LOGO VNBET
LỜI TỰA
 
 
Đại ý ba kinh một luận Tịnh Độ và phần phụ Hỏi đáp về niệm Phật, căn cứ theo việc hoằng pháp của pháp sư Huệ Tịnh diễn giảng vào tháng 7 năm 1999 tại Thiên Tân, mà ghi chép và chỉnh sửa lại.
Ba kinh Tịnh Độ là kinh Phật thuyết Vô Lượng Thọ, kinh Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ, kinh Phật thuyết A-di-đà. Một luận là luận Vãng sanh của Bồ-tát1 Thế Thân2, được
_________________________________
1 Bồ-tát 菩薩 Hd: Đạo chúng sanh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sanh. Cg: Bồ-đề-sách-đa, Mạo-địa-tát-đát-phược, Phù-tát. Gđ: Bồ-đề-tát-đỏa. Người tu hành trên cầu thành Phật bằng trí huệ, dưới hóa độ chúng sanh bằng tâm từ bi, tức là người đầy đủ 2 hạnh: Tự lợi, lợi tha và dũng mãnh cầu thành Phật.
2 Thế Thân 世親 (316-396) Cg: Thiên Thân. Đại luận sư Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỉ 4-5 người thành Phú-lâu-sa-phú-la, nước Kiện-đà-la thuộc Bắc Ấn Độ, là con thứ tư của Quốc sư Bà-la-môn Kiều-thi-ca. Lúc đầu Sư cùng với anh là Vô Trước học Tát-bà-đa bộ, ngài Vô Trước học thẳng vào Đại thừa, ngài Thế Thân học kinh Lượng bộ, lập chí cải thiện giáo nghĩa Hữu bộ. Sau đó Sư nghiên cứu luận Đại tì-bà-sa. Tác phẩm của Sư, gồm hơn 40 loại.

* Trang 11 *
device

Tổ sư Đàm Loan1 chú giải, tức là Vãng sanh luận chú. Đại ý là ý nghĩa của tông chỉ, nhãn mục, tinh túy, bí yếu. Hỏi đáp về niệm Phật là các nghi vấn được hàng tín chúng nêu ra khi tu học pháp môn Tịnh Độ, được y cứ vào kinh luận để giải thích.
 
Giáo lý của tông Tịnh Độ2 , tức là ba kinh Tịnh Độ và Vãng sanh luận chú này được các Tổ sư truyền thừa giải thích lập nên. Bất cứ người nào có tâm tu học pháp môn Tịnh Độ muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì đều phải hiểu rõ về tông chỉ của ba kinh và một luận, y cứ theo lời dạy mà thực hành. Nếu không tức là tu mù, luyện mù, việc vãng sanh Cực Lạc sẽ không thể thực hiện được.
 
Nhưng giáo lý rốt ráo của pháp môn Tịnh Độ trong ba bộ kinh Tịnh Độ này biểu thị như thế nào? Giáo lý các kinh này cùng với Thánh Đạo
_________________________________
1 Đàm Loan 曇鸞 (476-542): Cao tăng Trung Quốc, thuộc tông Tịnh Độ, sống vào đời Nam Bắc Triều, người Nhạn Môn huyện Đại, Sơn Tây. Nhật Bản tôn Ngài làm Sơ tổ trong 5 vị tổ của tông Tịnh Độ. Sư trụ trì ở chùa Huyền Trung, Phần Châu. Sư thường đến núi phía Nam núi Giới Sơn giảng kinh, xiển dương pháp môn niệm Phật. Sư là học giả nổi tiếng về Tứ luận. Tác phẩm: Vãng sanh luận chú 2 quyển, Tán A-di-đà kệ.
 
2 Tông Tịnh Độ 淨土宗: Tông phái lấy việc vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc làm mục đích. Tông này do ngài Huệ Viễn đời Đông Tấn, Trung Quốc sáng lập.

* Trang 12 *
device

môn1 có gì sai khác? Lại nữa, trong Tịnh Độ môn2 thì tông chỉ của ba bộ kinh này là giống hay khác nhau? Nếu như không giống thì tại sao cùng được gọi là ba kinh Tịnh Độ? Nếu như hoàn toàn tương đồng thì một bộ kinh là đủ rồi, cần gì Đức Thích Tôn phải nói đến ba bộ kinh? Hoặc nói: Có giống nhau, có khác nhau, như vậy giống ở chỗ nào, khác ở chỗ nào? Gặp chỗ không giống nhau thì phải giải quyết như thế nào?
 
Lại nữa, trải qua các triều đại, nhận được nhiều sự quan tâm, nên ba kinh Tịnh Độ này được các học giả của các tông phái khác đua nhau chú sớ, giải thích về ý nghĩa của kinh nên đều có khác nhau, và rốt cuộc lấy sự giải thích của vị nào để làm tiêu chuẩn?
 
Đối với những vấn đề nói trên, nếu như không có sự phân biệt rõ ràng thì tất nhiên mập mờ chung chung. Hoặc lấy Thánh Đạo môn giải thích sai về Tịnh Độ môn, hoặc chấp tạp hạnh, tự lực hồi hướng. Dù muốn cố làm cho tâm này chân
__________________________
1 Thánh Đạo môn 聖道門: Pháp môn tu hành của bậc thánh. Tịnh Độ giáo chia Phật đạo thành 2 loại Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn. Ngay trong đời này tự lực tu hành, ngộ đạo trở thành bậc thánh, gọi là Thử độ nhập thánh, đó gọi là Thánh Đạo môn.
 
2 Tịnh Độ môn 淨土門: Nương vào bản nguyện tha lực của Phật A-di-đà mà vãng sanh Cực Lạc rồi ngộ đạo, gọi là Bỉ độ nhập chứng, đó gọi là Tịnh Độ môn.

* Trang 13 *
device

thật niệm Phật, cũng không thể được chân thật, bởi các sự nghi ngờ đầy ắp trong tâm.
 
Hiện tại người tu học Tịnh Độ rất nhiều, nhưng mấy ai có thể hiểu rõ và nắm vững được nghĩa lý chân thật của Tịnh Độ, tâm thẳng như dây đàn, không lệch lạc, không phóng túng, Nhất hướng chuyên xưng1, vào thẳng bảo sở, người như vậy quả thật rất ít. Mỗi khi thấy có người lúc đầu học pháp môn Tịnh Độ, rồi sau đó lại thay đổi pháp môn khác; hoặc bề ngoài dường như chuyên tu, nhưng tâm thật đa nghi, suốt ngày tu hành, suốt ngày hoảng sợ, trong tâm tôi không tránh khỏi thương tiếc đau buồn: Tại sao con đường to lớn cứu độ của Đức Phật A-di-đà mở ra rộng rãi, an lạc dễ đi, mà tâm của nhiều người tự xưng tu học Tịnh Độ, lại quanh co, mù mờ, gập ghềnh khó đi như vậy? Nhìn lại quá trình con đường nơi tâm của chính mình, biết được nguyên nhân chính là thiếu sự hướng dẫn sáng suốt của các vị thiện tri thức!
 
Nay có pháp sư Huệ Tịnh nhận lời thỉnh diễn giảng về Đại ý ba kinh một luận Tịnh Độ, thông hiểu đạo lý, nội dung sâu sắc, lời lẽ dễ hiểu, chất phác trong sáng, ngay thẳng, không thiên lệch. Lòng thương xót
 ____________________
1 Nhất hướng chuyên xưng: Nghĩa là một lòng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà đến suốt đời, không bao giờ thay đổi gọi là Nhất hướng chuyên xưng.


 

* Trang 14 *
device


của Đức Phật Thích-ca là thản nhiên triệt để hiển bày; bản hoài của Phật A-di-đà lại không có gì ngăn cản. Như vào Long cung trực tiếp lấy bảo tạng đem về để làm lợi ích cho người thế gian, vô cùng vô tận. Đọc bộ sách này, suy ngẫm bộ sách này, tin bộ sách này, thực hành bộ sách này, tự nhiên đã nắm chắc được danh hiệu quý báu; không khẩn không cầu, sự nghiệp vãng sanh đã được quyết định.
 
Đại ý ba kinh một luận Tịnh Độ này, bất luận là tự cầu quyết định vãng sanh, hay là để thấu triệt nghĩa lí sâu xa của tông Tịnh Độ, nắm chắc được cương yếu thì sẽ làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh, cho nên cần phải đọc!
 
Do văn nói, từ ghi âm chuyển thành văn viết, có sự khó khăn nhất định, nên cần phân thêm dấu ngắt câu, ghi rõ cách thức phân đoạn. Văn nói thể hiện nối tiếp liên quan các loại ngữ khí, ngữ nghĩa trước sau, trong cái thể của văn viết cũng rất khó biểu hiện, cho nên trong quá trình ghi chép chỉnh sửa, thường hay cân nhắc nhiều lần, cố gắng đạt được chủ ý của pháp sư Huệ Tịnh, truyền đạt chính xác không sai. Đồng thời, để khiến cho người học càng thêm dễ hiểu, đặc biệt sắp xếp theo các mục giống như phân khoa.
 
Nhưng do trình độ người ghi chép, chỉnh sửa có giới hạn, lại chưa được pháp sư Huệ Tịnh xét duyệt,
 

* Trang 15 *
device

trong đó có những chỗ độ chuẩn xác không cao, thậm chí khó tránh khỏi sai lầm, ngoài việc hướng đến Phật A-di-đà và pháp sư Huệ Tịnh cầu nguyện tha thứ, cũng xin những liên hữu rộng lượng bỏ qua.
 
Từ trong các bộ kinh đó, chúng ta cũng thể hội được những lời dạy của các vị cổ đức đối với kinh điển ‘một chữ một câu cũng không thêm không bớt’ là điều quan trọng biết bao!
 
Các vị pháp sư và liên hữu tham gia vào việc ghi chép chỉnh sửa lại cuốn Đại ý ba kinh một luận Tịnh Độ, đều thấm sâu vào dòng nước pháp của Phật A-di-đà cứu độ, vui mừng được tắm gội trong ân đức của thiện tri thức giáo hóa, cho nên đều dùng cái tâm thuần khiết tín ngưỡng, vô ngã để cảm tạ, dấn thân vào công việc này mà không mong nổi danh, ở đây biểu thị sự tôn kính và cảm ơn sâu sắc.
 
Trước đây gọi là ‘tự’, cho rằng cái đức của người trứ tác và sự ưu việt của nguyên tác ngang nhau để tạo nên sự giới thiệu đúng như thật, cốt phát khởi tín tâm cho người đọc. Nhưng mặt trời, mặt trăng trên cao không thể lấy núi để thí dụ, miễn cưỡng lấy núi để thí dụ, tuy nói núi cao, nhưng quả thật trở thành thấp. Đại ý ba kinh một luận Tịnh Độ này có ý nghĩa chỉ dạy rất quan trọng đối với người tu Tịnh Độ hiện nay, do người biên soạn trí tuệ nông cạn vụng về, tuy muốn tán dương nhưng e rằng che


 

* Trang 16 *
device

lấp cái đẹp ấy, hãy để chư Phật trong mười phương và chúng Bồ-tát trong hội Tịnh Độ dị khẩu đồng âm hiện tướng lưỡi rộng dài, nhiều kiếp khen ngợi pháp môn niệm Phật và lưu truyền khắp mọi nơi!
 
Từ tư tưởng trứ tác của pháp sư Huệ Tịnh, xin quý vị hãy cảm nhận được sự sâu sắc hương thơm niệm Phật thanh tịnh vi diệu!
 
Nam-mô A-di-đà Phật!
Ngày 10 tháng 7 năm 2000
Thích Tịnh Tông cẩn tự

* Trang 17 *
device

* Trang 18 *
device

 
Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ