìa luân hồi? Vì thế, trước hết phải trả nợ, theo tình huống trả nợ này, đấy là tiêu nghiệp.
 
Vậy chúng ta còn có nghiệp không? Vẫn còn, bởi vì chúng ta chưa đoạn trừ tham sân si, có lúc tính khí bộc phát, khởi tâm vô minh với người ta, sau chuyện đó, dù có hối hận như thế nào thì cũng đã kết oán với người ta, nhưng không chướng ngại mà vẫn vãng sanh.
 
Đồng thời, chúng ta được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ, nó có tác dụng khiến cho chúng ta lúc lâm chung, oán nghiệp mà ta gây ra cho mọi người không đến làm chướng ngại, cho nên nhiều đoạn trong Ấn Quang pháp sư văn sao

* Trang 310 *
device

đều nói Đới nghiệp vãng sanh, nhưng chẳng phải ý của Đại sư Ấn Quang, có đoạn Đại sư nói: “Ở cõi này nói là đới nghiệp, đến Cực Lạc thì không có nghiệp nữa”. Đến Cực Lạc nghiệp sẽ đi đâu? Chúng đều được Phật A-di-đà làm tiêu mất.
 
Trước lúc lâm chung, có phải thân trung ấm đã vãng sanh không? Không phải, chúng ta còn sống thì không thể nói là thân trung ấm. Trước đây đã nói rồi, chúng ta đã chuyển sanh làm người, nhục thể sinh mạng gọi là hiện ấm; sát-na chết gọi là tử ấm; như thế thời gian từ chết đến chuyển thai gọi là trung ấm; nếu đi chuyển sanh gọi là sanh ấm. Quá trình thể sinh mạng của chúng ta phân làm bốn giai đoạn: Hiện ấm, tử ấm, trung ấm, sanh ấm.
 
Một người hiện đời tin Phật niệm Phật, sẽ không trải qua thân trung ấm, vừa tắt thở liền đến thế giới Cực lạc.
 
Người bình thường sau khi chết, A-lại-da thức lìa khỏi thân thể, lìa khỏi tử ấm này, vẫn chưa chuyển sanh, gọi là thân trung ấm. Thân trung ấm có thể vãng sanh không? Cũng có thể vãng sanh! Bởi vì thân trung ấm cũng là ‘chúng sanh trong mười phương’. ‘Chúng sanh trong mười phương’ bất cứ chúng sanh nào cũng đều bao hàm trong câu danh hiệu, thân trung ấm cũng là chúng sanh, nhưng họ là chúng sanh ở trung ấm. Chúng ta ở

* Trang 311 *
device

nhân gian là chúng sanh ở nhân gian; ở cõi trời thì chúng sanh ở cõi trời; ở địa ngục thì chúng sanh địa ngục, đều là ‘chúng sanh trong mười phương’.
 
Nếu một người chết, chúng ta biết, lúc còn sống họ không học Phật niệm Phật, họ chết đã mấy tiếng đồng hồ, thậm chí đến hai ngày, cũng phải nắm lấy cơ hội nơi thân trung ấm này, ở bên họ khai thị pháp môn niệm Phật cho họ nghe, sau đó mọi người cùng niệm Phật, bởi vì không tận dụng lúc này, sẽ phải đến địa ngục thôi, hiện tại nhân duyên hòa hợp cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Mấy ngày trước cũng đã giảng, pháp sư Tín Nguyện thường thường trợ niệm cho mọi người ở Trung bộ Đài Loan, trong đó có một người đã chết tám tiếng đồng hồ, diện mạo đã đen sì khó coi, khai thị ánh sáng của Phật A-di-đà cho người đó. Lúc đang khai thị đến loại thứ ba ‘Vô ngại quang’, trong khoảnh khắc, tướng mạo của người chết bỗng nhiên trở nên hồng hào, tươi tắn. Pháp sư nói sự chuyển biến này không phải từ từ mà ngay lập tức. Thông thường chúng ta trợ niệm cho mọi người, tướng mạo sẽ thay đổi, nhưng thay đổi dần dần, nhưng người này đột nhiên thay đổi một cách rất mau.
 
Pháp sư còn nói: Có người, sau khi chết mắt

* Trang 312 *
device

mở to, miệng mở to, mặt và thân thể đen sì, chết nửa tháng rồi mới đi mời pháp sư; người trong nhà không có học Phật, mà còn đốt giấy tiền vàng bạc nữa, cả phòng khói đen dày đặc. Pháp sư Tín Nguyện đứng bên khai thị niệm Phật, dần dần mắt, miệng người chết đều khép lại, mặt mày cũng trở nên hồng hào tươi tắn, thời gian hơn một tiếng rưỡi. Con gái của bà ta về hỏi một câu: “Đó là ai vậy? Có phải là mẹ con không?”. Bạn xem, mười lăm ngày rồi mà còn thay đổi, giống như thần thức của bà vẫn đang nghe pháp, thật không thể nghĩ bàn! Đương nhiên đây là trường hợp khá thù thắng.
 
30. Hỏi: Xin Sư phụ khai thị vấn đề phóng sanh.
 
Đáp: Hành vi phóng sanh, động cơ rất tốt, bởi vì họ phát tâm từ bi, không nỡ ỷ mạnh hiếp yếu, không nỡ thấy sinh mạng đang sống mà bị giết hại. Nhưng vận dụng lòng từ bi cần có trí huệ. Phải làm sao mới gọi là phóng sanh đúng nghĩa. Điều này khá quan trọng, cho nên cần phải suy nghĩ về phương pháp.
 
Trước khi phóng sanh, tốt nhất chúng ta phải phát nguyện ăn chay, ngày nào chúng ta không ăn chay thì ngày ấy có người sát sanh vì chúng ta, cho nên ăn chay chân chính mới là phóng sanh chân chính. Sát có hai loại: Trực tiếp giết, gián tiếp giết.

* Trang 313 *
device

Dù không thể ăn chay nhưng cũng nên dùng tam tịnh nhục1, bởi vì chúng ta đều là đệ tử học Phật.
 
Thông thường các tự viện đều có phóng sanh định kỳ, vì phóng sanh mà phóng sanh. Mọi người biết họ là người phóng sanh định kỳ, cho nên bắt sẵn trước (phóng sanh không định kỳ tốt hơn, vì người ta sẽ không đi bắt sẵn, phóng sanh định kỳ thì người ta sẽ đi bắt sẵn), vốn dĩ những sanh vật này đang sống tốt đẹp, vì bạn muốn phóng sanh cho nên chúng bị bắt.
 
Vì vậy, phóng sanh định kỳ, nếu nội dung tinh thần không thể bảo đảm được thì chỉ chạy theo hình thức.
 
Còn có, nơi bạn phóng sanh nếu không thích hợp thì phóng sanh cũng như không, chẳng bao lâu chúng sẽ chết, vả lại còn làm ô nhiễm môi trường. Vì thế, cần suy nghĩ về phương pháp phóng sanh. Nếu từ động cơ phóng sanh là muốn
___________________
1 Tam tịnh nhục 三淨肉: Ba thứ thịt thanh tịnh mà người bệnh được phép ăn. Theo luận Thập tụng quyển 37, khi vị Tì-kheo bị bệnh, thầy thuốc bảo phải ăn thịt mới chữa được thì 3 trường hợp sau đây, thịt được xem là thanh tịnh và Tì-kheo được phép dùng: 1. Mắt không thấy giết: Chính mắt mình không thấy sanh vật ấy vì mình mà bị giết. 2. Tai không nghe giết: Đối với người đáng tin, không nghe nói sanh vật ấy vì mình mà bị giết. 3. Không nghi giết: Biết nơi đó không có nhà đồ tể, hoặc sanh vật ấy đã tự chết, vì thế không còn nghi ngờ là vì mình mà sanh vật ấy bị giết.

 

* Trang 314 *
device

thấy nó sống, không nỡ thấy nó chết, thật sự đó là tâm của Phật và Bồ-tát, nhưng cần suy nghĩ về phương pháp.
 
Đồng thời, nếu thực sự muốn phóng sanh thì có thể phóng sanh định kỳ, nhưng phải làm lặng lẽ, tốt nhất đến chợ hoặc chỗ sát sanh, mà mua chúng sanh sắp bị giết. Nếu để người ta biết trước, họ sẽ cố ý đi bắt. Vì thế, phóng sanh vốn rất tốt, nhưng trong khi thực hiện phải suy nghĩ.
 
Vậy thì có nên thúc đẩy việc phóng sanh hay không? Nó có giá trị thúc đẩy. Bởi vì, một chúng sanh bị giết, tưởng tượng xem nó rất đau đớn, nó còn sống mà bị bỏ vào chảo nước sôi. Nếu như chúng ta, thì có chịu nổi không? Đầu ngón tay bị kim đâm hoặc bị giọt nước sôi bắn trúng, thì đã khổ rồi, huống gì toàn thân? Thật sự khổ không thốt nên lời, cho nên phóng sanh là việc phải đề xướng, nhưng phải cố gắng không gây ra tác dụng phụ, giảm thiểu đến mức thấp nhất tác dụng phụ.
 
Chúng ta phóng sanh chúng sanh, khiến cho sinh mạng vốn bị giết, chết non, có thể kéo dài mạng sống. Đức Phật A-di-đà cứu độ chúng ta, cũng như đem chúng ta phóng sanh đến thế giới Cực Lạc, không chỉ lìa sáu đường, mà còn thành Vô lượng thọ.

* Trang 315 *
device

Chúng ta phóng sanh, đương nhiên không giống với nghi thức phóng sanh thông thường, chúng ta khai thị nguyên lí cứu độ của Phật A-di-đà và sau đó niệm Phật cho nó.
 
Thời xưa, có một con ngựa, sau khi chết nó báo mộng cho người chủ, trong mộng con ngựa hiện thân người xuất gia, nói với người chủ rằng: “Bởi vì, lúc tôi còn sống, nhận được sự chỉ dạy của ông mà tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm danh hiệu Ngài, hiện tại đã vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nay tôi đến cảm ơn ông”. Con ngựa cũng có thể nghe hiểu được tiếng người, có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Bởi vậy, nếu chúng ta phóng sanh, nên nói về lòng từ bi cứu độ của Phật A-di-đà cho chúng nghe, rồi sau niệm Phật, làm cho chúng nghe lọt vào tai mãi trở thành hạt giống đạo nghiệp.
 
Cái quý trọng nhất trên thế gian này là sinh mạng, cái bi thảm nhất trên thế gian này là bị giết hại, có một câu nói rất hay: “Phải quý trọng hạt gạo, bởi vì đấy là gốc của phước”. Cũng giống như vậy, “phải trân quý sinh vật nhỏ, bởi vì đấy là gốc của trường thọ”.
 
Đương nhiên, ngoài Phật A-di-đà ra, chúng ta không cầu phước cầu thọ, vì phước và thọ đều nằm trong nguyện của Phật A-di-đà.

* Trang 316 *
device

31. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tác dụng và phương pháp sử dụng của mền Đà-la-ni1?
Đáp: Người ta in kinh chú trên mền Đà-la-ni. Những kinh chú này có công năng tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ thậm chí khiến cho mọi người lìa sáu nẻo ba đường.
 
Phương pháp sử dụng: Nếu thổ táng thì phủ lên thân, rồi đưa vào quan tài, sau đó hạ táng cùng quan tài. Nếu hỏa táng thì nên đặt trên quan tài, đợi hỏa táng xong, đem tro cốt bỏ vào hũ, phủ mền Đà-la-ni lên sau đó đậy nắp lại.
 
Chúng ta học pháp môn Tịnh Độ không nên dựa vào mền Đà-la-ni. Nếu hàng thân thuộc của chúng ta chết mà không biết tương lai của họ như thế nào, cho nên đắp cho họ mền Đà-la-ni để phòng bất trắc thì có thể được.
 
Nhưng, nếu có người chết, mền Đà-la-ni đúng nghĩa, chính là nói về pháp môn Tịnh Độ cho họ nghe, giúp họ xưng niệm sáu chữ danh hiệu, nhờ vào công đức của Phật A-di-đà mà thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Chúng ta không có thần thông, không biết
___________________
1 Đà-la-ni 陀羅尼 Cg: Đà-lân-ni. Hd: Tổng trì, Năng trì, Năng giá. Năng lực của trí tuệ tóm thâu, gìn giữ vô lượng Phật pháp không để cho quên sót.

* Trang 317 *
device

được quả báo của họ như thế nào, nhưng cố gắng hết lòng giúp đỡ họ lâm chung.
 
Người sắp lâm chung, nếu khi họ còn sống có tín-nguyện niệm Phật thì tốt, nếu họ không có tín-nguyện, chẳng phải lúc này là thời điểm then chốt để siêu sanh hoặc đọa lạc đấy sao? Nếu không nắm bắt thời cơ này thì sẽ không có cơ hội. Lòng đại bi thực sự của Phật A -di-đà hiển hiện ngay lúc này. Hiện tại họ phải rơi vào địa ngục, lúc này chỉ có Phật A-di-đà mới có thể cứu được, cho nên lòng đại từ đại bi hiển lộ ngay ở đây. Nếu không thể hiển lộ ở đây, thì cũng khiến cho chúng sanh này được cứu độ, ‘đại từ đại bi’, nếu không thể gọi ‘đại’ thì có giới hạn. Vì thế, vào lúc này chúng ta nên giảng giải về sự cứu độ của Phật A-di-đà và xưng hiệu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ cho họ nghe, luôn có hiệu quả không thể nghĩ bàn. Dù cho họ tắt hơi thở đã ba ngày, bốn ngày, một tuần hoặc nửa tháng đi nữa cũng có hiệu quả tốt.
 
Bởi thế, mền Đà-la-ni tốt nhất chính là niệm Phật.
 
Thời cổ Ấn Độ, có một vị Tì- kheo chết không biết là do mắc bệnh nặng hay là do nguyên nhân gì mà rất đau đớn. Có một vị Bà-la-môn đi ngang qua cửa nhà lúc vị đó chưa chết, nghe tiếng kêu bi thương đau đớn, vị Bà- la-môn viết một đoạn thần chú trên giấy, rồi đeo trên cổ của vị Tì-kheo

* Trang 318 *
device

này. Sau đó, vị Tì-kheo chết làm lễ mai táng. Đến địa ngục vì có câu chú Đà-la-ni đeo trên thân, chúng sanh có duyên trong địa ngục, nhờ oai lực chú Đà-la-ni phóng ánh sáng, mà được thoát khỏi địa ngục, vị Tì-kheo trở lại dương gian. Có thể thấy oai thần công đức của câu thần chú rất vi diệu.
 
Nhưng câu danh hiệu này chính là bản thân của Phật A-di-đà, mà Ngài là vua trong các Đức Phật, sáu chữ danh hiệu này đầy đủ tám mươi bốn nghìn pháp môn, tất cả trăm nghìn Đà-la-ni đều ở trong sáu chữ danh hiệu này. Bởi thế, cổ đức gọi sáu chữ hồng danh là vua của các thần chú.
 
Như vậy, đeo Đà-la-ni sáu chữ hồng danh trên thân cũng không bằng mang trong tâm chúng ta, mang ở trong A-lại-da thức, nó vĩnh viễn không thể rơi rớt và mất đi, gặp duyên sẽ phóng ánh sáng, tự nhiên độ khắp chúng sanh có duyên.
 
32. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, con và chồng con đồng tu, nhưng anh ấy còn ăn thịt, như vậy có ảnh hưởng đến sự vãng sanh hay không? Tiện thể con xin hỏi thêm, tại sao gọi là giới u minh?
 
Đáp: Ăn thịt hay không chẳng phải là điều kiện vãng sanh, vãng sanh không có quy định bạn phải ăn thịt hay ăn chay. Chúng sanh trong mười phương mỗi chúng sanh đều khác nhau về

* Trang 319 *
device

cơ duyên, nếu bạn có thể không ăn thịt, vậy thì không ăn, nếu ăn thịt thì cứ ăn. Nhưng bạn ăn thịt không thể nói: “Ai dà, ngon nhe! Ta có Phật A-di-đà cứu độ, cho nên cứ ăn thỏa thích”, không nên như vậy, phải có tâm hổ thẹn.
 
Bởi vì, Phật A-di- đà muốn cứu độ chúng sanh trong mười phương, như vậy hiện tại thịt cá bày trên bàn chẳng phải là một trong chúng sanh mười phương mà Đức Phật A- di- đà cứu độ đó sao? Đúng vậy! Nhưng chúng ta lại giết ăn chúng, cho nên chúng ta phải có tâm hổ thẹn. Chúng ta chẳng phải cố ý muốn giết ăn, mà là hoàn cảnh chúng ta không cho phép, nên phải có tâm hổ thẹn. Nếu phải ăn thì nên niệm Phật---‘Chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước Tôi’, sau đó là niệm Phật ‘cho đến mười niệm’, nếu không như thế thì làm sao đây?
 
Phật A-di-đà nói: “Cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”, Đại sư Thiện Đạo cũng nói: “Mỗi niệm xưng danh thường sám hối”, cho nên mỗi niệm xưng danh tự nhiên là sám hối sự bất an trong tâm chúng ta. Khi hiểu được điều này, chúng ta sẽ không lo lắng, bây giờ chúng ta hiểu, hóa ra mỗi niệm xưng danh chính là sám hối, vì thế nên Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà.

* Trang 320 *
device

Thiện có thiện báo, ác có ác báo, chúng ta ăn thịt thì có quả báo ăn thịt, nếu Phật A-di-đà không đến cứu độ thì chúng ta phải chịu quả báo đó.
 
Vì lẽ đó, nghĩ đến hạng chúng sanh chúng ta, chẳng biết làm sao, xưa nay đã sát hại vô số chúng sanh, ăn thịt vô số súc vật mà chúng ta mới sống đến bây giờ! Nếu không phải Phật A-di-đà cứu độ thì chúng ta còn phải trả nợ. Nghĩ đến bản thân mình chẳng biết làm sao, nghĩ đến nghiệp chướng sâu nặng của mình, thì càng phải tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Nhưng sự cứu độ của Ngài hòa vào tâm chúng sanh, khiến cho các chúng sanh ấy được an lành.
 
U minh là chỉ cho cõi âm, chúng ta thay người chết thọ năm giới, bởi vì họ đã chết, không thể thọ giới, vậy thì chúng ta thay họ thọ giới, đây gọi là thọ giới u minh.
 
33. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, con biết sự cứu độ của Phật A-di-đà là không nên làm những việc có lỗi với Phật mà nên làm những việc để báo ân Phật, nhưng đôi khi vô tình gây nên nghiệp thì có bị ảnh hưởng không?
 
Đáp: Nếu nói về hạng chúng sanh chúng ta thì lúc nào mà không tạo nghiệp? Kinh Địa Tạng nói: “Chúng sanh trong cõi Nam Diêm-phù-đề, cử chỉ động niệm đều là nghiệp, đều là tội cả”. Đặc

* Trang 321 *
device

biệt là, sở dĩ chúng ta có sống là nhờ vào ăn thịt chúng sanh--Ai sanh ra mà không ăn thịt? Bởi thế, chúng ta đều đã tạo nghiệp giết hại chúng sanh, chẳng phải tự mình giết mà là mọi người giết cho chúng ta ăn, khởi tâm động niệm đều là nghiệp, đều là tội cả.
 
Chúng ta khởi tâm động niệm đều là tham sân si, đều là tự tư tự lợi, coi mình là số một. Hôm nay muốn chụp hình, phải sửa soạn lại dung mạo; khi có ảnh, cái nhìn đầu tiên biết ngay là mình. Bởi thế tự nhiên chúng ta coi mình là số một. Nếu mọi người đối xử tốt với chúng ta, khen ngợi vài tiếng thì trong lòng rất vui vẻ. Nếu nói vài câu xấu với chúng ta, hoặc nói sau lưng, thì chúng ta sẽ không vui; bị sỉ nhục, phỉ báng lại càng không vui. Vì thế, tham sân si luôn hiện hữu trong tâm chúng ta, cho đến chết cũng không bỏ được, dù cho chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà đi chăng nữa, nó cũng vẫn như thế.
 
Phật A-di-đà chính là muốn cứu độ những chúng sanh như thế. Điều kiện cứu độ của Phật A-di-đà là, bạn chỉ cần xưng danh niệm Phật thì được rồi.
 
Câu danh hiệu này, nếu là chiếc thuyền, hoặc chiếc máy bay, bạn xưng niệm câu danh hiệu này thì bạn đã ở trong chiếc thuyền hoặc ngồi trên máy

* Trang 322 *
device

bay này rồi, bạn hiểu được như vậy thì tự nhiên sẽ xưng danh niệm Phật suốt cả cuộc đời. Chúng sanh như chúng ta đây, chỉ lấy Phật A-di-đà làm bổn tôn của chúng ta, là vị cứu chủ của chúng ta, là sinh mạng của chúng ta, chứ không có vị bổn tôn thứ hai, không có vị cứu chủ thứ hai mà để chúng ta nương tựa, vì thế, Phật đường của chúng ta chỉ cần an trí một tôn tượng Phật A-di-đà, nhiều nhất là ba vị Tây phương Tam thánh là được rồi.
 
Trong Quán kinh tứ thiếp sớ, Đại sư Thiện Đạo nói:
 
Nếu chúng ta xưng danh thì Nhất tâm chuyên xưng danh hiệu‘Nam-mô A-di-đà Phật’; nếu lễ bái thì nhất tâm chuyên lễ Phật A-di-đà; quán tưởng (cách quán tưởng này chẳng phải mười ba pháp quán về Định thiện trong Quán kinh, mà tưởng tượng quê hương tốt đẹp mà tương lai chúng ta sẽ đến), cũng là tưởng tượng quê hương của chúng ta, chứ không tưởng tượng cõi nước chư Phật trong mười phương khác; cúng dường khen ngợi, chỉ cúng dường tán thán Đức Phật A-di-đà.
 
Tâm trước sau phải chuyên nhất, cũng như lên đường cao tốc thì chỉ thẳng tiến, không thể chạy lui, khi dừng lại thì đến đích, không có ngả rẽ, cho nên khiến cho chúng ta không còn trở lại sáu nẻo

* Trang 323 *
device

luân hồi. Không lên đường thì thôi, một khi lên đường thì nhất định đến thế giới Cực Lạc.
 
Chúng sanh tạo tội tạo nghiệp như chúng ta đây, tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm câu danh hiệu này, có nên cao ngạo, dương dương tự đắc không? Không nên như thế, trái lại, nên thông cảm người khác, bởi vì Phật A-di-đà thông cảm chúng ta, trước đã phát nguyện cho chúng ta, trước đã tu hành cho chúng ta, nguyện và hạnh của Ngài đã phát nguyện cho chúng ta. Ngài đem hạnh nguyện đã tu, ban tặng cho chúng ta, mà không cần chúng ta báo đáp, mục đích của Ngài là: ‘Bạn chỉ cần đến thế giới Cực Lạc, bạn chỉ cần tùy thuận sự cứu độ của Tôi’.
 
Thí như người mẹ dốc sức lo cho con cái mà không cầu báo đáp, con cái sanh ra thì họ đã có tâm: ‘Mẹ muốn dùng sinh mạng của mẹ để bảo hộ con’. Đây là thiên tánh. Khổng Tử nói: “Chưa học nuôi dưỡng con mà đi lấy chồng”. Không có ai nói: “Tôi muốn lấy chồng, trước hết phải học phương pháp và tâm nuôi con cái”, không có, cũng không cần thiết, bởi vì chỉ cần sanh con ra thì tự nhiên sẽ thương yêu và nuôi nấng con.
 
Phật A-di-đà cứu độ chúng ta cũng là thiên tánh. Thiên tánh của Ngài, sự tồn tại của Ngài chính là cứu độ chúng sanh mang tội nghiệp.

* Trang 324 *
device

Thí như có người giàu mà lại từ bi, anh ta mang tiền cho người nghèo dùng, nếu đối phương có tiền, anh ta sẽ không cho. Anh ta có tâm thương yêu, vả lại giàu có, dù anh ta cho rất nhiều tiền, nhưng đối với anh ta mà nói, chẳng có tổn thất gì cả, bởi vì anh rất giàu có. Anh ta cho tiền, không phải cho người giàu có, mà cho người nghèo khó và người cần tiền.
 
Phật A-di-đà duỗi tay sắc vàng đợi chúng ta đã mười kiếp, đối tượng mà Ngài muốn tiếp dẫn và kêu gọi, không phải là thánh nhân mà là hạng phàm phu. Chúng ta không cảm thấy mình biết tu hành, mình rất an lạc, mà là cảm thấy mình không biết tu hành, mình đang khổ đau, đang lo sợ luân hồi sanh tử của bản thân, hạng người như chúng ta đây chính là đối tượng mà Phật A-di-đà kêu gọi.
 
Chúng ta đã thể ngộ được tâm Phật, chúng ta sao có thể nói: “Ai dà! Bạn xem tôi đã được cứu rồi, còn bạn, bạn phải xuống địa ngục”---không thể như vậy, trái lại, sẽ thông cảm người khác, hơn nữa nói: Ta có liên quan gì với Đức Phật A-di-đà không? Không có đâu! Phật A-di-đà cuối cùng xem chúng ta thành người thân của Ngài, thành chính bản thân Ngài, phát nguyện tu hành cho chúng ta, thậm chí đem pháp môn niệm Phật vãng sanh dạy chúng ta, xem chúng ta như cha mẹ của Ngài mà hiếu thuận cung kính, mục đích chính là để ta thể ngộ được sự

* Trang 325 *
device

cứu độ của Ngài, sau đó thoát khỏi sự thống khổ của mình, đây thuần túy là tâm đại bi của Ngài.
 
Sau khi tiếp nhận tâm đại bi của Phật A- di-đà, chúng ta sẽ phát khởi bi tâm này để tha thứ người khác, bao dung và bỏ qua cho người khác. Chúng ta lãnh thọ nhiều thứ của Phật A-di- đà ban cho chúng ta, chúng ta sẽ đem cho người khác.
 
Điều mà Phật A-di-đà cho chúng ta là sự chết đi sống lại. Chúng ta sống lại không những được sinh mạng, mà còn được sinh mạng thành Phật.
 
Phật A-di-đà cho chúng ta chẳng phải tiền bạc vật báu, mà là thế giới Cực Lạc, châu báu ở thế giới Cực Lạc, trên mặt đất đều là vàng ròng. Phòng này của chúng ta là một đống gạch xếp thành, còn đống gạch ở thế giới Cực Lạc toàn là vàng ròng; cái phong phú nhất ban cho chúng ta là Vô lượng thọ và Vô lượng quang, cho chúng ta 48 đại nguyện giống Phật A-di-đà---đây là những thứ Phật A-di-đà cho chúng ta! Lúc đó, chúng ta sẽ cảm nhận được: “Ta rất giàu có, không mong muốn mà lại có nhiều thứ như vậy”. Hôm nay, chúng ta cầm chút ít đồ cho mọi người, có còn keo kiệt nữa không? Hôm nay mọi người thiếu chúng ta chút ít, chúng ta nhất định phải khổ công đòi lại, có như vậy không? Không, đã không tính toán những thứ này rồi. Tâm sẽ chuyển hóa.

* Trang 326 *
device

Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ tuy không nhấn mạnh về lục độ vạn hạnh, chỉ nhấn mạnh Nhất hướng xưng danh, nhưng lục độ vạn hạnh sẽ tự nhiên lưu xuất từ nội tâm của người hiểu được Nhất hướng xưng danh.
 
Người tu hành tự lực, trước đây chưa bố thí thì phải nhấn mạnh bố thí, hơn nữa lúc bố thí sẽ so đo trong lòng: ‘Ta bố thí nhiều hay ít, công đức nhiều hay ít’, thậm chí tính toán: “Hiện tại ta muốn bố thí, ta phải cầm ra bao nhiêu tiền, số tiền đó sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống, hoàn cảnh của gia đình, không ảnh hưởng đến sự nghiệp. Nếu như có ảnh hưởng, thì phải cân nhắc”. Nhẫn nhục cũng như thế, hôm nay chịu sự phê bình và lăng mạ của mọi người, tâm sẽ nghĩ: “Phải nhẫn, phải nhẫn, phải có tu hành”.
 
Nhưng, lãnh thọ sự cứu độ của Phật A -di-đà thì khác, đối phương chân chính yêu cầu, thậm chí không suy nghĩ về mình, bởi vì chúng ta nhận được quá nhiều; bị người khác lăng mạ và sỉ nhục, trước đây là nhẫn nhục, nhưng hiện tại lại yêu cầu họ tha thứ chúng ta. Chẳng phải chúng ta mắc nợ người đó sao? Người đó chẳng phải đã bị chúng ta lăng mạ, sỉ nhục đó sao? (Nếu không phải như vậy, chúng ta dễ giải thoát, chẳng phải là người ‘không có duyên ra khỏi sanh tử’) Có thể hiểu được điều này, tâm chúng ta tự nhiên trở nên mềm dịu, đó

* Trang 327 *
device

gọi là ‘chạm ánh sáng mát dịu’ (tức xưng niệm câu danh hiệu này, sẽ chạm đến ánh sáng của Phật A-di-đà, thân tâm sẽ trở nên dịu dàng).
 
Nhưng, xưng danh thì có tự lực xưng danh và tha lực xưng danh, mà tha lực xưng danh cần phải hiểu rõ nguyên lý và nghĩa chân chánh của sáu chữ danh hiệu. Thế thì, hôm nay điều chúng tôi muốn nói, là nguyên lý sáu chữ danh hiệu, hiểu rõ nghĩa chân chánh của sáu chữ danh hiệu, là tự nhiên đang tiếp nhận sự bảo hộ của ánh sáng Đức Phật A-di-đà, tiếp xúc ánh sáng thì sẽ thay đổi.
 
34. Hỏi: Điều mà Pháp sư vừa mới giảng, là Đức Thế Tôn phó chúc cho ngài A -nan, cố gắng xưng niệm câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này. Con hiểu lời nói của Pháp sư là: Lãnh thọ sức oai thần công đức lợi ích của câu danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật này, có phải là giống như ngài nói, con hiện nay xưng niệm ‘cho đến mười niệm’, là hoa rụng sen thành? Như thế, con hiện nay đã được cứu độ rồi phải không?
 
Đáp: Phải, nguyện sanh xưng danh, hiện tại nhận lãnh, hiện tại được cứu, lúc nào cũng là lúc được cứu độ, nơi nào cũng là nơi được cứu độ.
 
35. Hỏi: Vừa nghe Sư phụ giảng, nếu hiện tại xưng niệm câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, sẽ được Phật Vô Lượng Thọ nhiếp thủ không bỏ,

* Trang 328 *
device

hiện tại nhất định vãng sanh, như vậy có khác với người lâm chung vãng sanh không?
 
Đáp: Chúng sanh hiện tại tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà rồi vĩnh viễn không thay đổi, Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Ngài, sự vãng sanh của người đó đã được quyết định lúc người đó tiếp nhận, chẳng phải đợi đến lúc lâm chung đó mới quyết định. Lúc lâm chung, dù nằm trên giường bệnh thân tâm đau đớn, không thể niệm Phật cũng vẫn vãng sanh, hơn nữa nội tâm cũng an ổn, không vì không thể niệm Phật được mà sợ hãi, lo lắng, bất an. Nếu không như thế, cho thấy những gì nghe ban đầu là nghe chưa đủ, tin cũng chưa đủ.
 
Bởi thế, tu pháp môn Tịnh Độ phải hiểu rõ nguyên lý cứu độ của Phật A-di-đà.
 
Nhưng, có người hiểu rõ nguyên lý nhưng tâm vẫn bất an, dù như thế, Đức Phật A-di-đà cũng luôn luôn gia hộ, giải trừ chướng ngại của chúng ta, khiến cho tâm chúng ta được an ổn. Cho nên, chúng ta chỉ cần Nhất hướng xưng danh, tự nhiên có sự gia hộ của Ngài, không nên lo ngại gì cả.
 
36. Hỏi: Vừa mới nghe Triệu cư sĩ giảng, một là liền được vãng sanh, hai là lúc lâm chung vãng sanh. Con cho rằng đây là hai vấn đề. Một là, sau khi anh ta tin nhận sự cứu độ của Phật thì quyết định vãng sanh; hai là, lúc lâm chung gặp được

* Trang 329 *
device

vị thiện tri thức, có lẽ là anh ta vãng sanh lúc lâm chung, xin Sư phụ giảng đôi chút về vấn đề lâm chung vãng sanh?
 
Đáp: Được! Đây giống như hai loại căn cơ. Nguyện thứ 18 nói ‘cho đến mười niệm’, Tổ sư Đàm Loan nói:
 
Kinh nói mười niệm là nói sự nghiệp đã thành tựu.
 
Chính là: ‘Mười niệm’ của ‘cho đến mười niệm’ được nói trong kinh, xác định nghiệp vãng sanh của chúng sanh đã thành tựu. Nghiệp vãng sanh đã thành tựu ngay chỗ ‘cho đến mười niệm’, không cần đợi đến lúc lâm chung mới nói ‘ta có thể vãng sanh’, không cần lúc lâm chung phải giữ được chánh niệm hiện tiền, thấy Phật và Bồ-tát đến tiếp đón, lúc này mới chứng minh ‘sự vãng sanh của ta đã thành tựu rồi’, chẳng phải lúc đó mà là lúc ‘cho đến mười niệm’.
 
Như vậy, căn cơ ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18, hoàn toàn không nói nhất định phải lúc bình sanh, hoặc nói nhất định phải lúc lâm chung. Đã là ‘cho đến’ thì đã bao hàm căn cơ lúc bình sanh, cũng bao hàm căn cơ lúc lâm chung, ý nói: Lúc bình sanh bạn gặp được duyên cứu độ của Phật A-di-đà, mà phát tâm suốt đời tín-nguyện niệm Phật, thì lúc đó được gọi là Bình sanh nghiệp thành.

* Trang 330 *
device

Nếu người nào suốt đời không có duyên với Phật, vừa không học pháp môn khác, cũng không tiếp nhận pháp môn Tịnh Độ, thậm chí không những suốt đời không có duyên với Phật, mà ngược lại tạo rất nhiều tội nghiệp, thậm chí điều ác nào cũng làm cả, đến lúc lâm chung sắp tắt thở, mới gặp được thiện tri thức nói về pháp môn này cho họ nghe; hoặc bởi suốt đời tạo ác, nên lúc lâm chung bị lửa địa ngục thiêu đốt, họ mới sợ hãi, lúc này gặp được vị thiện tri thức khai thị sự cứu độ của Phật A-di-đà, họ liền tin nhận sự cứu độ của Phật, sẽ được vãng sanh---đấy chính là căn cơ lúc lâm chung.
 
‘Nghiệp thành’ có căn cơ bình sanh, có căn cơ lúc lâm chung. Đương nhiên, nếu lúc Bình sanh nghiệp thành, nó sẽ xuyên suốt đến lúc lâm chung, đã là Bình sanh nghiệp thành thì đương nhiên cũng là Lâm chung nghiệp thành, bởi vì sự vãng sanh không phải lúc lâm chung mới quyết định, mà ngay lúc bình sanh đã tin thuận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Ngài đã quyết định rồi. Vì thế, chẳng phải đợi đến lúc lâm chung mới quyết định vãng sanh, họ niệm Phật, mỗi câu danh hiệu Phật đều quyết định vãng sanh, mỗi niệm đều quyết định vãng sanh.
 
37. Hỏi: Vừa mới nghe ngài khai thị nhiều như vậy, con thật sự tin sâu lúc lâm chung sẽ được Phật

* Trang 331 *
device

gia hộ vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Là người phàm phu, một là phải tin sâu niệm Phật vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc; hai là đối diện với vấn đề hoằng pháp, như cá nhân con, rất ngu ngốc, khả năng diễn đạt cũng rất kém, các phương diện tu hành thì chẳng ra gì, nhưng con nghĩ: Tự mình càng phải tu hành thêm nữa, có phương pháp nào để tăng thêm trí huệ, có phải là mâu thuẫn không? Xin Sư phụ khai thị.
 
Đáp: Đây chính là ‘tự tin và dạy người tin’ mà Đại sư Thiện Đạo đã nói.
 
Lãnh thọ sự cứu độ của Phật A-di-đà, bỗng nhiên có thể tự tin và dạy người tin, lúc đó mới cảm thấy sự thiếu sót của mình, thế thì phải làm sao đây? Cần phải xem nhiều sách thuộc hệ tư tưởng Tịnh Độ của Đại sư Đàm Loan, Đạo Xước và Thiện Đạo, đồng thời nghe những băng giảng về những tư tưởng này, có thể gia tâm suy ngẫm. Sau khi hiểu rõ đạo lý cứu độ của Phật A-di-đà, giảng lại cho người khác nghe sẽ có nội dung sâu sắc hơn.
 
Mặt khác, cần phải quán sát căn tính của đối phương, khả năng tiếp nhận của anh ta được bao nhiêu? Nếu cảm thấy đối phương hoàn toàn không thể tiếp nhận, thậm chí sẽ phỉ báng, như vậy chúng ta phải cân nhắc. Nếu thấy đối phương

* Trang 332 *
device

có thể tiếp nhận, ta dùng phương thức nào mới có thể khiến cho đối phương tiếp nhận? Mục đích của chúng ta là làm cho anh ta tiếp nhận, cho nên lúc này cần có những phương tiện khéo léo.
 
Nói tóm lại, phải làm phong phú bản thân, chỉ có người biết bơi lội mới có thể cứu người đuối nước. Nếu mình không biết bơi thì đừng nói chi đến việc cứu người đuối nước, ngược lại, phải cần người khác đến cứu. Cho nên, bản thân chúng ta phải được lợi ích trước, sau khi được lợi ích, có khi không cần phải cố ý cũng sẽ tự nhiên ảnh hưởng đến người khác. ‘Tự lợi lợi tha’, chỉ có tự lợi mới có thể lợi tha được. Chỉ có sau khi mình tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, mới có thể dạy người tin nhận. Nếu quá trình tin nhận của bản thân rất hạn hẹp, muốn khiến người ta tin nhận, đương nhiên là không được. Cho nên, tất cả mọi việc trước hết phải tự mình làm.
 
38. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ! Nếu có người nào sau khi vãng sanh, họ không muốn hồi nhập Ta-bà, muốn trụ lại thế giới Cực Lạc, đấy là người Tiểu thừa đúng không? Người này có thể thấy Phật A-di-đà không?
 
Đáp: Bất kể người nào vãng sanh đều thấy được Phật A-di-đà, bởi vì thế giới Cực Lạc là pháp môn Đại thừa, không vãng sanh thì thôi, một khi

* Trang 333 *
device

vãng sanh thì sẽ thay đổi căn tính của Tiểu thừa, tự nhiên sẽ phát nguyện độ khắp chúng sanh.
 
Cũng giống như nước trên mặt đất rất khác nhau, có chỗ sạch, có chỗ dơ, có nước trong ly, cũng có nước sông Hoàng Hà, nước sông Trường Giang, đều không giống nhau, nhưng một khi chảy vào biển cả thì có cùng một vị mặn. Thế giới Cực Lạc có thể chuyển hóa tâm lượng của Tiểu thừa thành tâm lượng của Đại thừa, cho nên chúng ta cứ vãng sanh, đến đó có Phật giúp chúng ta chuyển hóa.
 
39. Hỏi: Người không vào cửa Phật, niệm Phật có vãng sanh không?
 
Đáp: Người không vào cửa Phật, người không quy y Tam bảo, nếu suốt đời anh ta đều niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, cũng nhất định vãng sanh, so với người có quy y mà không niệm Phật, không có công đức lợi ích của sự vãng sanh, thì càng to lớn không thể nghĩ bàn. Bởi vì, suốt đời anh ta niệm Phật, dù không biết nhưng anh ta đã ở trong thuyền đại nguyện của Phật A-di-đà, nên vẫn được vãng sanh. Chỉ sợ là: Tuy anh ta niệm Phật, nhưng không hiểu được nguyên lý cứu độ của Phật A-di-đà, sau đó anh ta lại khởi tâm muốn sanh lên cõi trời hoặc nhân gian, như thế thì không được vãng sanh.
 
40. Hỏi: Công án của Sư phụ giảng, là chúng

* Trang 334 *
device

sanh địa ngục nghe đến sáu chữ danh hiệu của Phật A-di-đà thì liền được vãng sanh. Chúng sanh nhân gian nghe danh hiệu có được vãng sanh hay không. Xin Sư phụ khai thị.
 
Đáp: Chúng sanh địa ngục vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là một vị Bà-la-môn đó tận mắt thấy, thấy họ lìa địa ngục ngồi hoa sen mà đi. Như vậy, chúng sanh nhân gian nghe danh hiệu có được vãng sanh hay không? Đương nhiên có. Nếu có, phải là lúc lâm chung. Suốt đời anh ta có học Phật hay không là chuyện khác, nhưng lúc lâm chung nghe câu danh hiệu này liền được vãng sanh, bởi vì công năng của danh hiệu khiến cho người nghe tin đều vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Bây giờ nêu ra vài thí dụ:
 
Ở trấn Sa Trần, huyện Đài Trung, Đài Loan có một bệnh nhân bị bệnh ung thư, không biết Phật pháp, nhập viện, ở phòng chăm sóc đặc biệt (bệnh rất nặng, phải có y sĩ chăm sóc 24/24h). Anh ta bị bệnh ung thư giai đoạn cuối rất đau đớn. Người trong gia đình anh ta mới thỉnh pháp sư Tâm Quán đến thăm. Pháp sư Tâm Quán mang đến cái máy niệm Phật, đồng thời giới thiệu về sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc và lòng từ bi của Phật A-di-đà cho anh ta hiểu. Nói xong, đặt máy niệm Phật ở chỗ anh ta nằm, mở danh hiệu

* Trang 335 *
device

Phật cho anh ta lắng nghe. Người bệnh tuy thân tâm đau đớn, niệm Phật không ra tiếng, nhưng vừa nghe đến danh hiệu Phật thì không còn đau đớn nữa, nên được an tĩnh, trải qua một ngày một đêm anh ta tắt hơi thở rất an lành.
 
Đương nhiên chúng ta không có thần thông, không biết anh ta vừa tắt hơi thở là vãng sanh hay đến nơi đâu. Chẳng qua, từ việc này, chúng ta có thể biết chỉ nghe tiếng danh hiệu Phật, có thể giải trừ sự đau đớn của thân tâm, mà không cần kéo dài thời gian, đi rất nhanh.
 
Một câu chuyện khác: Cuối năm 1995, tôi có người thân nằm viện ở Đài Nam. Vào một ngày buổi chiều, tôi đi thăm người này, lúc đi vào phòng bệnh, có nữ bệnh nhân nằm phòng phía sau, khoảng 40 tuổi, nhưng nhìn giống như 50-60 tuổi, quanh mắt đen sì, tướng mạo rất tiều tụy, nói không ra lời, đi chậm chạp, rất yếu ớt. Cô ấy đi đến, mọi người mang ghế cho cô ấy ngồi. Cô ấy nói với tôi, cả tuần nay không ngủ được, bởi vì không thể ngủ, cho nên cảm thấy rất đau đớn.
 
Tôi nói với cô ấy: “Bạn phải niệm Phật, bạn niệm Phật thì có thể ngủ được”.
 
Cô ấy nói: “Giống như tôi đây, có thể niệm Phật được không?”.

* Trang 336 *
device

Tôi nói với cô ấy: “Bạn không niệm Phật cũng không sao, đợi một chút tôi đi thỉnh một cái máy niệm Phật, bạn nghe tiếng niệm Phật thì có thể ngủ được”.
 
Tôi liền đi thỉnh máy niệm Phật, dặn cô ta nằm trên giường mở máy niệm Phật, sau đó tôi về.
 
Chiều hôm sau, tôi lại đến người thân của tôi, vừa bước vào cửa, người bệnh nằm cách phòng đã ngồi ở đó rồi, vừa nói vừa cười với mọi người, sắc mặt cũng không giống ngày hôm qua, rất tươi tắn, có tinh thần. Cô ta cảm ơn tôi, nói với tôi rằng ngày hôm qua, cô ta nằm ở phòng, vì sợ làm ồn đến người khác nên nhét dây phone của máy niệm Phật vào lỗ tai, bỗng nhiên ngủ được, ngủ rất lâu, tỉnh lại tinh thần rất tốt.
 
Bạn xem, bảy ngày không thể ngủ, vừa nghe danh hiệu Phật thì ngủ được.
 
Từ đó, mỗi ngày cô ta nằm trên giường bệnh nghe danh hiệu Phật, ngủ cũng nghe danh hiệu Phật, cho nên tự nhiên bệnh tình của cô ta chuyển biến rất tốt.
 
Chúng ta có thể thảo luận: Nếu người bệnh này liền tắt hơi thở, rất có thể cũng nhờ vào công năng của câu danh hiệu này mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

* Trang 337 *
device

Bởi vì, thân nghiệp báo của cô ta vẫn chưa hết, cho nên khiến cho cô ta ngủ được, hơn nữa bệnh tình chuyển biến tốt, tiếp tục sống những ngày còn lại. Nếu mạng chung lúc đang ngủ, chẳng phải là có thể giải thoát đó sao? Bởi vì, công năng của danh hiệu vốn là như thế.
 
Thân thể này của chúng ta là thân nghiệp báo, nghiệp báo là nghiệp quá khứ. Vì thế, cuộc đời chúng ta sanh ra nơi nào, thân cao bao nhiêu, có trí huệ hay không, tương lai sẽ đi học ở trường nào, thậm chí sự nghiệp đang làm, tiền lương lãnh được bao nhiêu, kết hôn với ai, sanh bao nhiêu đứa con, mạnh khỏe hay không, đều hoàn toàn có liên quan đến quá khứ, kéo dài từ đời quá khứ đến bây giờ.
 
Ví như chúng ta gửi sổ tiết kiệm vào ngân hàng, đã đến kì hạn, muốn đổi sổ mới, ngày tháng của sổ tiết kiệm mới này, sẽ kéo dài từ sổ tiết kiệm cũ. Thân thể hiện nay của chúng ta giống như sổ tiết kiệm mới, kéo dài từ sổ tiết kiệm đời trước cho đến bây giờ.
 
Sở dĩ người bệnh có bệnh, là bởi không ngủ được, là nghiệp quá khứ, thậm chí oan gia trái chủ trong quá khứ quấy nhiễu cô ta, làm cho ta không ngủ được. Như vậy, vừa nghe danh hiệu của Phật tự nhiên những nghiệp chướng ấy đều được tiêu

* Trang 338 *
device

trừ, thậm chí nếu có oan gia trái chủ bên cạnh, cũng sẽ hóa giải nghiệp của oan gia trái chủ.
 
Nghe và niệm thật sự giống nhau. Lúc chúng ta niệm, tuy miệng niệm nhưng phải phát ra từ ý nghiệp, dù không chí thành lưu xuất từ nội tâm, nhưng chúng ta chỉ cần niệm, ít nhất sẽ gieo hạt giống vào A-lại-da thức thứ tám. Niệm là khẩu nghiệp, là thiệt căn, nghe là nhĩ căn, đều là một trong sáu căn. Sáu căn từ đâu đến? Từ A-lại-da thức căn bản của chúng ta, cho nên những gì chúng ta nghe được nhất định sẽ vào trong A-lại-da thức của chúng ta; nếu nói lời thiện, lời ác, tốt và xấu, các loại ngôn ngữ cũng sẽ trở thành hạt giống ở trong A-lại-da thức của chúng ta.
 
Như vậy, câu danh hiệu này là chủ thể của Niết-bàn, công đức của tất cả điều thiện đều nằm trong câu danh hiệu này, Đức Phật A-di-đà tu tập tích lũy từng li từng tí công đức từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, đều dung nạp trong câu danh hiệu này. Tất cả công đức trong vũ trụ đều bao hàm trong câu danh hiệu này. Vì thế, câu danh hiệu này có công năng và sức mạnh rất lớn. Sức mạnh và công đức to lớn của câu danh hiệu này đều chảy vào A-lại-da thức, có thể chuyển nghiệp của chúng ta. Bởi vì, cái thể của nghiệp ở đâu? Ở trong A -lại-da thức. Bản thân của nghiệp thật ra là hư giả, huyễn hóa, nhưng công đức của câu danh hiệu này lại

* Trang 339 *
device

là chân thật. Dù hư giả có nhiều đến mấy cũng chẳng bằng một chút chân thật. Cho nên, danh hiệu vừa vào tai, vừa vào A-lại-da thức thì lập tức sẽ tiêu trừ nghiệp chướng hư giả được chứa trong A-lại-da thức.
 
Có một câu chuyện nữa, được kể trong Ấn Quang pháp sư văn sao. Ngài nói: Gần đây ở Vô Tích niệm Phật rất hưng thạnh, có một người đầu bếp làm thức ăn chay, mỗi lần tự viện tổ chức pháp hội hoặc Phật thất, mọi người đều mời anh ta làm bếp trưởng. Anh ta lo việc bếp núc, không đến Đại hùng bảo điện để đả Phật thất cùng với mọi người. Nhưng anh ta có thể nghe tiếng niệm Phật của mọi người trong tự viện. Anh ta vừa làm việc ở nhà bếp vừa nghe niệm Phật.
 
Có một hôm, đứa con của người đầu bếp sắp chết, trước khi chết nói với anh ta: ‘Ba ơi, ba ơi! Hiện tại con sắp lìa thế gian này rồi, nhưng con không thể đến nơi tốt đẹp. Ba có rất nhiều Phật, nếu Phật của ba cho con thì con sẽ đi đến nơi tốt đẹp’.
 
Người cha nói: “Ba không niệm Phật thì làm gì ba có Phật?”.
 
Đứa con nói: “Có ạ, Phật của ba rất nhiều! Chỉ cần ba cho con thì con sẽ đến nơi tốt đẹp”.
 
Người cha nói: “Con muốn bao nhiêu cứ việc lấy đi”.

* Trang 340 *
device

Vừa nói câu này, con anh ta tắt thở rất an lành.
 
Sau đó anh ta thỉnh giáo người ta rằng: “Con tôi nói tôi có nhiều Phật, tôi bình thường rất ít niệm Phật, Phật từ nơi nào đến vậy?”.
 
Người hiểu chân chính thì bảo anh ta rằng: “Bạn giúp mọi người lặt rau, ở đấy nghe danh hiệu Phật bảy ngày, từng tiếng từng tiếng chảy vào tai, đều là tiếng của bạn, đều nằm trong kho A -lại-da thức của bạn. Danh hiệu của Phật A-di-đà vốn là bản thể của Phật A-di-đà, Ngài từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay tích lũy lục độ vạn hạnh đều nằm trong câu danh hiệu này, đương nhiên công đức rất lớn. Bạn không cố ý nghe, nếu có tâm lắng nghe thì công đức càng nhiều!”.
 
Sự lợi ích của danh hiệu Phật rất lớn, là bởi bản thân sáu chữ hồng danh này là kết tinh của tất cả công đức.
 
‘Công đức tụ’ (chỗ tất cả công đức tụ tập gọi là công đức tụ), cũng chính là ngọc báu ma-ni, có thể tuôn ra các loại vật báu, câu danh hiệu này cũng giống như vậy. Không giống với kinh văn, kinh văn phía sau không giống với kinh văn phía trước, dù cho bạn chuyên tâm nghe mọi người tụng kinh cũng không biết tụng đến chỗ nào, và đều không biết nội dung nói gì. Câu danh hiệu này, trăm câu, nghìn câu đều là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà

* Trang 341 *
device

Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, bạn có vô tâm nghe được đi nữa, hay nghe rõ ràng đây là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật’, cho nên danh hiệu đơn giản dễ dàng, mà công đức lại rất nhiều.
 
41. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ hai vấn đề này: Thứ nhất, trước đây buổi sáng tụng 48 nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, buổi tối tụng 33 đến 37 nguyện, rồi lại niệm danh hiệu Phật, có định thời khóa. Thời khóa bây giờ phải làm như thế nào? Thứ hai, đến thế giới Cực Lạc, còn phải trở lại thế gian độ chúng sanh, chi bằng hiện tại phải khẩn trương học cho nhiều, đến thế giới Cực Lạc vẫn học, cách nghĩ này có đúng không?
 
Đáp: Thời khóa nhất định do mỗi người sắp xếp khác nhau, có thời gian thì tụng kinh Vô Lượng Thọ, hoặc là tụng 48 lời nguyện, hoặc là tụng kinh A-di-đà. Nhưng, nếu sau khi bạn hiểu rõ giáo nghĩa trong kinh rồi thì không cần tụng kinh, chỉ chuyên niệm danh hiệu Phật, sáng tối đều ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’.
 
Kinh điển chủ yếu là để cho chúng ta hiểu rõ về ý nghĩa, nương theo giáo mà thực hành, điểm chính không nằm ở chỗ tụng kinh. Nếu đọc tụng không hiểu nghĩa kinh thì chỉ được chút ít công đức. Cũng giống như nói sự cứu độ của Phật


 

* Trang 342 *
device

A- di-đà trong kinh Vô Lượng Thọ, nhưng chúng ta đọc mấy nghìn lần, vẫn không hiểu được sự cứu độ của Ngài là gì cả, không hiểu được nguồn gốc và nguyên lý của sáu chữ danh hiệu này, thì uổng phí bản hoài của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất thế, cũng phụ năm kiếp tư duy, triệu kiếp tu khổ hạnh của Phật A-di-đà! Phật A-di-đà đã đau lòng rơi lệ. Ngài ở trong mười kiếp đó, tay duỗi rất lâu, chính là để kêu gọi chúng ta, cứu độ chúng ta.
 
Bởi thế, sáng tối có thể đều niệm Phật, thời gian khác lại xem kinh Vô Lượng Thọ, hoặc xem những trứ tác trình bày về giáo lý của pháp môn Tịnh Độ. Đấy là điểm thứ nhất.
 
Điểm thứ hai, pháp môn Tịnh Độ là một tấm vé, đến thế giới Cực Lạc sẽ tự nhiên trở lại thế gian cứu độ chúng sanh.
 
Nhưng quan điểm của bạn cho rằng: Chúng ta đến thế giới Cực Lạc còn phải học nữa, chi bằng chúng ta ở thế gian này trước hết nên học một chút đi! Điều này không chính xác.
 
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn biến sắt thành vàng, dù chúng ta rất ngu si, thậm chí chẳng biết được mấy chữ, nhưng sau khi vãng sanh, lập tức Phật tánh sẽ hiển lộ, được từ bi, trí huệ, nguyện lực, biện tài đều vô lượng, đầy

* Trang 343 *
device

đủ trăm nghìn Đà- la-ni, tam minh1, lục thông2, không cần hiện tại bạn học cái gì, tích lũy được bao nhiêu.
 
Hiện tại bạn có thời gian thì niệm Phật, hoặc xem giáo lý về phương diện này, sau đó tự tin và dạy người tin, đấy chính là báo ân Phật rất lớn.
 
Tôi vừa mới nói, tùy theo căn cơ của mỗi người, người có thời gian thì niệm nhiều một chút, người không có thời gian thì niệm ít một chút. Niệm Phật là được sự cứu độ của Phật A-di-đà, thể hiện được tín tâm, pháp hỷ cứu độ.
 
Ví như nói, chúng ta uống một viên hương hoàn3 vi diệu vào bụng, hơi thở ra có mùi thơm, từ
______________________
1 Tam minh 三明 Cg: Tam đạt, Tam chứng pháp. Trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: 1. Túc mạng trí chứng minh, còn gọi là Túc trụ tùy niệm trí tác chứng minh, Túc trụ trí chứng minh, Túc trụ trí minh, Túc mạng minh, Túc mạng trí. 2. Sanh tử trí chứng minh, còn gọi là Tử sanh trí chứng minh, Thiên nhãn minh, Thiên nhãn trí. 3. Lậu tận trí chứng minh, còn gọi là Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí.
2 Lục thông 六通 Cg: Lục thần thông. Sáu loại năng lực siêu nhiên diệu dụng, vô ngại, tự tại do chư Phật, Bồ-tát chứng được nhờ sức mạnh của định và huệ, gồm:1.Thần túc thông, 2. Thiên nhãn thông, 3. Thiên nhĩ thông, 4. Tha tâm thông, 5. Túc mạng thông, 6. Lậu tận thông.
3 Hương hoàn 香丸: Trộn chung các loại hương làm thành viên, dùng trong nghi quỹ Mật giáo.

* Trang 344 *
device

sáng đến tối, hơi thở có mùi hương, nhưng không lìa viên hương hoàn trong bụng.
 
Danh hiệu giống viên hương hoàn, chúng ta mỗi tiếng xưng danh, giống như thở ra đều có mùi hương, nghìn muôn hơi thở cũng đều có mùi hương xuất phát từ viên hương hoàn này. Nghìn muôn tiếng xưng danh cũng là câu danh hiệu này, danh hiệu hương hoàn này khiến chúng ta vãng sanh. Danh hiệu hương hoàn hiển hiện chính là xưng danh.
 
Không nên nói, chúng ta chẳng có gì cả, sau đó nhờ chúng ta hôm nay niệm bao nhiêu tiếng, giảm bao nhiêu tội, tăng thêm bao nhiêu công đức, nắm chắc được bao nhiêu phần vãng sanh.
 
Đương nhiên, người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, đối với họ mà nói, việc lớn nhất của thiên hạ là ân cứu độ của Phật A-di-đà, cho nên họ sẽ tự nhiên nhớ Phật niệm Phật, còn việc khác sẽ không mấy quan tâm.
 
Có câu nói: “Người tu thì niệm sâu dày, người đời thì niệm cạn mỏng; người đời thì niệm sâu dày, người tu thì niệm cạn mỏng”. Vì thế, người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì tự nhiên nhớ Phật niệm Phật.
 
42. Hỏi: Xưa nay luôn có những lo lắng: Không ai dám bảo chứng lúc lâm chung chánh niệm mà

* Trang 345 *
device

niệm Phật. Có thể khắc phục sự đau đớn, nếu mơ hồ thì một đời này niệm Phật uổng công, cho nên trong lòng rất lo âu, xin Sư phụ khai thị.
 
Đáp: Pháp môn Tịnh Độ là hiện tại được Phật A-di-đà cứu độ, lúc sắp mạng chung dù cho đau đớn, niệm không ra tiếng, thậm chí bị hôn mê, nhưng vẫn được Phật A-di-đà cứu độ, được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ. Một mặt là đã được cứu độ, cho nên lúc lâm chung hôn mê hay không hôn mê, niệm Phật hay không niệm Phật, chẳng có gì phải quan trọng cả, việc vãng sanh đã quyết định rồi! Vì thế, dù cho vừa tắt hơi thở trong tình huống đó, cũng lập tức vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Nói rằng được Phật A-di-đà cứu độ, là sự cứu độ chân thật của Ngài, phá tan sự hoài nghi bất an trong tâm chúng ta, làm cho chúng ta từ lúc bắt đầu tin nhận, liền ở trong ánh sáng của Phật A-di-đà, nhiếp thủ không bỏ, dù hôn mê nhưng vẫn nhiếp thủ không bỏ. Đồng thời, sinh mạng của Phật A-di-đà cũng nằm ngay trong tâm chúng ta, không xa lìa, chúng ta cùng một thể với Phật A-di-đà, cho nên bạn tắt hơi thở lúc nào, nơi nào, tình huống nào cũng đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Nếu cho rằng ‘hôn mê không thể niệm thì

* Trang 346 *
device

không được, ắt phải dựa vào lúc lâm chung niệm Phật’, thì đó là ‘tự lực trong tha lực’---Nếu nương vào công phu, công đức của mình niệm Phật để cầu Phật A-di-đà đến đón tiếp mà hồi hướng vãng sanh, thì không phải nội dung của pháp môn Tịnh Độ.
 
Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ là hiện tại quyết định vãng sanh, hiện tại cùng một thể với Phật A-di-đà. Một mặt là sinh mạng của Phật A-di-đà ở trong tâm chúng ta, mặt khác là sinh mạng của chúng ta ở trong tâm Phật A-di-đà. Tâm Phật A-di-đà là ánh sáng! Ánh sáng của Phật A-di-đà ‘chiếu mười phương cõi nước mà không bị chướng ngại’. Vô lượng ánh sáng đó không bị chướng ngại là nhiếp thủ chúng sanh nào? Nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật. Phàm là chúng sanh xưng danh niệm Phật thì vĩnh viễn ở trong ánh sáng nhiếp thủ của Phật A-di-đà. Vì thế, hiện tại chúng sanh ở 
trong ánh sáng của Ngài, nên vừa tắt hơi thở thì ở cõi Vô lượng quang minh của Ngài.
 
Chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới là pháp môn chúng ta đáng học trong đời này, đồng thời nó là pháp môn cao nhất trong tám mươi bốn nghìn pháp môn. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Viên đốn. Sáu chữ danh hiệu đầy đủ tất cả công đức, chính là ‘đốn’, cho nên là pháp môn Viên đốn. Hơn nữa, hạ thủ dễ dàng, thành tựu rất

* Trang 347 *
device

cao, vạn người tu vạn người được vãng sanh, chính là pháp môn Tịnh Độ này.
 
Nếu không phải như vậy thì chẳng phải là pháp môn Tịnh Độ.
 
Bạn là chúng sanh thấp kém ra sao, chúng sanh chẳng có năng lực gì cả, chúng sanh chẳng biết tu tập, đều có thể được sự cứu độ của Phật A-di-đà! Hơn nữa, xưa nay Phật A-di-đà cứu độ, chính là muốn cứu độ chúng sanh không biết tu hành.
 
Mọi người biết tu hành không? Không biết tu hành. Người tu hành tốt nhất ở đây, phải nói là pháp sư Tịnh An. Sư từng đạt đến tịnh niệm tương tục, công phu thành phiến, thức ngủ niệm Phật cũng như nhau, nhưng đối với việc vãng sanh trong tâm vẫn bất an, mãi cho đến nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì tâm mới an lạc, yên ổn, chân chính là ‘an’. Cho nên, ‘Tịnh An’, lấy hai chữ này làm tên của Sư là tốt nhất.
 
Đương nhiên, đối với mỗi người mà nói thì cái tên này đều rất thích hợp, bởi vì Phật A-di-đà trước hết muốn chúng ta được đại an tâm, Ngài nói:
 
Tôi thệ thành Phật
Hành khắp nguyện này
Tất cả sợ hãi

 
Làm cho được an.
Khiến Tôi ở đời

* Trang 348 *
device

Mau thành Chánh giác
Nhổ gốc sanh tử

 
Căn bản khổ não.
 
‘Tôi muốn mau thành Phật, mau diệt trừ căn bản khổ não sanh tử của chúng sanh trong mười phương’.
 
Chúng sanh chúng ta sợ nhất là gì? Chính là sợ vô thường. Vô thường vừa đến thì phải rơi vào địa ngục---Trên thế gian này có gì sợ hơn việc này đâu? Nhưng, Phật A -di-đà đã cho chúng ta ‘an’ rồi, muốn tiêu trừ sự sợ hãi của chúng ta. Vì thế, đối với tất cả sự sợ hãi mà nói, chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới làm cho chúng ta an tâm.
 
43. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, người có tín tâm không thay đổi, thì đã được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ không bỏ, và lập tức quyết định thân phận vãng sanh, không cần phải đợi đến lúc lâm chung, cũng không cần xem tướng thiện, tướng ác, chết ra sao trong lúc lâm chung, người như vậy lâm chung có cần trợ niệm không? Có phải dặn dò người nhà những việc lâm chung không?
 
Đáp: Đương nhiên, người tín-nguyện niệm Phật vãng sanh đã được quyết định rồi, không cần phải đợi người đến trợ niệm, không cần nương vào trợ niệm nữa.
 
Người niệm Phật chúng ta thường gần gũi Sư phụ, liên hữu, lúc lâm chung phải có nhiều người

* Trang 349 *
device

đến hộ niệm, không thể chỉ có một người. Lúc đó liên hữu hẹn nhau, đến từ biệt nhau lần cuối, lúc này người lâm chung nhất định cũng cảm nhận rằng: Được sự cứu độ của Phật A-di-đà, ân đức này rất to lớn, cho nên khi nhục thân còn tồn tại chỉ trong từng giây từng phút, nên niệm thêm vài câu danh hiệu Phật nữa để báo đáp ân Phật.
 
Lúc lâm chung, nếu liên hữu đồng thanh niệm Phật, đây là việc rất thù thắng. Hơn nữa, thường thường người sắp lâm chung sẽ hiện ra điềm lành không thể nghĩ bàn. Lúc đó, nếu có rất nhiều liên hữu tụ tập ở bên, chúc mừng sự vãng sanh của anh ta, trong tướng lành đó dễ khiến cho những người không tin pháp môn tha lực mà phát khởi tín tâm. Chỉ cần tướng lành này có hiệu quả thì hơn mấy năm giảng kinh thuyết pháp, giảng kinh mấy năm chưa chắc khiến người ta tin, tướng lành hiện ra thì không thể không tin.
 
44. Hỏi: Công án Sư phụ nói, chính là một vị Ba-là-môn và vợ của ông cùng niệm Phật, tại sao ông ta niệm Phật mà vẫn vào địa ngục? Xin Sư phụ khai thị.
 
Đáp: Việc này có lẽ tuy xưng niệm, nhưng lại niệm một cách miễn cưỡng, niệm một cách đối phó.
 
Tuy ông ta đọa vào địa ngục, nhưng rốt cuộc

* Trang 350 *
device

ông ta niệm danh hiệu Phật, câu danh hiệu này trong cơ duyên nào đó phát huy công năng, cho nên công năng đó hiển lộ ra, tuy không lập tức vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nhưng công năng đã hiển lộ ra.
 
Có lẽ đây cũng là sự sắp đặt của Phật A-di-đà, khiến cho ông ta đến địa ngục, nhờ câu danh hiệu này để độ càng nhiều chúng sanh hơn, đồng thời lại để ông ta trở về dương gian, kể lại câu chuyện này cho người thế gian, làm cho người nghe đến đều cảm động, đều xưng danh, sau đó lại truyền bá khắp nơi.
 
Sự tích của ông ta chỉ trình bày ngắn gọn như vậy mà thôi, đến như nhân trước quả sau, hoàn toàn không nói rõ, cho nên chúng ta chỉ có thể suy luận như vậy.
 
Chúng ta biết, câu danh hiệu này có thể làm cho người xưng niệm vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vị Bà-la-môn này không thể vãng sanh, vậy thì có nhiều nguyên nhân.
 
Người có thể vãng sanh, đương nhiên suốt đời chuyên xưng danh hiệu Phật, suốt đời chuyên xưng danh hiệu Phật thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Sở dĩ anh ta chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, đương nhiên có động cơ và mục đích. Động cơ và mục đích của anh ta là chán lìa Ta-bà,

* Trang 351 *
device

nguyện sanh về Cực Lạc, sau đó mới xưng niệm câu danh hiệu này. Khi nói anh ta có động cơ này mà xưng niệm câu danh hiệu, anh ta có hiểu rõ sự cứu độ của Phật A-di-đà hay không, cũng không quan trọng gì, vãng sanh là chắc chắn, bởi vì anh ta hợp với điều kiện vãng sanh---chán lìa Ta-bà, nguyện sanh Cực lạc, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
 
Nếu chẳng phải như thế, thường bỏ dở nửa chừng, cũng như có người bảo anh ta câu danh hiệu này rất tốt, chỉ cần xưng niệm có thể tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng thêm phước huệ, nhưng tâm sanh tử của anh ta không tha thiết, vừa bị bệnh hoạn, nghịch cảnh thì không niệm nữa. Nếu không niệm nữa, có lẽ duyên này sẽ mất, hoặc giảm đi.
 
Kinh A-di-đà nói:
 
Nếu có người nào đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, thì các thiện nam tử hay thiện nữ nhân ấy, đều được bất thoái chuyển nơi A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam bồ-đề, ở cõi nước kia, hoặc đã sanh, hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh.
 
Ý nói, hiện tại có nguyện chân chính, hiện tại sẽ quyết định vãng sanh. Nếu không có quyết định, là bởi nhân duyên không đủ. Hiện tại không vãng sanh, tương lai phát nguyện sẽ vãng sanh. Vì thế, kinh văn nói: “Những người ấy, hoặc đã sanh,

* Trang 352 *
device

hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh”, đã phát nguyện, đã vãng sanh, nếu không phải như thế thì hiện tại phát nguyện vãng sanh, bất kể sáng hay tối, đều sẽ vãng sanh; cho nên nói: “Đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện”, thì “hoặc đã sanh, hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh”. Không sợ không vãng sanh mà chỉ sợ không có nguyện này; chán lìa Ta-bà, nguyện sanh Cực Lạc, thì tự nhiên sẽ xưng danh.
 
Lúc lâm chung bệnh đau đớn, niệm Phật không nổi, có thể vãng sanh không? Vãng sanh như thường! Tổ sư Đàm Loan đã từng nói:
 
Nếu người chỉ nghe cõi nước kia thanh tịnh an lạc, khắc niệm nguyện sanh cũng được vãng sanh, liền nhập vào chánh định tụ.
 
Ý Tổ sư Đàm Loan nói: Nếu như có người ‘chỉ nghe cõi nước kia’, nhưng chỉ nghe đến cõi nước thế giới Cực Lạc là một cõi nước thanh tịnh an lạc, ‘Ồ, có nơi tốt đẹp như thế, tôi phải đến’---
 
‘Khắc niệm vãng sanh’, ‘khắc niệm’ là thực sự có tâm nguyện sanh; ‘khắc niệm nguyện sanh, cũng được vãng sanh’, hạng chúng sanh này cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Đồng thời, ‘liền nhập vào chánh định tụ’, đã quyết định thân phận thành Phật, gọi là ‘chánh định tụ’. Vì thế, loại nguyện sanh này đã bao gồm cả tín bên trong, bởi vì anh ta tin tưởng có Đức Phật A-di-đà ở thế giới Cực Lạc. Có

* Trang 353 *
device

tín-nguyện-hạnh cũng nằm ở trong câu danh hiệu, bởi vì hạnh là công đức của Phật A-di-đà đã tích lũy từ nhiều kiếp lâu xa, muốn ban cho chúng sanh bản nguyện này để vãng sanh. Chúng sanh nguyện vãng sanh, nói theo nguyện thứ 18 là, chúng sanh nhận được sự kêu gọi của Phật A-di-đà!
 
Hạng chúng sanh vừa mới nói, tự nhiên cũng nhận được lời kêu gọi của Phật A-di-đà, tại sao vậy? Vì lời kêu gọi của Phật A-di-đà tùy lúc, tùy nơi đang kêu gọi chúng ta, loài hữu tình hay vô tình đều thuyết pháp cho chúng ta nghe, Ngài dùng sự thanh tịnh trang nghiêm của thế giới Cực Lạc để hấp dẫn chúng ta, chỉ cần có thể dẫn tâm nguyện vãng sanh của chúng ta, thì mục đích kêu gọi Phật A-di-đà đã thành tựu.
 
Nam-mô A-di-đà Phật!

* Trang 354 *
device

* Trang 355 *
device

 
Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ