LOGO VNBET
Qua 40 Năm Gần Gũi Linh Cảm

 
Mùa Đông Tuyên Thống Nguyên Niên Đời nhà Thanh, vợ ông X là Tiêu Phu nhân mắc chứng bệnh động kinh, ngất đi chân tay run lẩy bẩy. Bà sinh đứa con ra rồi hôn mê, bất tỉnh nhân sự, cấm khẩu hai ngày đêm. Ông X ngồi cạnh giường không biết tính làm sao. Bệnh nhân bỗng mở miệng gọi tên ông và con nói rằng: “Mau cúi lạy Quan Thế Âm Bồ Tát”. Ông bèn hỏi: “Bồ Tát ở đâu?” Vợ ông trả lời là ở cái bàn ngay cửa sổ. Ông vội vàng cúi lạy, lạy xong bệnh nhân đã mở mắt, người tỉnh táo ăn nói như thường. Ông X hỏi là Bồ Tát mặc quần áo gì? Vợ ông trả lời là mặc áo bào trắng, có thêu hình chữ Vạn. Một năm sau,Vợ ông may một cái áo bào có thêu hình chữ Vạn, ông đích thân mang đến Chùa Phổ Đà. Gặp lúc Bác Sĩ Ngũ Đình Phương đi cùng thuyền, nghe Bác Sĩ nói sự lợi ích của việc ăn chay. Từ đó ông không ăn các loại thịt. Đó cũng là một nhân duyên kỳ lạ. Vợ ông nghe lời của Mẹ tôi, hàng tháng vào ngày 9, ăn chay và thắp hương lễ Quan Âm. Khi Mẹ ông ốm nặng, Vợ ông tự cắt thịt của mình để làm thang thuốc. Thành tâm có hiếu như vậy

* Trang 178 *
device

cho nên được Đại Sĩ hiển linh cứu bạt. Đây là chuyện thực không phải ngẫu nhiên.
Năm Dân Quốc 13(1924) ông vì sự nghiệp bị thất bại, đóng cửa suy nghĩ, hàng ngày đọc Kinh Kim Cang và Kinh Quan Thế Âm Phổ Môn Phẩm. Ông một mình, ở một phòng trên lầu ba, cửa sổ bằng kiếng rất sáng sủa. Trong phòng ngoại trừ một cái bàn và ghế để đọc Kinh ra thì trống trải, không có đồ vật gì nữa. Một ngày kia ông đang đọc Kinh ra không lo gì nữa thì ngửi thấy mùi thơm của hương trầm phảng phất, nhưng không có thấy lư hương. Đọc xong Kinh, ông đi qua phòng đặt bàn thờ tổ tiên, ông không thấy ai thắp hương. Đó là lần đầu tiên ông ngửi thấy mùi hương Trầm.
Dân Quốc thứ 15 (1926) tháng Giêng âm lịch, ông đến Tô Châu, ở nhà cư sĩ Lý Bá Nông. Cư sĩ dạy ông niệm bảy câu thần chú, và nói với ông rằng: “Mấy câu thần chú này có uy lực vô cùng, thường đọc thì được rất nhiều lợi ích”. Đêm Nguyên Tiêu ông cùng cư sĩ đi bách bộ ngoài vườn, nơi này gia cư thưa thớt, đều là người trồng rau. Lúc này nhà nào nhà nấy đều đóng cửa tĩnh mịch, không một tiếng động. Ông đang tụng niệm mấy câu thần chú mới học được, khi đi đến cái cầu, bỗng ngửi thấy mùi hương trầm phảng phất, xung quanh không có một cái nhà nào. Ông bèn hỏi Lý cư sĩ: “Ông có ngửi thấy mùi hương hay không?” Cư sĩ trả lời rằng: “Ngửi thấy, chắc ông đang niệm thần chú. Mùi hương này có khác với hương Trầm, đó là sự cảm ứng của thần chú đấy”.

* Trang 179 *
device

Năm Dân Quốc 15 (1926) mỗi buổi sáng tôi cùng cư sĩ Ngô Giác Sở đọc Hoa Nghiêm Kinh, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Phó Quân Hàn làm việc tại hãng dệt Hằng Phong cũng đến tụng niệm cùng chúng tôi. Một ngày nọ vào mùa Đông, chúng tôi đang tụng Kinh, bỗng ngửi thấy mùi thơm hoa quế. Lúc đó bốn người tụng Kinh đều ngửi thấy cả. Tụng xong Kinh hỏi những người trong nhà thì mọi người đều ngửi thấy mùi hoa quế, mà trong nhà thật ra là không có vật gì mà tỏa được hương thơm của mùi hoa quế cả.
Năm Dân Quốc thứ 17, tôi vừa đọc Kinh và lễ bái trước bàn thờ có pho tượng của Đại Sĩ xong, bèn lên lầu đến phòng Mẹ tôi vấn an. Mẹ tôi nói: “Con vừa thắp hương, mùi rất thơm, mùi hương này chắc không phải thứ hương thường”. Tôi trả lời là đương nhiên vì đó là thứ hương Trầm. Nhưng lạ là Mẹ tôi tại sao lại ngửi thấy mùi thơm của hương? Vì Mẹ tôi đã hơn mười năm nay bị bệnh nghẹt mũi tắc, không cảm giác nên không ngửi thấy mùi gì cả. Tôi bèn hỏi Mẹ tôi là: “Hôm qua con ở phòng bên cạnh có hòa thuốc trong có xạ hương và băng phiến, Mẹ có ngửi thấy gì không?”. Mẹ tôi trả lời là không. Tôi nói là: “Con ở bàn thờ trên lầu có thắp hương cầu khẩn cho Mẹ, chắc đó là cảm ứng của Bồ Tát đấy”. Mẹ tôi nghe xong rất vui mừng. Vì từ phòng Mẹ tôi đến phòng đặt bàn thờ phải đi quanh co, mà Mẹ tôi còn ngửi thấy mùi thơm của hương trầm. Ngoài sự hiển linh của Bồ Tát ra, không còn lẽ gì khác cả.

* Trang 180 *
device

Năm Dân Quốc thứ 16 (1927)tôi cùng Quách Hàm Trai cư sĩ đi Chùa Phổ Đà, rồi đến A Dục Vương Tự để chiêm bái Xá Lợi. Đầu tiên đến Thiên Đồng Tự lễ Phật. Thiên Đồng là một Đạo Trường xưa có tiếng. Cách Dục Vương tự cũng gần. Cuối đời nhà Thanh, vị cao Tăng Bát Chỉ Đầu Đà trụ trì ở Chùa này. Bát Chỉ Đầu Đà xuất thân là con nhà nông. Cha của Đầu Đà là tá điền của cư sĩ Quách Hàm Trai. Khi còn nhỏ cư sĩ đã cùng Đầu Đà chơi đùa với nhau. Khi lớn lên thì Đầu Đà thường đến chơi với các vị Tăng, rồi xin làm đồ đệ, không được đi học, chỉ ở Chùa học đọc Kinh Kệ rồi biết chữ, tính chất cũng đần độn, rất lấy làm lạ là vì sự hiểu biết về nghĩa kinh có hạn. Đầu Đà bèn đến Chùa Phổ Đà và đến Dục Vương Tự lễ cầu Xá Lợi xin được mở mang trí tuệ và ở lại Dục Vương Tự được mấy năm.
Ngày Phật Đản, Đầu Đà đốt hai ngón tay cúng Phật, nên chỉ còn tám ngón, nên gọi là Bát Chỉ Đầu Đà. Một năm sau vẫn thấy trí tuệ chưa được khai thông, Đầu Đà bèn khoét thịt trên vai, lấy mỡ thắp đèn, rồi đi Trường Sa. Khi qua Động Đình Hồ, Đầu Đà lên Nhạc Dương Lầu, thấy trên vách có câu thơ rằng: “Động Đình Ba Tống Nhất Tăng Lai”. Khi đến Trường Sa gặp một vị Tăng, Đầu Đà bèn lấy câu thơ đó hỏi. Vị Tăng đó nói rằng: “Câu thơ rất tốt, sau này ông sẽ thành một nhà thơ”, bèn dạy đọc ba trăm bài thơ Đường. Từ trước Đầu Đà chưa được học thơ cổ nào, nhưng từ sau khi trở về Dục Vương Tự thì đối với các sách Kinh điển bắt đầu hiểu nhiều, giải hành tương ứng, được các nhà Sư

* Trang 181 *
device

khen ngợi. Và Đầu Đà bắt đầu tập tu khổ hạnh, bất luận thức ăn gì thừa trong bếp cũng đều lấy mà ăn, không kiêng cữ gì.
Từ đó Đầu Đà nổi tiếng là một nhà thơ hay. Cuối đời nhà Thanh, nhà thơ nổi tiếng là Vương Quân Nhiệm thường đến xướng họa. Sau Đầu Đà đến Thiên Đồng Tự ở Ninh Ba làm Phương Trượng, hơn mười năm sau thì mất. Ngoài cửa Thiên Đồng Tự có xây tháp để kỷ niệm. Cạnh tháp có cất ba ngôi Chùa, trong đó có thờ tượng Đầu Đà. Tôi vào Chùa nghe giảng Kinh, còn Quách cư sĩ thì đến tháp Đầu Đà niệm Phật hơn hai tiếng đồng hồ, nói là đến thăm bạn cũ.
Chùa có trồng cây dài hơn một dặm. Chúng tôi đi vào hàng cây. Quách cư sĩ đi trước hơn mười bước, ông nhìn trước nhìn sau hỏi tôi rằng: “Ông có ngửi thấy mùi thơm không?”. Tôi trả lời là không? ” Lại đi thêm mười bước nữa, ông lại quay đầu lại hỏi: “Có ngửi thấy mùi thơm không?”. Tôi nói không? Lại đi thêm mấy chục bước nữa. Sau đó ông Quách nói cho tôi hay là mùi thơm phảng phất từ đây cho tới cuối rặng cây mới ngưng, đó là Đầu Đà thị hiện linh cảm đấy.
Từ xưa tới nay, những kẻ được Thiền Tông Đại Sư khai ngộ rất nhiều, có người được khai thông trí tuệ. Đầu Đà khổ hạnh tu luyện, được khai thông ngộ tuệ, người từ xưa chưa được đi học mà biết làm thơ, và cách vần điệu của thơ rất cao. Đó là một điều khó, rất hiếm có. Sau khi Đầu Đà mất, thi nhân Trần Tản Nguyên khắc lại trong thi tập của Đầu Đà, và lời tựa của Vương

* Trang 182 *
device

Nhậm Thu viết rằng: “Thi cách của Đầu Đà rất cao, có thể so với nhiều tác phẩm có tiếng trong Đường thi”. Năm sau lại viết thêm là: “Lời tựa của tôi nói là, thơ của Đầu Đà so với tác phẩm Đường thi. Nay nghĩ lại là không đúng, vì thơ của Đầu Đà nhiều tác giả còn chưa hay bằng”. Cả hai lời tựa đều được khắc vào trong tập thơ của Đầu Đà.
Như vậy đủ biết rằng thơ của Đầu Đà rất là đáng khen. Con đường làm thơ, người bình thường không dễ gì hiểu thấu. Các cuộc thi cử đời nhà Thanh cũng có nhiều người làm thơ. Nhà Hàn Lâm Viện làm thơ lấy cung chỉnh là chính, còn những lời lẽ thơ thì gắng gượng, góp nhặt miễn cưỡng, dưới mắt của các thi nhân thực không thể đăng Đại nhã chi đường. Còn thơ của Đầu Đà mới đầu thì chưa ra gì, nhưng thành thơ hay vì sau đọc được nhiều thơ cổ, vì ít học nên không biết nhiều Kinh điển để vận dụng. Chỗ hay là ở sự miêu tả hồn nhiên, tình cảnh tả thực, cho nên có nhiều vần hay và phong độ cao. Lâm Ngữ Đường, một nhà văn mới có viết là: “Trong mười nhà thơ hay thì hết chín người là Phật học gia”.
Sau khi khai ngộ bởi Thiền Tông, có thể mở miệng luận đạo diệu kỳ. Biện tài vô sự, cũng không ngòai văn tự Bát Nhã. Việc thị hiện mùi hương linh cảm ấy có thể biết được rằng Đầu Đà đã thành tựu thật cao, lại sánh ngang hàng với các thi nhơn đời Tấn Ngụy Lục từ đời Đường Tống trở đi. Chín trong mười người là những tư tưởng gia Phật học, hoặc có niềm tin

* Trang 183 *
device

di truyền, lại thêm đầy đủ Phật học cùng sự liên quan với thơ văn của Trung Quốc. Chỗ Phật học là trừ ngã chấp và công phu ấy là vô thỉ vô chung. Trừ ngã chấp thì chơn tướng biểu lộ. Tôi và Quách cư sĩ đến Dục Vương tự đảnh lễ Xá Lợi. ( là Phật thân sau khi hỏa táng thì kết thành những viên nhỏ). Hai năm trước tôi có đến lễ bái một lần rồi. Xá lợi được đặt trong Tháp, bên cạnh có khe để ta nhìn thấy. Xá lợi lớn như hạt tiêu, được gắn vào miếng kim khí hình cái khánh màu vàng treo chính giữa. Trước kia chúng tôi thấy cái khánh gắn xá lợi màu vàng. Lần này chúng tôi thấy miếng kim khí gắn xá lợi lại là màu lam thẫm. Chúng tôi nghi là điềm không lành. Bèn cùng nhau sám hối. Tối hôm đó chúng tôi cùng nhau vái lạy chừng mười lần. Sáng hôm sau thức dậy, chúng tôi đến vái lạy thì thấy cái khánh đã đổi thành màu vàng. So với hai năm về trước chúng tôi thấy không khác gì. Tôi nghĩ xá lợi gắn trên miếng kim khí hình khánh màu vàng, nhưng hôm qua tại sao lại đổi màu lam thẫm? Sáng hôm nay lại đổi màu vàng. Các thiện tín như Tăng, Ni, cư sĩ, mỗi ngày đến chiêm bái xá lợi cũng khá đông. Sau khi chiêm bái xong, có Trực Điện Tăng đến dẫn mọi người ra ngoài sân, quỳ trước bồ đoàn, thì thấy mỗi người nhìn thấy các màu sắc khác nhau. Có người thấy màu trắng, có người thấy màu đỏ, có người thấy màu đen, có người không thấy gì, hỏi nhiều người nhưng đều trả lời khác nhau, không ai nhìn thấy giống ai cả. Đó có lẽ là tùy theo nghiệp chướng của mình mà nhìn thấy màu sắc khác nhau.

* Trang 184 *
device

 
Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục