LOGO VNBET
CHƯƠNG NĂM
VĂN-THÙ-SƯ-LỢI THĂM BỆNH1

 
Lúc ấy, Phật nói với Văn-thù-sư-lợi: 2
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật“.
Văn-thù đáp:
“Bạch Thế tôn, với bậc Thượng nhân ấy, không dễ đối đáp. Vì ông đã thâm nhập thật tướng, thuyết giảng tài tình các yếu nghĩa của Phật Pháp. Tài biện thuyết của ông thông suốt, trí tuệ của ông vô ngại. Ông biết rõ tất cả pháp thức của Bồ-tát; đã bước vào kho tàng huyền nhiệm của chư Phật; hàng phục mọi thứ Ma bằng du hý thần thông;3 trí tuệ và phương tiện đều sở đắc vẹn toàn. 4 Tuy vậy
________________________
1 Các bản Hán, phẩm V. Ckh.: phẩm “Chư pháp ngôn” 諸法 言品 . VKN: Phẩm IV, Glānapratisaṃmodanā-parivarta,
phẩm Ủy lạo người bệnh.
2 Văn-thù-sư-lợi 文殊師利. Htr.: Diệu Cát Tường 妙吉祥. Skt. Mañjuśrī-kumārabhūta.
3 VKN: sarvamārasthānavivartanakuśalamahābhijñā-vikṝditaḥ, du hý bằng đại thần thông, khéo léo đẩy lui tất cả Ma.
4 Htr.: xảo tiện vô ngại 巧便無礙, vận dụng phương tiện khéo léo thông suốt. VKN: upāyakauśalya-gatiṃgataḥ.

* Trang 149 *
device

con sẽ vâng Thánh chỉ đến thăm bệnh ông”.
Bấy giờ, trong chúng, các vị Bồ-tát, các đại đệ tử của Phật; Đế Thích, Phạm thiên, cùng bốn vị Thiên vương, thảy đều tự nghĩ: “Nay hai vị Đại sỹ Văn-thù và Duy-ma-cật gặp nhau, ắt sẽ nói pháp vi diệu”. Cho nên tám ngàn Bồ-tát, năm trăm Thanh văn, hàng trăm ngàn trời, người đều muốn đi theo Văn-thù-sư-lợi.
Rồi thì, Văn-thù-sư-lợi cùng với đoàn tùy tùng cung kính vây quanh gồm các Bồ-tát, chúng Đại Đệ tử, và các trời, người, cùng vào thành lớn Tỳ- da-ly.
Lúc bấy giờ, Trưởng giả Duy-ma-cật tâm niệm: “Văn-thù-sư-lợi và đoàn tùy tùng đang đến”. Ông bèn dùng thần lực khiến cho nội thất trống rỗng. Tất cả đồ đạc cho đến gia nhân đều biến mất hết; chỉ đặt mỗi cái giường bệnh để nằm mà thôi.
__________________________
Tiếp theo, bản La-thập nhảy một đoạn; Htr.: “Sở hành pháp giới tối thắng không hai, không tạp, đã rốt ráo đến bờ bên kia; có thể ở nơi pháp giới của một tướng trang nghiêm (VKV: ekavyūhadharmadhātu: thể giới một yếu tính thẩm mỹ tuyệt đối) mà diễn thuyết pháp môn được trang nghiêm bằng vô hạn yếu tính; thấu triệt căn tính và hành vi của tất cả chúng sinh; khéo léo sử dụng thần thông tối thắng của sự du hý; đạt đến mức hoàn hảo phương tiện thiện xảo của đại trí tuệ; hoàn toàn tự tại vô ngại vô úy để quyết trạch mọi vấn đáp; các hạng thấp kém không thể đối đầu với mũi nhọn ngô

* Trang 150 *
device

Văn-thù-sư-lợi đi vào nhà, thấy căn nhà trống không, không có gì cả, chỉ một mình Duy-ma-cật nằm trên giường bệnh. Duy-ma-cật nói: “Xin chào5 ngài Văn-thù-sư-lợi. Ngài bằng tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy6“. Văn-thù-sư-lợi đáp: “Thật như vậy, Cư sỹ, nếu đã đến thì không còn đến nữa. Nếu đã đi thì không còn đi nữa. 7 Vì sao? Đến, không từ đâu đến. Đi, không đi về đâu. 8 Cái đã có thể bị thấy thì không còn bị thấy nữa. Nhưng
_____________________
5 Thành ngữ để chào, nguyên Phạn: svāgatam, Hán: thiện lai 善來, đến an lành. Về mặt từ nghĩa luận, lời chào này trở thành cảnh ngữ khơi dậy luận điểm triết học.
6 Htr. còn thêm: “Không nghe mà nghe.” VKN: svāgataṃ mañjuśriyo (a)svāgataṃ mañjuśriyaḥ anāgata syādṛṣṭaśrutapūrvasya darśanam, “Văn-thù khéo đến. Văn thù chưa đến mà đã khéo đến; trước khi nghe và không thấy mà thấy.”
7 VKN: āgato na sa bhūya āgamiṣyati yaś ca gato na bhūyo gamiṣyati, đã đến, thật vậy, nó sẽ không (bị) đến; cái gì đã đi, nó sẽ không (bị) đi.
8 Htr.: “Không phải do cái đã đến mà có khái niệm (thi thiết) về sự đến. Không phải do cái đã đi mà có khái niệm về sự đi.” Khuy Cơ, VCS (Đại 38, tr. 1069c24) lưu ý: “Chỗ này, bản La-thập và bản Huyền Trang không giống nhau.” VKN: na cāgatasyāgamanaṃ prajñāyate na ca gatasya gamanaṃ, cái đã đến không giả thiết khái niệm về sự đến; cái đã đi không giả thiết khái niệm về sự đi.

* Trang 151 *
device

hãy gác việc này qua một bên. Cư sỹ, bệnh của ông, có kham nỗi không? Việc điều trị thế nào, có thuyên giảm chứ không tăng phải không? Thế tôn ân cần gởi lời hỏi thăm vô lượng. 9 Cư sỹ, bệnh này khởi lên bởi nguyên nhân nào? Bệnh phát sinh đã bao lâu? Dứt nó bằng cách nào?” Duy-ma-cật đáp: “Si và hữu ái là nguồn gốc của bệnh tôi.10 Vì hết thảy chúng sinh bệnh mà tôi bệnh. Bao giờ hết thảy chúng sinh đạt đến chỗ không bệnh, bệnh tôi sẽ hết. Vì sao? Bồ-tát, vì chúng sinh mà đi vào sinh tử. Có sinh tử thì có bệnh. Nếu hết thảy chúng sinh được thoát ly bệnh khổ thì Bồ-tát không còn bệnh. Ví như, vị trưởng giả chỉ có đứa con một; khi người con ấy bị bệnh, cha mẹ nó cũng bị bệnh. Nếu nó bình phục thì cha mẹ nó khỏe. Cũng vậy, Bồ-tát yêu thương chúng sinh như cha mẹ yêu con, nên chúng còn bệnh thì Bồ-tát còn bệnh; khi chúng hết bệnh, Bồ-tát lành bệnh. Câu hỏi tiếp theo là, bệnh của Bồ-tát từ đâu phát sinh? Bệnh của Bồ-tát xuất phát từ tâm đại bi”. Văn-thù-sư-lợi hỏi: “Sao thất này trống không và
__________________________
9 Hán: trí vấn vô lượng 致問無量. VCS: “Lời nhắn gởi thì ngắn gọn; nhưng thâm ý hỏi thăm thì vô lượng.”
10 Htr.: “Cũng như vô minh (avidyā) và hữu ái (bhavatṛṣṇā) của chúng sinh sinh khởi đã từ lâu đời; bệnh của tôi cũng phát từ lâu như vậy.”

* Trang 152 *
device

chẳng có người hầu?”11
Duy-ma-cật đáp:
“Hết thảy quốc độ của chư Phật đều không, thưa ngài Văn-thù”.
Lại hỏi: “Quốc độ của chư Phật do cái gì mà không?”12
Lại đáp: “Vì Không nên không”. 13
Lại hỏi: “Đã Không, cần gì Không nữa?”14
Lại đáp: “Vì vô phân biệt Không, cho nên Không”. 15
Lại hỏi: “Không, 16 có thể phân biệt ư?”
________________________
11 VCS, Đại 38, tr. 1070b22, “Hỏi thất không, là hỏi về pháp không. Hỏi thị giả không, là hỏi về nhân không.”
12 CDM, Đại 38, tr. 372c11, “Thập nói, căn nhà do không có vật gì cả nên trống không. Cõi Phật do bởi lý gì mà không?”
13 CDM, “Thập nói, không có (vô , Skt. abhava) vì không có vật gì. Rỗng không (không , Skt. śūnya), vì quốc độ tính Không. Triệu nói, không đầu là trí không; không sau là pháp không.” VKN: śūnyatayā śūnyāni, (chúng là) Không bởi tính Không.
14 Lth.: hà dụng không 何用空. Htr.: vi thị thùy không 為是 誰空, là cái không của ai (= của cái gì)?” VKN: śūnyatāyāḥ kā śūnyatā? Cái gì là tính Không của tính Không (Của tính Không là tính Không gì)?
15 Htr.: “Không này là Không của vô phân biệt.” VKN: apari-kapanāś ca śūnyatāyāḥ śūnyātāḥ, vô phân biệt là tính không của tính Không.
16 Htr.: Không tính 空性.

* Trang 153 *
device

Lại đáp: “Mọi phân biệt cũng Không”. 17
Lại hỏi: “Phải tìm Không ở đâu?”
Lại đáp: “Phải tìm trong sáu mươi hai kiến chấp“. 18
Lại hỏi: “Sáu mươi hai kiến chấp phải tìm ở đâu?”
Lại đáp: “Nên tìm trong giải thoát của chư Phật”.
Lại hỏi: “Tìm sự giải thoát của chư Phật ở đâu?”
Lại đáp: “Nên tìm trong tâm hành của hết thảy chúng sinh”.
Và ông tiếp: “Ngài có hỏi, sao tôi chẳng có gia nhân. Vâng, bọn Ma và các Ngoại đạo là gia nhân của tôi. Vì sao? Vì bọn Ma ưa sinh tử mà Bồ-tát chẳng xả bỏ sinh tử. Ngoại đạo ham kiến chấp mà Bồ-tát bất động trong mọi kiến chấp”.
Lại hỏi: “Bệnh của cư sỹ thuộc tướng gì?”
Lại đáp: “Bệnh tôi vô hình, không thể thấy”. 19
Lại hỏi: “Bệnh này hiệp với thân hay hiệp với
_________________________
17 Htr.: “Cái hay phân biệt này cũng không. Vì sao? Tính Không không thể phân biệt thành Không.” VKN: yenāpi parikalpyeta tad śūnya na ca śūnyatā śūnyatām parikalpayati, cái do bởi nó mà phân biệt, cái đó là Không; không phải tính Không phân biệt thành Không.
18 Trường A-hàm 14, kinh 21. Phạm động, Đại 1, tr. 89c23. Cf. Pali, Brahmajāla-sutta, D.i. tr. 44.
19 Htr.: vô sắc tướng 無色相.

* Trang 154 *
device

tâm?”20 Lại đáp: “Nó không phải thân hiệp vì nằm ngoài thân. Cũng không phải tâm hiệp vì tâm vốn như huyễn. 21 Lại hỏi: “Trong bốn đại22, đất, nước, lửa, gió, bệnh thuộc đại nào?” Lại đáp: “Bệnh ấy không phải địa đại cũng không lìa địa đại. Thủy, hỏa, phong đại cũng vậy. Nhưng bệnh của chúng sinh phát sinh từ bốn đại. Vì chúng sinh ấy có bệnh, nên tôi bệnh”. Bấy giờ Văn-thù-sư-lợi hỏi Duy-ma-cật23: “Bồ-tát nên vấn an một Bồ-tát đang thọ bệnh như thế nào?” Duy-ma-cật nói: “Nói về sự vô thường của thân mà chớ nói ghê tởm và từ bỏ thân. Nên nói về thân khổ đau mà không nói hỷ lạc của Niết-bàn. Nói về
____________________________
20 Lth.: thân hiệp 身合, tâm hiệp 心合. Htr.: thân tương ưng 身相應, tâm tương ưng 心相應.
21 Htr.: tâm như huyễn hóa 如幻化.
22 Tứ đại 四大, Skt. catvāri mahābhūāni. Htr.: tứ giới 四界; Skt. dhātavaś cavāri.
23 Trong bản dịch Huyền Trang thì ngược lại: Duy-ma-cật hỏi Văn-thù. Khuy Cơ (Đại 38, tr. 1071c21) cho rằng, xét theo ý nghĩa, La-thập đã dịch không đúng. Triệu nói (Đại
38, tr. 374c9), theo lẽ thì Duy-ma-cật hỏi. Nhưng để khiến những vị hiện diện chú tâm, và để chính người bệnh tự nói, nêu rõ ý nghĩa vô chứng của Đại thừa. Ckh., VKN, như bản Huyền Trang.

* Trang 155 *
device

vô ngã của thân mà vẫn nói về sự giảng dạy và hướng dẫn chúng sinh24. Nói về thân Không tịch25 mà không nói rốt ráo tịch diệt. Nói về sám hối tội lỗi trong quá khứ nhưng không nói nhập vào quá khứ. 26 Vì đã bệnh nên thương cảm người đang mắc bệnh kia. Biết rằng mình đã chịu đau khổ từ vô số kiếp đời trước; nên hãy làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. Nên nghĩ nhớ phước mà mình đã tu; hãy suy niệm về mạng thanh tịnh. 27 Chớ sinh buồn phiền bức rức; hãy thường xuyên phát khởi tinh tấn. 28 Nên hành động như bậc y vương để cứu chữa bệnh người. 29 Bồ-tát nên an ủi một Bồ-tát
_____________________
24Lth.: giáo đạo chúng sinh 教導眾生. Htr.: khuyến thành thục hữu tình 勸成熟有情. VKN: sattvaparipācanatayā.
25 VKN: kāyaśāntā, sự tịch tĩnh của thân.
26 Htr.: “Không nói tội có di chuyển.” VCS (tr.1072a14): “Nhị thừa quan niệm ba đời thực hữu. Tội đã được làm trong hiện tại đi vào quá khứ nên nói là di chuyển. Quá khứ có thực thể dẫn đến sự cảm quả trong tương lai.” VKN: sarvaduścaritadeśanatayā na ca sakrāntayā, (nói về) sự phát lộ tất cả hành vi xấu nhưng không nói có sự việt pháp.
27 Tịnh mạng 淨命; Thập nói: tức là chính mạng. VCS: “Tịnh mạng là gốc rễ thiện.” VKN: ādiviśuddhatayā, bản lai thanh tịnh. Các bản Hán đều đọc ājīvaśuddhatayā.
28 Htr.: “Khuyên chớ kinh sợ (vaiśāradya?) mà hãy tinh cần dũng mãnh.” VKN: sadāvīryārambhāc ca vaidyarājo bhaviṣyasi, hãy luôn luôn phát khởi tinh tấn để trở thành y vương.
29 Xem cht. trên.

* Trang 156 *
device

đang bệnh như vậy để khiến cho hoan hỷ”. Văn-thù-sư-lợi hỏi: “Làm sao Bồ-tát đang bệnh chế ngự được tâm mình?” Duy-ma-cật đáp: “Bồ-tát đang bệnh nên nghĩ rằng: bệnh này đến từ những phiền não và vọng tưởng điên đảo của nhiều đời trước, không có pháp nào là thật, vậy thì ai đang thọ bệnh?30 Tại sao vậy? Do bốn đại hòa hợp mà giả danh là thân. Bốn đại vô chủ, thân cũng vô ngã. Vả chăng, bệnh khởi đều do bám chấp tự ngã.31 Vì vậy không nên bám chấp tự ngã này. 32 “Khi đã tỏ tường nguồn căn của bệnh, Bồ-tát liền loại trừ tưởng về ngã và tưởng về chúng sinh, và tưởng 33 về pháp sẽ hiện khởi. 34 Bồ-tát nên nghĩ
______________________
30 VKN: parikalpakleśasamutthito na punar atra kaścit paramārtha-to dharma upalabhyate yasyaiṣa vyādhiḥ, bệnh này xuất phát từ phiền não vọng tưởng, mà từ chân lý tuyệt đối, không có bất cứ pháp nào là khả đắc như là bệnh.
31 Lth.: trước ngã 著我; Htr.: chấp ngã 執我.
32 Htr.: “Không nên ở trong thân này mà vọng tưởng sinh ra chấp ngã.”
33 Lth.: ngã tưởng chúng sinh tưởng 我想眾生想, khái niệm về một tự ngã hay linh hồn (ātmasaṃjñā), khái niệm về một chúng sinh hay một hiện tồn thể (sattvā-sajñā). Htr.: hữu tình ngã tưởng 有情我想 . Cf., Vajracchedika, bốn khái niệm về ngã: ātmasaṃjñā (ngã tưởng), sattvāsaṃjñā (chúng sinh tưởng), jīvasaṃjñā (thọ tưởng), pudgalasaṃjñā (nhân tưởng).

* Trang 157 *
device

như vầy: Thân được hợp thành do bởi nhiều pháp. Khởi, chỉ là sự sinh khởi của pháp. Diệt, chỉ là sự hủy diệt của pháp. 35Vả lại, các pháp này không nhận biết lẫn nhau. Khi sinh khởi, nó không nói, ‘Ta khởi.’ Khi diệt, nó không nói, ‘Ta diệt.’ Để diệt trừ tưởng về pháp này, Bồ-tát đang bệnh nên nghĩ: ‘Tưởng về pháp này cũng là một thứ đảo điên. Cái gì điên đảo, cái đó là đại hoạn. Ta phải rời xa nó.’ 36 Thế nào là rời xa? Rời xa ngã và ngã sở. 37 Rời xa ngã và ngã sở nghĩa là sao? Rời xa pháp hai. 38 Pháp hai nghĩa là sao? Là không nghĩ
_______________________
34 Lth.: đương khởi pháp tưởng 當起法想. CDM: “Triệu nói, để trừ ngã tưởng mà khởi lên pháp này.” Htr.: an trụ pháp tưởng 安住法想. khái niệm về pháp an trụ hay thường trụ. Htr.: “An trụ nơi pháp tưởng mà quán pháp do nhân duyên để phá trừ ngã chấp.” (= Skt. dharmasaṃjñā pratiṣṭhitavyā).
35 VKN: dharmā evotpadyamānā utpadyante dharmā eva nirudhya-mānāirudhyate, chính pháp đang sinh ấy sinh; chính pháp đang diệt ấy diệt.
36 Htr.: “Ta phải nên trừ diệt nó và cũng tức là trừ diệt hết thảy tai hoạn như vậy của hữu tình.”
37 VKN: ahaṃkāramamakāraprahāṇaṃ, loại trừ nhân tố tác thành ý niệm về tự ngã và nhân tố tác thành ý niệm về sở hữu của tự ngã.
38 Pháp hai 二法; chỉ pháp còn tính nhị nguyên đối đãi, hai mặt đối lập. VCS: “Pháp hai tức là pháp mà nội tại và ngoại tại đều tuyệt đối không hiện hành.” Xem phẩm ix, “Pháp môn bất nhị.”

* Trang 158 *
device

đến pháp trong thân lẫn pháp ngoài thân, 39 hành nơi bình đẳng. 40 Bình đẳng là gì? Đồng đẳng ngã, đồng đẳng Niết-bàn. 41 Tại sao như vậy? Vì ngã và Niết-bàn đều không. Tại sao cả hai đều không? Vì chỉ là danh tự, cho nên là không. Hai pháp này như vậy không có quyết định tính.42
“Đạt được tính bình đẳng này rồi thì không còn bệnh nào khác ngoại trừ còn có cái bệnh của không. Cái bệnh của không cũng là không. 43
“Bồ-tát đang bệnh ấy cảm nghiệm các cảm thọ bằng cái không được cảm nghiệm. Khi chưa viên
_____________________
39 VCS: “Quán sự bình đẳng, không di động, không dao động, không có cái được quan sát.”
40 Lth.. (行心平等): hành tâm bình đẳng, Triệu nói, “thể hiện sự bình đẳng của tâm.” Htr.: quán bình đẳng… VCS (T38n1782, tr. 1073a24 ): “quán sự bình đẳng của pháp, không động dao…”
41 Htr.: “ngã và Niết-bàn, cả hai đều bình đẳng.” VKN: ātmasamayatayā ca nirvāṇasamatā, do bởi tính bình đẳng của tự ngã mà có tính bình đẳng của Niết-bàn.
42 Htr.: “Hai pháp này đã không tồn tại, thì còn pháp nào khác hơn nữa là không? Ấy là chỉ bằng vào quy ước của ngôn ngữ (danh tự giả thuyết) mà nói là không.”
43 VKN: ubhāv apy etāv apariniṣpannau yad utātmā nirvāṇaṃ ca tena samadarśinā nānyo vyādhiḥ nānyā śūnytatā kartavyā vyādhir eva śūnyatā, chính cả hai cái này, tự ngã và Niết bàn, cũng không chân thật. Bằng quán sát bình đẳng như vậy, kkông có bệnh nào khác, ngoại trừ tính Không. Chính bệnh cũng là tính Không.

* Trang 159 *
device

mãn Phật pháp, thì không thủ chứng sự diệt tận của thọ.44 “Biết thân là đối tượng của khổ đau, ông nên nghĩ đến chúng sinh ở những cõi thấp kém hơn mà khởi lòng đại bi, rằng ‘Ta đã được điều trị.45 Ta cũng sẽ điều trị hết thảy chúng sinh.’ Chỉ trừ bệnh chứ không trừ pháp. 46 Chỉ dẫn chúng cắt đứt gốc rễ bệnh. Gốc rễ của bệnh là gì? Đó là có vin níu.47 Từ chỗ có vin níu mà phát sinh gốc rễ của bệnh. Vin níu vào cái gì? Đó là ba cõi. Thế nào là cắt đứt48 sự vin níu? Bằng vô sở đắc. Nếu là vô sở đắc, thì không có sự vin níu. Cái gì là vô sở đắc? Là rời xa hai kiến. Hai kiến là gì? Nội kiến, và ngoại kiến.49
___________________________

44 Triệu nói, “Phật pháp chưa được viên mãn, chúng sinh chưa được cứu độ, không riêng mình diệt trừ các cảm thọ để thủ chứng.”
45 Lth.: điều phục 調伏. Htr.: trừ tật 除疾.
46 Htr.: “Khi điều trị cho mình và cho người, không thấy có một cái gì gọi là được điều trị.”
47 Lth.: hữu phan duyên 有攀緣. Htr.: hữu duyên lự 有緣慮. Skt. sālambhana, cái luôn luôn cần điểm tựa để hiện hành; cái không bao giờ rời khỏi điểm tựa. VCS (T38n1782, tr. 1073c29): “Duyên lự, là tâm, tâm sở có tính phân biệt, thuộc hữu lậu.”
48 Lth.: đoạn . Htr.: ưng tri. Skt. parijñātavya 應知, cần biến tri (=cần triệt để đoạn trừ).
49 VKN: yad idam ātmadṛṣṭiṃ paradṛṣṭiṃ ca, tự ngã và tha nhân.

* Trang 160 *
device

Đó là vô sở đắc.50
“Văn-thù-sư-lợi, đó là cách Bồ-tát đang bệnh chế ngự tâm mình. Vì để cắt đứt cái khổ già, bệnh, chết, là bồ-đề của Bồ-tát. Không làm được điều này thì sự tu trị của ông không có sự sắc bén của tuệ. 51 Cũng như, thắng kẻ địch mới gọi là dũng; cũng vậy, dứt trừ cùng lúc già, bệnh, chết, ấy mới là Bồ-tát.
“Bồ-tát đang bệnh lại nên suy ngẫm: ‘Bệnh ta không thực cũng không tự hữu. Bệnh của hết thảy chúng sinh cũng không thực và không tự hữu.’ Nhưng khi quán như vậy, đối với các chúng sinh mà khởi đại bi từ ái kiến,52 thì nên xả ly ngay. Vì sao vậy? Vì Bồ-tát đoạn trừ khách trần phiền não53 mà khởi đại bi. Bi do ái kiến tức là có tâm mệt mỏi, chán chường sinh tử. Xả ly được điều đó mới không có sự mệt mỏi chán chường, để dù tái sinh ở
_______________________________
50 Htr.: Nếu không có hai kiến, đó là không có gì sở đắc.
51 Lth.: vô tuệ lợi 無慧利. Htr.: hư khí, bõ công vô ích 虛棄.
52 CDM: “Khởi ái kiến đại bi…, Triệu nói: (…) Nếu quán ấy chưa thuần, thấy chúng sinh mà thương yêu, rồi từ đó mà khởi tâm đại bi.” Htr.: “Với tâm bị quấn chặt bởi ái và kiến ấy mà khởi tâm đại bi đối với chúng sinh.” VKN: nānuśaṃsadṛṣṭipatitā sattveṣu mahā-karuṇotpadyate, không do quan điểm phúc lợi trong các chúng sinh mà khởi tâm đại bi.
53 Bụi như người khách chợt đến. (Skt. āgantuka). CDM (Đại 38, tr. 378b09): “Triệu nói, tâm gặp ngoại duyên, phiền não chợt dấy lên, cho nên nói là khách trần.

* Trang 161 *
device

đâu cũng không còn bị ái kiến che lấp. Tái sinh ở đâu, đều không bị trói buộc để có thể giảng pháp và cởi trói cho hết thảy chúng sinh. Như đức Phật đã nói: ‘Không thể có việc tự mình bị trói mà có thể cởi trói cho người. Chỉ khi tự mình không bị trói khi ấy mới có thể cởi trói cho người.’
“Cho nên Bồ-tát chớ tự trói buộc mình. Thế nào là trói buộc? Thế nào là cởi mở?54 Tham đắm vị ngọt của thiền là trói buộc của Bồ-tát. Bằng phương tiện mà tái sinh, 55 đó là Bồ-tát cởi trói. Lại nữa, không có phương tiện huệ 56 là trói buộc; có phương tiện huệ là cởi trói. Không có huệ phương tiện57 là trói buộc; có huệ phương tiện là cởi trói.
___________________________
54 Tiếp theo, đoạn thiếu trong các bản Hán, VKN: anupāyād bhava-gatiparigraho bodhisattvasya bandhaḥ upāyād bhava-gatigamanaṃ mokṣaḥ, không do phương tiện mà dấn thân vào định hướng tái sinh, đó là hệ phược của Bồ-tát. Do phương tiện mà đi vào định hướng tái sinh, đó là giải thoát của Bồ-tát.
55 Htr.: “Bằng phương tiện thiện xảo và tái sinh trong các hiện hữu, hoàn toàn không có tham đắm.”
56 Phương tiện tuệ 方 便 慧 , (Skt. upāyajñāna, tuệ của phương tiện, hay tuệ do bởi phương tiện). Htr.: phương tiện thiện nhiếp diệu tuệ 方便善攝妙慧 tuệ siêu việt được thể hiện khéo léo bằng phương tiện (upāsaṃgṛhītā prajñā).
57 Tuệ phương tiện 慧方便; (Skt. prajñāsaṃgṛhīta upayo, phương tiện của trí tuệ hay do bởi trí tuệ).

* Trang 162 *
device

“Không có phương tiện huệ58 là trói buộc, nghĩa là thế nào? Đó là với tâm ái kiến mà Bồ-tát trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sinh; tự điều phục mình trong pháp Không, Vô tướng và Vô tác. 59 Như vậy gọi không có phương tiện huệ là trói buộc.
“Có phương tiện huệ là cởi trói, là nghĩa thế nào? Đó là không đem tâm ái kiến mà trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sinh; tự điều phục mình trong pháp Không, Vô tướng và Vô tác mà không mệt mỏi chán chường. Đó gọi là có phương tiện huệ là cởi trói.
“Không có tuệ phương tiện là trói buộc, là nghĩa thế nào? Bồ-tát trụ tham dục, sân nhuế, tà kiến, các thứ phiền não, mà vun trồng gốc rễ các công đức. Đó gọi là không có tuệ phương tiện là trói buộc. 60
__________________________
58 CDM (Đại 38, tr. 378c26): “Thập nói, quán Không mà không thủ; lội hữu mà không dính; đó là xảo phương tiện… Trong đây chỉ lấy sự lội hữu không dính làm phương tiện, nên nói rằng có tuệ mà không có phương tiện. Từ trụ thứ bảy trở lên, tâm thường định, động và tĩnh không khác, cho nên nói là phương tiện tuệ.”
59 Htr.: “Tự điều phục bằng… nhưng không trang điểm thân bằng các tướng hảo… cho nên, không có phương tiện…”
60 Htr.: “Bồ-tát an trụ các kiến, tất cả phiền não, triền phược, tùy miên, tu các gốc rễ thiện mà không hồi hướng vô thượng chính đẳng bồ-đề, chấp trước sâu dày, đó là Bồ-tát không có diệu tuệ được nhiếp bởi phương tiện thiện xảo, được gọi là bị trói buộc.”

* Trang 163 *
device

 “Có Tuệ phương tiện là cởi trói, là nghĩa thế nào? Bồ-tát đã xa lìa trụ tham dục, sân nhuế, tà kiến, các thứ phiền não, mà vun trồng gốc rễ các công đức, rồi hồi hướng đến A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ- đề. Đó gọi là có Tuệ phương tiện là cởi trói.
“Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát bệnh nên quán các pháp như vậy. Rồi lại quán thêm nữa. Quán thân này61 vô thường, khổ, không, phi ngã; đó gọi là tuệ. Mà dù thân đang bệnh ông vẫn ở lại cõi sinh tử vì lợi ích của chúng sinh, không thấy mệt mỏi; đó gọi là phương tiện.
“Rồi lại quán thân. Thân không lìa bệnh, bệnh không lìa thân. Ấy là bệnh, ấy cũng là thân; không phải mới, không phải cũ. Đó gọi là tuệ. 62 Giả sử thân mang bệnh, mà không cần dứt trừ nó vĩnh viễn. Đó gọi là phương tiện.
“Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát bệnh nên chế ngự tâm63 mình như vậy. Không trụ trong đó64; cũng không trụ nơi tâm không được chế ngự. Vì sao vậy? Vì trụ ở tâm không được chế ngự, là pháp của người ngu. Nếu trụ nơi tâm đã được chế ngự, đó là pháp
_______________________
61 Htr.: “Quán thân cùng với bệnh đều là vô thường…”
62 Htr.: “Thân, tâm và các thứ tật bệnh, lệ thuộc lẫn nhau, lưu chuyển từ vô thủy, sinh diệt không gián đoạn, không phải mới, không phải cũ. Đó gọi là tuệ.”
63 VKN: cittam nidhyapayitavyaṃ.
64 Tức trong tâm đã được chế ngự.
<

* Trang 164 *
device

của Thanh văn. Vì vậy Bồ-tát chẳng trụ ở tâm được chế ngự hay không được chế ngự. Xa lìa cả hai; đó là hành của Bồ-tát. 65 Khi ở sinh tử vẫn không hành ô uế; 66 trụ nơi Niết-bàn mà không vĩnh viễn diệt độ; đó là hành của Bồ-tát.67 Không theo hành phàm phu cũng không phải hành Hiền Thánh; đó là hành của Bồ-tát. Hạnh không nhơ cũng không tịnh; đó là hành của Bồ-tát. Dù siêu quá hành của Ma vẫn thị hiện để khuất phục bầy Ma; 68 đó là hành của Bồ-tát. 69 Cầu nhất thiết trí
___________________
65 VKN: yad atrāsthānam ayaṃ bodhisatvasya gocaraḥ, nơi nào không có điểm đứng (trú xứ), nơi đó là hoạt trường (sở
hành cảnh giới) của Bồ-tát.
66 Htr.: “Ở nơi sở hành quán sát sinh tử, mà không có sở hành của hết thảy phiền não.”
67 Hình như Lth. có nhảy sót; Htr.: “Nơi nào được quán sát là sở hành của sinh tử nhưng nơi đó không có sở hành của phiền não, đó là sở hành của Bồ-tát. Nơi nào được quán sát là sở hành của Niết-bàn nhưng nơi đó không phải là sở hành của tuyệt đối tịch diệt, đó là sở hành của Bồ-tát.” VKN, như Htr.
68 Htr.: “Ở nơi sở hành của bốn thứ Ma mà siêu việt sở hành của hết thảy Ma.” Bốn Ma: uẩn ma, phiền não ma, tử ma,
thiên ma.
69 VKN: yac caturmārasaṃdarśanagocaraśca sarvanāraviṣayāti-krāntagacaraś cāyaṃ bodhisattvasya gocaraḥ, nơi nào là hiện trường cho bốn loại Ma xuất hiện nhưng nơi đó cũng là hiện trường siêu việt cảnh giới của Ma, đó là hoạt trường của Bồ-tát.

* Trang 165 *
device

nhưng không cầu phi thời; 70 đó là hành của Bồ- tát. 71 Tuy quán các pháp bất sinh, vẫn không vào chính vị; 72 đó là Bồ-tát hạnh. Dù quán mười hai duyên khởi, vẫn hội nhập mọi tà kiến;73 đó là hành của Bồ-tát. Dù che chở hết thảy chúng sinh, vẫn không hệ lụy bởi ái; đó là hành của Bồ-tát.74 Tuy
________________________
70 Phi thời cầu 非時求. CDM (Đại 38, tr.380a20): “Thập nói, công hành chưa đủ mà cầu cho được kết quả đầy đủ, gọi là phi thời cầu. Htr.: “Nơi nào là sở hành để cầu trí nhất thiết trí (VKN: sarva-jñajñānaparyeṣṭigocara), nhưng không phải là sở hành cho chứng đắc trí tuệ phi thời (VKN: akālajñānaprāptigocaro).” VCS (T38n1782. tr. 1076a5): “Bồ-tát chứng trí, bên ngoài thích ứng với mọi cơ duyên để có thể cứu vớt chúng sinh, thì nói là không phải phi thời.”
71 Nhảy một đoạn trong bản La-thập; Htr.: “Nơi nào là sở hành để cầu diệu trí về bốn Thánh đế, nhưng nơi đó không phải là sở hành để chứng nghiệm Thánh đế phi thời; đó là sở hành của Bồ-tát. Nơi nào là sở hành cho chứng nghiệm nội tại do chính quán sát, mà nơi đó cũng là sở hành nhiếp thọ sinh tử; đó là sở hành của Bồ-tát.” VKN, như Htr.
72 Htr.: “Nơi nào là sở hành để chính quán sát vô sinh, mà không phải là sở hành để rơi vào chính tính của Thanh văn.”
73 Trái nghĩa với Htr.: “Nơi nào sở hành để hành tất cả duyên khởi, nhưng đó cũng là sở hành xa lìa mọi xu hướng kiến chấp.” VKN, như Htr.
74 VKN: yat sarvasattvasaṃgaṇikāgocaraśa na ca kleśānuśaya-gocaro ‘yaṃ bodhisattvasya gocaraḥ, nơi nào là hoạt trường quần tụ của tất cả chúng sinh nhưng không phải là hoạt trường của ô nhiễm tiềm phục, nơi đó là hoạt trường của Bồ-tát.

* Trang 166 *
device

vui với sự viễn ly,75 mà không y tựa vào sự diệt tận của thân và tâm; đó là hành của Bồ-tát. Dù đi qua ba cõi vẫn không hư hoại pháp tính; 76 đó là hành của Bồ-tát. Dù hành nơi Không, vẫn gieo trồng mọi công đức; đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành Vô tướng vẫn cứu độ chúng sinh; đó là hành của Bồ- tát. Tuy hành Vô tác vẫn thị hiện thọ thân; đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành vô khởi,77 vẫn khởi làm các hành thiện; đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành sáu hạnh Ba-la-mật vẫn biến tri tâm và tâm sở pháp của chúng sinh; 78 đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành sáu thần thông mà không đoạn tận các lậu; đó là hành của Bồ-tát. Dù hành bốn vô lượng tâm, vẫn không tham đắm cầu tái sinh cung trời Phạm thiên; đó là hành của Bồ-tát. Dù hành trì thiền định, giải thoát và tam muội, mà không tùy thiền
______________________
75 CDM: “Triệu nói, viễn ly nhỏ thì xa lìa chỗ náo nhiệt. Viễn ly lớn thì dứt hẵn thân tâm.”
76 Htr.: “Không hoại loạn pháp giới.” VKN: na ca dharmadhātu-sambhedagacaraḥ, không phải là sở hành phá hoại pháp giới.
77 Htr.: sở hành vô tác. VKN: anabhisaṃskāragocara, sở hành không tạo tác.
78 Htr.: “… mà không hướng đến sở hành bờ bên kia của tâm hành diệu trí của hết thảy chúng sinh…” VKN: ṣaṭpāramitāgocaraś ca sarvasattvacittacaritapāragamanagocaraśca, sở hành của sáu ba-la-mật thấu đạt bờ bên kia, cũng là sở hành thấu đạt bờ bên này của tâm hành của hết thảy chúng sinh.
</

* Trang 167 *
device

mà tái sinh; 79 đó là hành của Bồ-tát. Dù80 hành trì bốn niệm xứ, mà không hoàn toàn rốt ráo xa lìa thân, thọ, tâm, pháp;81 đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành trì bốn chính cần mà không xả thân tâm tinh tấn;82 đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành trì bốn như ý túc, mà đạt tự tại thần thông; 83 đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành năm căn mà phân biệt căn tính nhạy bén hay trì độn của hết thảy chúng sinh;84 đó là hành của Bồ-tát. Tuy hành năm lực mà mong cầu mười lực vô úy của Phật; đó là hành của Bồ- tát. Tuy hành bảy giác phần mà phân biệt trí tuệ của Phật; 85 đó là hành của Bồ-tát. Dù hành tám chính đạo vẫn thích đi trên vô lượng Phật đạo86; đó
_______________________
79 Htr.: “Không tái sinh theo thế lực của các Thiền.”
80 Từ đây trở xuống, 37 bồ-đề phần, thiếu hẵn trong bản Ckh.
81 Htr.: “Mà không vui cầu viễn ly thân, thọ, tâm, pháp.”
82 Htr.: “Sở hành không thấy có hai thứ thiện và bất thiện.” VKN: na ca kuśalākuśaladvayopalaṃbha, không phải là sở hành của hai phân biệt thiện và bất thiện.
83 Htr.: vô công dụng biến hiện tự tại thần túc. VKN: anābhogarṣi-pādavaśavarti, biến hóa tự tại không cần dụng công.
84 Htr.: “… mà không phân biệt…” VKN, như Lth.
85 Htr.: “… mà không cầu thiện xả của diệu trí để biết sai biệt của Phật pháp.” VKN, như Lth.
86 Htr.: “… mà không chán bỏ tà đạo…” VKN: kumārga(a)nadhyā-lambanagocaraś ca, mà cũng là sở hành duyên đối tượng tà đạo.

* Trang 168 *
device

là Bồ-tát hạnh. Dù hành pháp trợ đạo chỉ và quán mà rốt ráo không rơi vào tịch diệt; đó là hành của Bồ-tát. Dù hành các pháp bất sinh bất diệt vẫn trang điểm tự thân bằng các tướng hảo; đó là hành của Bồ-tát. Dù thị hiện oai nghi của Thanh văn hay Phật Duyên giác vẫn không xả pháp của Phật; đó là hành của Bồ-tát. Tuy tùy theo tướng tịnh rốt ráo của hết thảy pháp mà vẫn tùy chỗ thích hợp thị hiện tự thân; đó là hành của Bồ-tát. Dù nhìn thấu hết thảy cõi Phật luôn tĩnh lặng như hư không,87 vẫn làm hiển hiện các loại cõi Phật thanh tịnh; đó là hành của Bồ-tát. Dù đã đạt quả vị Phật, có thể chuyển Pháp luân, và vào Niết-bàn,88 vẫn không từ bỏ Bồ-tát đạo;89 đó là hành của Bồ-tát”.
Duy-ma-cật giảng xong pháp này, 90 hết thảy tám ngàn chư thiên đi theo Văn-thù-sư-lợi đều phát tâm cầu giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác.
______________________
87 Htr.: “… cõi Phật, mà tự tính là không, tịch diệt, không thành không hoại, như hư không…”
88 VKN: dharmacakrapravarttanamahāparinirvāṇasaṃdarśaṇ-agocaraḥ, thị hiện chuyển pháp luân, nhập Đại bát-niết-bàn.
89 Htr.: “nhưng không phải không tu hành các sai biệt của Bồ-tát hành.” VKN, như Lth.
90 Htr.: “… sở hành hy hữu sự của hết thảy Bồ-tát…”

* Trang 169 *
device

* Trang 170 *
device

 
Duy-Ma-Cật Sở Thuyết