LOGO VNBET
Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát
Hóa Thân

 
Chỗ ở của tôi ở số 16 Lam Gia Trang lan viên thuộc Nam Kinh. Bốn phía xung quanh đều có hàng rào tre, đằng trước và đằng sau đều có hai cánh cửa ra vào. Một buổi sáng vào tháng 7 năm Dân Quốc 24 (1935) hai cánh cửa trước và sau còn chưa mở, bỗng có một vị lão Tăng bay đến, đầu đội mũ Tỳ Lô, mình mặc áo xanh màu nước biển. Trước ngực có đeo hơn mười chuỗi tràng hạt dài chấm đến mặt đất. Hai chuỗi tràng hạt ở cánh tay áo cũng dài chấm đến mặt đất, trông khí thế rất là trang nghiêm, tràng hạt sáng chói. Tôi hỏi: “Lão Sư Phụ đến từ đâu?” Vị lão Tăng trả lời: “A Di Đà Phật. Tôi đến từ An Huy Cửu Hoa Sơn”. Tôi liền hỏi: “Cửa chưa mở sao Sư Phụ vào được?” Lão Tăng trả lời: “Tôi có phép thần thông, đâu tôi cũng vào được”, nói rồi cho tôi xem một cuốn sách dầy có đề Cửu Hoa Sơn Địa Tạng Vương Bồ Tát tám chữ, bìa mạ chữ vàng, ba chữ Cửu Hoa Sơn viết ngang, còn năm chữ kia viết dọc, bốn bên cũng là màu vàng, rất là sáng bóng.

* Trang 220 *
device

Lão Tăng chắp tay nói: “Tôi đến hóa duyên”. Tôi nói: “Nếu vậy tôi xin gọi là viết chi phiếu chút ít”. Lão Tăng nói: “Tôi không lấy tiền. Hôm nay tôi đến là cố để tìm bà nói vài câu chuyện”. Tôi hỏi: “Sư phụ sao lại nhận được tôi?” Lão Tăng trả lời: “Tôi có phép thần thông nên biết bà từ lâu”. Tôi để ý đến chiếc mũ màu xanh của vị lão Tăng rất đặc biệt. Lão Tăng liền nói: “Đó là chiếc mũ từ đời cổ, năm nay tôi đã hơn 100 tuổi”. Tôi bèn kéo ghế mời ông ấy ngồi, ông ấy không chịu ngồi, rót nước mời, ông ấy cũng khước từ không chịu uống, và chỉ nói: “A Di Đà Phật! Bà là người có thiện căn, cùng Phật có duyên. Sau khi bà 40 tuổi thì mới thấy cần phải học Phật. Đến lúc đó bà mới hiểu lời nói của tôi”. Tôi hỏi: “Sao Sư Phụ lại biết được việc đời của tôi?” Lão Tăng trả lời: “Tất cả mọi sự trong lòng người, tôi đều biết. Mọi sự kiếp trước của người tôi cũng biết. Những về ba đời trước của bà tôi cũng đều biết. Tôi sẽ kể cho bà nghe. Tôi mong rằng sau này bà khéo tu, tốt hơn kiếp trước. Thế nào cũng có thành tựu tốt hơn. Tôi xem lòng bà hiện nay đang hoài nghi. Tôi khuyên bà hãy đừng hoài nghi, là vì tôi có phép thần thông nên hiểu được”.
Lúc đó tôi thấy tướng của lão Tăng rất đạo mạo. Đột nhiên đến đây nói rất nhiều chuyện, và luôn miệng nói ông có phép thần thông. Tôi không hiểu thế nào là thần thông, trong lòng quả thực có hoài nghi, còn đang suy tư, mọi chuyện đều bị ông lão Tăng hiểu hết cả. Tôi thật không biết thế nào là Phật. Mẹ tôi và Mẹ chồng tôi cũng đều tin Quan Thế Âm Bồ Tát, thì tôi cũng tin

* Trang 221 *
device

Quan Thế Âm Bồ Tát. Lão Tăng nói thế nào là Phật, thế nào là Bồ Tát, Thánh hiệu của Phật và Bồ Tát rất nhiều, sau năm 40 tuổi thì bà tự nhiên hiểu cả. Tôi coi hình như bà còn hoài nghi, không tin lắm. Nay tôi nói chuyện sự thật cho bà nghe. Thí dụ như ông ấy là Châu Bang Đạo, là đốc học ở Bộ Giáo Dục, diện mạo và tính tình như thế nào, tôi nói cho bà nghe thì bà tin ngay”. Tôi hỏi: “Sư Phụ làm sao lại biết được ông ấy?” Lão Tăng nói: “Tôi đã nói với Bà là tôi có phép thần thông, tôi muốn thấy ông ấy lúc nào cũng được”Tôn và Hứa hai người làm đứng kế bên nói: “Ông ấy bè bạn rất nhiều, và nhiều người đồn đại, ai mà không biết!” Lão Tăng nói: “Nếu thế thì con trẻ chắc không nhiều bè bạn, cũng chẳng có người đồn đại, vậy tôi nói chuyện của trẻ em. Đứa con thứ tư của bà tên là Xuân Đề, hiện ở kế bên, tôi không cần nói, con lớn là Xuân Cảnh, con thứ hai là Xuân Phúc, con thứ ba là Xuân Quý, tất cả đều đi học tại Trường Tiểu Học ở Liên Hoa Kiều, diện mạo và tính nết của họ là không cần nói, có phải vậy không? Bây giờ bà có thể tin được rồi. Bà là một hiền phụ, hiếu phụ, hiếu thảo với Cha Mẹ và bố Mẹ chồng. Bình sinh kiếp trước bà có một đoạn nhân duyên đặc biệt với Mẹ chồng, cho nên bà rất hiếu thảo với bà ấy. Đối với nhân loại, chữ hiếu rất là quan trọng, bà tận hiếu đạo với Cha Mẹ hai họ là một điều rất quý ở trên đời.
Lúc đó con thứ năm tên là Xuân Đường còn trong thai, nhà bảo sanh thấy bụng tôi lớn quá, cho rằng có vấn đề nên không chịu phụ trách việc giúp trợ sản, lòng

* Trang 222 *
device

tôi rất lo lắng và áy náy vô cùng. Lão Tăng nói rằng: “Hiện bà mang thai là con trai, cốt cách lớn nên bụng to, đừng có lo, không có gì nguy hiểm cả, đến mùng 9 tháng 8 giờ Thìn thì ra đời, sinh đẻ rất dễ dàng, đứa trẻ không khóc chút nào, tính tình của nó là như vậy” và còn nói: “Sinh năm đứa con trai rồi sinh con gái. Chính ra số bà có năm con trai, hai con gái. Nhưng bà không khéo tu cho tròn nên chỉ có một con gái thôi. Lúc đứa con gái sinh ra sẽ gặp nạn, nhưng tôi thường đến thăm phù hộ, bà đừng có lo lắng gì cả, không có gì nguy hiểm đến tánh mạng. Nhưng có một điều là bà phải phát nguyện, cúng đèn dầu thờ phụng trước bàn thờ các Phật và Bồ Tát trên núi Cửu Hoa, nhiều hay ít là tùy ở bà. Bà không lên tiếng, tôi hỏi bà có thể cúng 100 cân dầu đèn hay không? Nếu có thể thì bảo đảm cả gia đình bình an, lúc sinh con gái không có gì nguy hiểm cả. Cúng 20 có thể chứ?” Tôi nói: “Có thể”Lão Tăng không ghi vào sổ cầm tay, chỉ biên vào một tờ giấy là “Châu Dương Tuệ Khánh cúng dầu đèn 20 cân”, rồi bảo tôi thắp ba nén hương đi theo ông ấy đến phía Tây Nam sau vườn hành lễ. Lão Tăng đốt tờ giấy nói rằng: “Trên Cửu Hoa Sơn đã biết việc này”. Tôi nhìn thấy lão Tăng đó đi qua đi lại chân bước nhẹ như bay không một tiếng động. Trong lòng lấy làm lạ, nhưng chẳng hiểu tại sao ? Tôi hỏi: “Sao Sư Phụ lại biết tên họ của tôi?” Ông ấy trả lời là: “Tôi đã nói nhiều lần là tôi có phép thần thông”. Tôi bèn lấy tiền đưa ông ấy. Ông ấy không nhận, nói rằng: “Bà cúng dầu là đủ rồi, nếu là tự bà mang dầu đến thì tôi đích thân ra chào bà. Nếu bà

* Trang 223 *
device

sai người mang đến thì tôi không ra tiếp. Bà có thể sai người này đi (chỉ người làm họ Tôn, nói rằng: “Người này là người ở huyện An Huy”. Người đó sẽ biết để vào trong Điện này” (bèn viết tên Điện vào tờ giấy. Tiếc rằng thời gian kháng chiến, gia đình dời đổi chỗ ở nhiều lần nên tờ giấy này bị mất đi).
Hứa Thị bĩu môi nói rằng: “Nói là không lấy tiền, dầu không phải là tiền ư?” Lão Tăng nói: “Cô biết gì? Tiền thân kiếp trước cô là gì? Rất đáng thương, tôi không muốn nói. Bà chủ cô là người tốt rất hiếm có, cho nên tôi đến đây nói chuyện với bà ấy. Cô đừng có nhiều lời. Đã sắp về chiều rồi, ông nhà đã sắp tan sở về nhà. Tính ông ấy nóng nảy, sẽ cho tôi là một Hòa Thượng hóa duyên, một Hòa Thượng cần tiền, thế nào cũng mắng tôi và bà. Bà đừng giận, tôi cũng không giận đâu. Ông ấy là một người có lòng tốt. Ông ấy tức giận một hồi thì vô sự. Năm trước khi còn ở Thượng Hải, có người đến mạo xưng là bạn của ông, gạt một số tiền của bà, có phải là ông mắng bà một trận rất lợi hại không? Số tiền đó là do kiếp trước bà nợ của người ấy, nay trả cho người ấy là điều rất tốt thôi, bà đừng nên khó chịu và khóc lóc nữa” (Chính vì việc này mà tôi đã rất khó chịu và khóc lóc).
Chồng tôi khi ở Nam Kinh, tuy thường đến Viện China Hội Học Viện thăm Thầy. Ông ấy là lão cư sĩ Châu Thiếu Do, bỏ tiền ra khắc Kinh, và nhờ Nghi Hoàng Đại Sư Âu Dương Cảnh vô khắc bia trước mộ Mẹ. Trong bia khắc “Xoay vần ba ngàn, chỉ là sức nhẹ,

* Trang 224 *
device

ghi ơn Cha Mẹ là công đức rất lớn, ta khắc bia thờ Mẹ, mong sớm tới nơi Cực Lạc”. Tuy vậy nhưng ông lại chưa hề nghe tụng Kinh, chưa hiểu Phật pháp, chưa hiểu nghĩa Tăng, lúc đó vì bị sự kiện bài trừ quan niệm mê tín làm ảnh hưởng nên tư tưởng mâu thuẫn. Vì năm đó tôi bị người gạt tiền, ông cho rằng tôi ngu dại hay bị lường gạt, về nhà không tìm hiểu đầu đuôi, bèn tức giận mắng tôi không nên nghe lời mà tùy tiện quyên tiền, phần lớn các người mượn danh Hòa Thượng đi hóa duyên xin tiền trục lợi.
Lão Tăng mỉm cười nói: “Tôi biết thế nào ông cũng tức giận. Ông đừng mắng tôi và đừng chửi vợ ông. Kiếp trước ông đã khéo tu, kiếp này được người vợ hiền, sau này còn phải nhờ vợ độ ông và giúp ông. A Di Đà Phật: A Di Đà Phật”.
Người làm Hứa Thị tiễn lão Tăng ra khỏi cửa, khi trở vào nói với tôi rằng không biết tại sao khi lão Tăng ra khỏi cửa thì không thấy đâu nữa, chẳng hiểu rõ chuyện gì? Tôi vì việc này rất buồn phiền vì không hiểu tại sao, những lời nói của vị lão Tăng không dám kể lại với chồng tôi. Nhưng y phục, tràng hạt và tiếng nói, mỉm cười, cử chỉ của lão Tăng đều in sâu vào trong óc của tôi.
Giờ Thìn ngày mùng 9 tháng 8 năm đó, quả nhiên đứa con thứ năm của tôi ra đời, khi sinh ra rất yên tĩnh, ngủ thiêm thiếp không một tiếng khóc. Mẹ con đều bình an. Ngày 26 tháng Giêng, khi sinh đứa con Xuân Bàn thì tôi bị bệnh viêm ở bụng, bệnh tình nghiêm

* Trang 225 *
device

trọng, chữa trị hơn một tháng mới khỏi, chuyển nguy thành an. Mọi việc xảy ra so với lời nói của vị lão Tăng ngày trước thì hoàn toàn phù hợp.
Cuộc kháng chiến đang kịch liệt, gia đình tôi rời khỏi Nam Kinh di cư về quê. Tháng Giêng năm Dân Quốc 27 (1938), chồng tôi được lệnh đi giữ chức hiệu trưởng trường Quốc Lập Đệ Tam Trung Học. Cả gia đình lại từ Thụy Kim dọn đến Đồng Nhân Quý Châu. Mùa Xuân năm thứ 30 (1941), chồng tôi chuyển nhiệm đi Trùng Khánh giữ chức Tham Sự Viện Khảo Thí, Mẹ con tôi thì vẫn ở lại Đồng Nhân Quý Châu. Tôi thường nghĩ đến mẹ chồng tôi đã mất hơn mười năm, trong lòng rất thương nhớ, mỗi khi nghĩ đến thì nước mắt nhỏ giòng. Tháng chín năm đó tôi vừa tròn 40 tuổi, thường nghĩ đến làm thế nào để đền ơn. Có người nói nếu muốn báo ơn Mẹ chồng thì phải lễ Phật, đọc kinh huyết Bồn. Một vị nữ sĩ Đạo giáo đến nói là dạy tôi đọc kinh ấy, nhưng phải lạy nữ sĩ là Thầy (Sư Phụ). Không hiểu sao tôi cảm thấy không ưng ý mấy, nên lần lữa nhiều lần, không chịu đến nhà bà ấy lần nào.
Tháng 3 năm 31 (1944), đêm tôi nằm mơ thấy hai vị Tăng mặc áo cà sa, hai tai dài chấm vai, một vị mặc áo màu xanh, bước vào cửa bèn gọi tên tôi nói rằng: “Chuỗi tràng hạt cổ đời nhà Hán, làm bằng ngọc La Hán có còn hay không?” (Chuỗi tràng hạt này là chồng tôi lúc ở Hà Nam Sùng Sơn trong miếu Trung Nhạc được vị lão Tăng tặng). Vị Tăng khác nói: “Bà đừng nên vội vã lo lắng, sau này tôi sẽ giới thiệu”. Giới

* Trang 226 *
device

thiệu? Tôi cũng chẳng biết ông nói giới thiệu là cái gì, nhưng tôi cũng nói cho có lễ phép, là xin Sư Phụ lưu ý.
Ngày 19 tháng 6 ở miếu Đông Nhạc ở Đồng Nhân có tổ chức Quan Âm Hội, bỗng có người lớn tiếng nói ba bốn lần rằng: “Quy Y Tam Bảo”, “ Quy Y Tam Bảo” nói ba bốn lần như vậy. Câu nói này ai cũng nghe thấy, nhưng không biết là ai nói, và chẳng hiểu ý nghĩa thế nào là Quy Y Tam Bảo, chỉ nghe thấy tiếng mà thôi. Sau tôi đến thỉnh giáo Khoan Ngạn Đại Sư, thì được biết ít nhiều về câu nói đó. Tôi bèn xin được quy y, nhưng ông ấy không thuận và nói: “Trong thời gian kháng chiến, chỉ lo chạy loạn, quy y cái gì? Sau này đến Phổ Đà Sơn mà quy y”. Tôi năn nỉ xin mãi. Ông ấy mới miễn cưỡng nhận lời, và nói: “Tôi thực không muốn bà quy y đâu, nhưng bỗng có tiếng nói trong không gian, e rằng Bồ Tát gọi các người quy y”, bèn cử hành nghi thức đơn giản. Thế là tôi bắt đầu quy y Tam Bảo, sau 40 tuổi sẽ tin Phật và học Phật. Đó là chứng nghiệm lời nói của lão Sư Phụ từ nhiều năm trước mà tôi quên lãng, nay mới nhớ lại.
Sau khi quy y, Khoan Ngạn Đại Sư dạy tôi đọc Đại Bi Chú. Tôi cầu dạy tôi đọc Kinh Kim Cang, nhưng ông ấy không chịu và nói: “Bà chưa hiểu, đọc làm gì?” Một đêm tôi có nằm mơ thấy có một vị lão Hòa Thượng dạy tôi đọc Kinh Di Đà, đọc xong thấy trên không trung có cái thuyền bay qua. Tôi sợ hãi hỏi: “Sao thuyền lại biết bay?” Lão Hòa Thượng nói: “Đó không phải là vật dễ thấy”.  Tôi quay lại thì thuyền và

* Trang 227 *
device

lão Hòa Thượng cũng biến mất, trong tay còn cuốn Kinh Di Đà. Khi tỉnh giấc thì cả Kinh Di Đà trong tay cũng không còn nữa. Tôi nghĩ kỹ lại dung mạo và thần khí của vị lão Hòa Thượng này thì thấy có nhiều điểm giống như vị Sư Phụ đã gặp khi ở Nam Kinh. Từ đó về sau tôi thường nghĩ đến vị Hòa Thượng những năm về trước.
Sáng hôm sau, Khoan Ngạn Đại Sư đến, nói là: “Ở cầu thang dưới nhà, nghe thấy bà đọc Di Đà Kinh”. Tôi kể lại chuyện đêm đó nằm mơ việc đọc Di Đà Kinh. Tôi xin hỏi cái gì là Di Đà Kinh? may nhờ ông ấy sơ lược giảng cho biết ít nhiều. Chiều hôm đó đem sách ra phơi, con tôi thấy một cuốn Kinh Phật do trước kia được ông Trương Mặc Quân in tặng (Những sách khi ở Nam Kinh không hề mang theo, không biết tại sao lại có một cuốn Kinh lộn vào đống sách, đó mới có lẽ là chuyện đặc thù). Kim Cang Kinh, Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, Tâm Kinh, Đại Bi Chú v.v..., trong đó đều có cả. Tôi mừng quá, từ đó bèn phát tâm tụng Kinh, trì chú, ngày đêm không ngừng, quên cả mệt nhọc.
Trong thời gian kháng chiến, chồng tôi cũng phát tâm tụng niệm Ma Lợi Chi Thiên Kinh. Lão cư sĩ Châu Thiếu Do cũng gửi thư nhắn bảo nên đọc Di Đà Kinh và xưng Quan Âm Thánh hiệu. Ở Đồng Khánh, ông Đới Quý Đào cũng được cảm hóa, lòng tin Phật càng ngày càng kiên cố, lựa chọn nhiều cuốn Kinh gửi đến Đồng Nhân cho tôi. Khi ông ấy ở Giang Tây phụ trách

* Trang 228 *
device

việc giáo dục, ở nhà tôi có Phật Đường, ông thường đến cùng chúng tôi lễ Phật. Sau khi đến Đài Loan, được lão cư sĩ Long Kiện Hành giới thiệu, cùng quy y Nam Hoa Hư Vân lão Hòa Thượng, và cùng là lão đệ tử thường theo hầu của Lý Tuyết Lư, nghe Kinh học Phật rất tiến bộ. Đó là đại khái nhân duyên học Phật của ông.
Tháng 7 năm 42 (1953) là ngày Thánh Đản của Địa Tạng Vương Bồ Tát, cư sĩ Tuyết Lư tặng cho nhà tôi khoảng mười bức hình tượng của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi nhìn hình Bồ Tát thấy quần áo và chuỗi tràng hạt nhìn giống y như vị lão Tăng hơn loo tuổi ở Cửu Hoa Sơn đã đến nhà mình ở Nam Kinh 24 năm về trước. Có khác là trong tượng hình dáng trẻ hơn một chút, và trong tay có cầm thêm một cây Tích Trượng bằng thiếc. Tôi nghĩ lại lời nói của ông ấy và mọi sự việc xảy ra, chứng minh đều là sự thực. Tôi tỉ mỉ kể cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong giẫy nẫy lên nói rằng: “Có những linh tích hy hữu như vậy, đương nhiên là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát, tại sao không sớm mà nói cho tôi nghe, để tôi mang tội cho đến nay. Cũng vì bà phát Bồ Đề đại nguyện, tôi cũng biết chỉ hữu định, nhất tâm nhất đức tùy đồng tu trì, đó không phải là bà đã độ tôi và giúp tôi ư? Bởi vậy cung kính lễ Phật và hết lòng sám hối”.
Trong tháng 12, Đài Trung Bảo Thiện Tự có mời Bạch Thánh Pháp Sư giảng về “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh”. Pháp Sư là người được Thế Phát ở Cửu

* Trang 229 *
device

Hoa Sơn. Lúc giảng Kinh thường nói đến sự tích của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trong Kinh cũng nói đến con đường thờ kính, hay xây tháp tự, hoặc tạc hình tượng, và cúng dường dầu đèn. Tôi nghĩ đến những chuyện dĩ vãng, y nguyên bản tường thuật, hỏi trên Cửu Hoa Sơn có vị Hòa Thượng đạo mạo hơn 100 tuổi không? Pháp Sư trả lời: “Tôi ở Cửu Hoa Sơn nhiều năm, chưa nghe và cũng chưa hề thấy có vị Hòa Thượng nào là có thể chứng minh sự tích của 18 năm về trước, là sự hóa thân của Ngài trên 100 tuổi”. Đó chắc là Địa Tạng Vương Bồ Tát hóa thân, Ngài cầm một quyển sách dày đưa cho Bà xem và thấy có mấy chữ màu vàng ấy mà chẳng chịu mở ra cho Bà viết, đi bộ rồi lại biến mất. Đây chính là một loại thị hiện khó thể nói hết được. Ngài Địa Tạng hay hóa thân đó đây ở các Thánh Tích. Những người ở gần Cửu Hoa Sơn, nhiều người nhận được ân đức nầy.
Trải qua một lần hỏi, có thể nói rằng với tướng kia có thể so sánh tức không còn nghi ngờ gì nữa. Mắt người thường nhìn đâu có biết Thánh nhân, và cũng không phân biệt được Phật và Bồ Tát. Vì vậy người thường mất đi một cơ duyên mà đời người khó mà tao ngộ, nên chưa hỏi nhiều về nhân quả, chưa thỉnh khai thị và có thể vi phạm sự tôn nghiêm của các đấng Thần Thánh và Bồ Tát mà gây nên tội lỗi. Cho nên hối lại cũng đã muộn, trăm đời cũng khó chuộc.
Tôi và nhà tôi kính cẩn quỳ bái trước bàn thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát ở Bảo Thiện Tự, cúng 20 cân dầu

* Trang 230 *
device

trong, để tỏ chút lòng túc nguyện, thành khẩn cầu xin, sám hối việc đã làm, và hồi hướng đến pháp giới, cũng như trời đất chư vị. Sám hối tội từ xưa đến nay, để mong được giảm bớt nghiệp chướng, để hướng về pháp giới.
Từ năm ngoái sám hối lễ Phật đến nay đã gần một năm, sơ lược nhớ lại ngọn ngành câu chuyện, tôi thành thật kể rõ cho quý vị đồng tu, cùng cung dẫn Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, trong phẩm thấy nghe đều được Lợi Ích của Thế Tôn nói rằng: “Ta thấy Địa Tạng oai thần lực, hằng hà sa kiếp nói khó hết, thấy nghe chiêm bái trong một niệm, lợi ích nhân gian vô lượng sự.” Muốn tu vô thượng Bồ Đề, phát tâm Đại Bi, trước nên lễ bái Tượng Đại Sĩ. Tất cả các nguyện mau thành tựu, quyết không nghiệp chướng hay đến gần.
Dân Quốc năm thứ 43 (1954), ngày 9 tháng 11.
Kiến Bồ Đề Thọ thứ 25, 26 - Lưỡng Nguyệt San
Dân Quốc tháng 12 năm 43 (1954)

* Trang 231 *
device

* Trang 232 *
device

 
Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục