LOGO VNBET
Phụ:
Địa Tạng Bồ Tát Linh Cảm Cận Văn


 
Tả Quân Phục Hòa, là cháu ngoại anh hai, và cũng là cháu bốn đời của Tả Văn Nhượng, rất thành tín với Phật pháp, và cũng rất ham nghiên cứu về khoa học. Nghe nói mẹ của Tả Quân ngày thường rất tôn kính và tin Phật pháp, và nhất là trì kinh Địa Tạng, thường chế luyện các thứ thuốc để phát cho các bệnh nhân. Năm 24 tuổi, Bà mắc bệnh mê man, bèn bảo gia nhân lo liệu đồ chay, rước Chư Tăng đến , thành kính tụng niệm Địa Tạng Kinh 3 ngày. Mẹ Tả Quân thấy Địa Tạng Bồ Tát hiện ra là một vị Cao Tăng, mình mặc áo cà sa, tay cầm Tích Trượng , đến bảo rằng: “Tuổi thọ của ngươi đã hết. Nhưng nghĩ đến người xưa, nay rất có lòng thành kính Phật, đã làm nhiều việc thiện, nên nay cho sống thêm mười hai năm nữa”. Từ đó bệnh khỏi. Sau sống mãi đến năm 36 tuổi mới êm đềm ra đi. Phục Hòa nói ngày trước thường nghe mẹ dạy dỗ phải làm nhiều việc thiện.
  • Nhiếp văn Đài ghi lại.

* Trang 134 *
device

Tào Tông Thanh Nữ Sĩ, hiệu là Tuyết Tài, người huyện Ngô Thục, Mẹ là Phan Thị phu nhân, bị mắc bệnh toàn thân sưng phù trên ba năm nay, bắt đầu khởi từ mùa Xuân năm Mậu Thìn. Chuyện được kể rằng: “Theo lời các thầy thuốc thì bệnh này gọi là khí hư trung mãn”, phải chờ đến khi nước trong da chảy hết mới chết, không có cách gì chữa khỏi được. Lúc đó tôi còn làm việc ở Thân Giáng, mỗi tháng mới về nhà một lần. Vào tháng Tư tôi về nhà, bệnh tình Mẹ tôi đã đến lúc lâm nguy, da bóng loáng như gương, nước đầy phù thủng, da như muốn nứt ra, đau đớn khôn cùng, tiếng khóc kêu la không ngớt. Tôi thật buồn rầu và rất đau lòng. Tôi đành cầu cứu những bè bạn tin Phật, được họ chỉ dẫn thành kính cầu nguyện Đức Địa Tạng Bồ Tát để cứu bịnh Mẹ, sẽ được cảm ứng.
Tôi liền phát nguyện mỗi ngày thành kính tụng niệm Địa Tạng Bồ Tát ba mươi lần, ăn chay ba tháng. Nếu Mẹ tôi được khỏi bệnh thì tôi trọn đời phụng thờ Phật, hành Địa Tạng nguyện, phổ độ chúng sinh cho đến kiếp sau và độ cho những chúng sanh khổ sở trong địa ngục. Đến buổi sáng ngày 27 tháng 5, khi tụng kinh viên mãn, đến buổi chiều Mẹ tôi bèn đi tiểu liên tục suốt một ngày rưỡi mới ngừng. Cả gia đình kinh hoàng sợ hãi. Mẹ tôi cũng tưởng là mình từ nay không khỏi được nữa. Các thầy thuốc đến khám bệnh đều rất lấy làm kinh ngạc, cho rằng một người già lớn tuổi đã hơn 73 tuổi mà còn có sức khỏe như vậy, có thể đã thông được hậu môn, nước chảy ra hết. Hai ba ngày sau, nước da trở lại bình thường, bệnh đã được khỏi hẳn, da dẻ

* Trang 135 *
device

hồng hào, như ngày cây khô thay da và mạnh khỏe như thường. Bệnh xưa đã lành hẳn.
Tào Tông Thanh Nữ Sĩ còn nói thêm rằng: “Từ ngày tôi nhờ ở Bồ Tát Địa Tạng linh ứng mà cứu chữa cho Mẹ tôi, lòng kính mến và tin Phật càng thêm thành kính”. Ngày 4 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tôi đến huyện Thân, đến bái yết Đại Ngu Pháp Sư, nhưng bị cự tuyệt, và nói tôi với Đại Sĩ có duyên, và thề hành Địa Tạng nguyện. Hôm sau pháp sư bèn truyền Đại Pháp cho tôi, thành tâm tu pháp, sớm chiều thề trước Phật, nguyện tận kiếp sau, vĩnh viễn phổ độ những chúng sinh chịu khổ dưới địa ngục. Cũng vì vậy nên với địa ngục chúng sinh tôi có tương cảm. Đêm 20 trong tháng, tôi nằm mơ cảm thấy hoang mang, một mình đi trên đường hướng về cầu sắt như có tiếng vọng bên tai, bảo tôi đi lên cầu. Vừa đi được mấy bước thì nghe có tiếng khóc than kêu van thê thảm dưới cầu vang lên, như tiếng khóc than của hàng ngàn vạn người lớn bé già trẻ. Lúc đó tôi rất lấy làm thương cảm,đau xót. Nhớ nghĩ đến hồi còn nhỏ thường nghe người ta kể lại, khi xây cất cầu cần nhiều mạng sống để tế lễ, không có tiếng khóc của người bị hại. Trong lòng cảm thấy bất an.Tôi đi thêm một đoạn đường dài khoảng hơn một dặm, tiếng khóc vẫn còn. Đi đến cuối cầu thì tôi có thấy một cửa thành bằng sắt cao lớn, ra khỏi cửa thành thì tôi chợt tỉnh. Lúc đó mới biết mình đang nằm trên giường. Mãi đến lúc đó tiếng khóc thảm thiết như còn văng vẳng bên tai, không hề giảm bớt. Khi tôi trấn tĩnh lại tinh thần, dưới ánh đèn, tất cả mọi vật trong phòng, thực không có thứ

* Trang 136 *
device

gì mà có thể gây ra tiếng động. Xét cho kỹ tiếng khóc rất là thê thảm. Cảm thấy đau xót thương cảm không thể cầm được, nước mắt tôi tuôn ra như suối. Tôi mới tỉnh nhận ra đó là tiếng khóc thê thảm của những chúng sinh bị đau khổ trong địa ngục mà ra. Tôi bèn mặc áo ngồi kiết già và âm thanh này mới hết. Đến ngày hôm sau, tôi sang báo cho Pháp Sư Đại Ngu biết. Sư nói: “Đó quả là tiếng khóc của chúng sinh bị nạn ở dưới địa ngục. Con đã thề nguyện, phát Địa Tạng nguyện, nên mới có cảm ứng như vậy, và được nghe những tiếng khóc than thảm thiết đó thì lại càng nên quyết tâm tu hành, công đức sớm được viên mãn, thì chúng sinh ở dưới địa ngục sớm được thoát nạn.” Tôi nghe lời chỉ bảo của Đại Sư, và cũng vì có lời nguyện trước nên bỏ hết mọi ý nghĩ, chuyên tâm tu hành, liền bỏ công việc và đầu tháng 5 vào rừng tĩnh tu.
Cố Tồn Tín, là cháu ngoại của học giả Hứa Viên Chiêu, năm lên hai tuổi bị chứng bệnh kết hạch, triền miên trong ba năm mà bệnh vẫn chưa khỏi. Mọi danh y đều bó tay. Nghe lời Hứa Viên Chiêu, đem tất cả những đồ vật yêu thích của cháu, y theo lời trong Kinh, đến trước mặt Tồn Tín đọc ba lần, nên đem bán các đồ vật ấy được mười đồng, rồi đem số tiền đó đi tạc một tượng Địa Tạng Bồ Tát, hàng ngày thành kính lễ bái. Từ đó bệnh của Tồn Tín khỏi dần, đến nay đã ba năm mà các chứng bệnh cảm cúm lặt vặt cũng không bị. Ngày mùng 2 tháng 3 năm Dân Quốc thứ 16 (1927) tôi có dịp đến thăm ông Viên Chiêu ở Thượng Hải, để trả

* Trang 137 *
device

tiền đường sá nhà cửa thì được mắt thấy tai nghe chuyện này.
Lý Viên Tịnh ghi.
 
Cư sĩ Tào Hựu Tân, người ở An Huy, từ nhỏ lắm bệnh. Mẹ là Vi Thị, đến núi Tư Sơn cầu nguyện, mong Bồ Tát phù hộ để cố tật của con được khỏi. Cả hai mẹ con đều thành tâm lạy Phật. Nhục Thân Tháp là nơi thắng địa của Bồ Tát, hàng ngày thiện nam tín nữ đến thắp hương cúng bái rất đông. Trước tháp là Thập Vương Điện. Trở xuống là Bạch Mã Đình, Hóa Thành Tự, ao Phóng Sinh, quanh co hàng trăm trượng, đường đi quanh co uốn khúc, người đi vất vả. Vi Thị phát nguyện, thề đi quyên góp lấy tiền tu sửa lại con đường. Khi lâm chung Vi Thị trối lại, bảo con đừng quên chuyện này.
Lại con đường này đã hơn mười năm nay, Hựu Tân một mực nghe theo lời Mẹ, vì công trình tu sửa lớn lao, đến nay vẫn chưa thực hiện được. Ngày tháng 2 năm Mậu Thìn, ngày lễ Quán Âm Thánh Đản, Hựu Tân lên cúng bái trên Chùa và lễ Tháp. Cúng xong Hựu Tân bèn đến trước Thiền Đường du lãm phong cảnh, bỗng nhiên thấy Mẹ Vi Thị và một số nữ gia nhân, mỗi người mang một cái túi, ở cổng chánh giáng xuống ngay trước mặt, cách Hữu Tân khoảng mười bước. Hựu Tân nhìn thấy mẹ rất rõ, bèn vội sấn bước đến gần,

* Trang 138 *
device

nhưng thoáng cái đã biến mất. Hựu Tân bèn nghĩ rằng, lời Mẹ trối lại khi lâm chung đến nay chưa hoàn thành, nên hiện thân điểm hóa nhắc lại. Từ đó Hựu Tân lại càng gắng sức quyên góp để sớm hoàn thành ý nguyện của Mẹ. Nay linh sơn thắng cảnh đường sá trang nghiêm, có thể nói là lấy lòng hiếu, và báo Phật ân để làm lợi lạc cho chúng hữu tình.
  • Hứa Chỉ Tịnh ghi.
Triệu Quế Khanh, người ở Hợp Phì, tỉnh An Huy, là người làm ruộng nhưng hiếu học. Vợ chồng ở với nhau đã quá 50 tuổi, chỉ sinh được một đứa con tên là Tồn Kim, đang vào học trong một Trường Tư Thục. Cuối Thu năm đó, Tồn Kim bị bệnh cảm cúm, mấy ngày thì mất. Vợ chồng Quế Khanh thương khóc vô cùng. Một buổi tối kia nằm mơ thấy Địa Tạng Bồ Tát đến an ủi rằng: “Con của ngươi đã mượn xác hoàn hồn, cuối năm ngươi đến núi, có thể gặp được”. Khanh tỉnh giấc, vui mừng khấp khởi, nghĩ rằng đêm ngày nhớ con thành ra ngây dại, mộng mị khó tin, nhưng Bồ Tát báo mộng thì cũng không dám bỏ qua.
Tháng chạp năm đó vợ chồng cùng nhau đến Triêu Sơn, đến trước Phật điện bỗng thấy có một đứa trẻ chạy đến, lớn tiếng kêu Cha Mẹ. Hỏi tên tuổi và quê quán thì biết đây là Tồn Kim và Triệu Nhi là hai đứa

* Trang 139 *
device

trẻ trao đổi sinh tử, diện mạo tuy khác nhưng tiếng nói vẫn như xưa, và nói rằng: “ Nhờ Bồ Tát phù hộ mới được mượn xác hoàn hồn.”Hai Vợ chồng mừng quá mới dắt đứa trẻ về, coi như con mình vậy. Cha mẹ của Triệu Nhi nghe vậy không đồng ý, hai bên tranh chấp và kiện tụng. Tồn Kim mà nói là đội lốt Triệu Nhi hoàn hồn, và cũng không muốn trở về nhà Cha Mẹ nữa. Sau được mọi người hòa giải nên hai gia đình đi lại với nhau và công nhận đứa bé là con chung. Đó là một phán quyết mới của hai họ Triệu và họ Kim. Năm Dân Quốc thứ 9 (1920) cúng dường tặng một tấm bảng đề là “Phật Pháp Vô Biên” treo trên núi Chiêu Sơn để kỷ niệm sự việc nầy và khi Hựu Tân lên núi được thấy. Biên chép sử liệu việc nầy như vậy.
  • Hứa Chỉ Tịnh ghi.

* Trang 140 *
device

 
Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục