LOGO VNBET
CHƯƠNG SÁU
BẤT TƯ NGHỊ1

 
Bấy giờ, khi Xá-lợi-phất thấy trong thất này không có giường ghế gì, bèn nghĩ: “Các Bồ-tát và Đại Đệ tử sẽ ngồi ở đâu?”. Trưởng giả Duy-ma-cật biết được ý nghĩ ấy, bèn hỏi Xá-lợi-phất:
“Thưa Nhân giả, ngài đến đây để cầu pháp, hay vì đi tìm giường ghế?”
Xá-lợi-phất đáp:
“Tôi đến đây vì pháp, chẳng vì giường ghế”.
Duy-ma-cật nói:
“Thưa ngài Xá-lợi-phất, người cầu pháp ngay đến thân mạng còn không tham tiếc, huống hồ giường ghế. Vì rằng, cầu pháp không phải tìm cầu những gì là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không phải tìm cầu những gì là giới, xứ; không phải tìm cầu
_____________________
1 Bản Hán, Chi Khiêm, gồm hai phẩm; nửa sau phẩm V, “Chư pháp ngôn 諸法言” và phẩm VI “Bất tư nghị 不思議 La-thập, “Bất tư nghị phẩm đệ lục 不思議品第六” (tr. 81a28); Huyền Trang, quyển 3, “Bất tư nghị phẩm đệ lục 思議品第六” (tr. 570a28). VKN, phẩm v, acintyavimokṣa saṃdarśana-parvarta, thị hiện giải thoát bất tư nghị.

* Trang 171 *
device

những gì thuộc dục, sắc, vô sắc.
“Thưa Xá-lợi-phất, người cầu pháp không bám chấp Phật mà cầu, không bám chấp Pháp mà cầu, không bám chấp Tăng mà cầu. Người cầu pháp không phải để thấy khổ mà cầu, không vì đoạn trừ tập mà cầu, không vì chứng diệt mà cầu, không vì tu đạo mà cầu. Vì sao vậy? Vì pháp không có hý luận. Vì nếu nói: ‘Tôi thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo,’ thì chỉ là hý luận, không phải tầm cầu pháp.
“Thưa Xá-lợi-phất, pháp được gọi là tịch diệt. 2 Nếu hành nơi sinh diệt, đó là đi tìm cầu sự sinh diệt chứ không phải tìm cầu pháp.
Pháp được gọi là vô nhiễm. Nếu tham nhiễm pháp, cho đến tham nhiễm Niết-bàn, đó là nhiễm trước chứ không phải tìm pháp.  Pháp không hành xứ. 3 Nếu hành nơi pháp, đó là hành xứ chứ không phải là sự cầu pháp.4 Pháp không thủ xả. 5 Nếu có thủ xả
_______________________
2 Htr.: “Pháp được gọi là tịch tĩnh (Skt. śānta) và cận tịch tĩnh (upaśānta). VCS: “Tịch tĩnh, chỉ chân như. Cận tịch tĩnh, chỉ các pháp vô lậu khác.”
3 Hành xứ 行處 . Htr.: “pháp không phải là cảnh giới.” VKN: dharmo hy aviṣayo, pháp là phi cảnh giới (đối tượng của thức).
4 Htr.: “Nếu tư duy trên tất cả cảnh giới sở hành, đó là cầu cảnh giới chứ không phải cầu pháp.”
5 Thủ xả 取捨; VCS: “Thủ, tức nhiếp thủ 攝取. Xả, tức khí

* Trang 172 *
device

nơi pháp, đó là thủ xả chứ chẳng phải tìm Pháp. Pháp không xứ sở. 6 Nếu dính mắc xứ sở,7 đó là sự dính mắc xứ sở8 chứ không phải tìm Pháp. Pháp được gọi là vô tướng. Nếu tùy theo tướng mà nhận thức, đó là đi tìm cầu tướng chớ chẳng phải tìm
_____________________
xả 棄 捨 .” Chấp nhận hay loại bỏ. VKN: dharmo nāyūhoniryūhaḥ, pháp không phải là sự mang đến hay lấy đi.
6 Ckh. pháp vô sào quật 法無巢窟, pháp không có hang ổ. Lth.: pháp vô xứ sở 法無處所, pháp không có nơi chốn. Htr.: pháp vô nhiếp tàng 法無攝藏, pháp không có sự tích chứa. VCS: “Cái tích chứa (năng nhiếp tàng) là ái. Cái được tích chứa (sở nhiếp tàng) là đối tượng (sở duyên) của ái.” VKN: dharmo’nālayo ye ālayārāmāḥ na te dharmārthikāḥ, pháp không phải là nơi tích chứa. Ai hân hoan với sự tích chứa, người ấy không phải cầu pháp. Cf. Nhiếp Đại thừa luận bản 1 (T31n1594, tr. 134a18) dẫn Tăng nhất: “Thế gian chúng sinh yêu a-lại-da (ālaya)…” Trong đó (T31n1594, tr. 133b18) A-lại-da được định nghĩa: “Do tích chứa các pháp…由攝藏諸法.” Cf. Pali, Saṃyutta, S.i. 136: ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā ālayasamudditā,
“Chúng sinh này say đắm, thích thú, vui sướng với những gì được tích chứa.” Nghĩa cụ thể của ālaya là “cái nhà, chỗ cư ngụ”; do đó, Lth. dịch là xứ sở, Ckh. dịch là sào quật.
7 Lth.: trước xứ 著處. Htr.: lạc nhiếp tàng 樂攝藏. Skt. ālayarāma; xem cht. 14 trên.
8 VKN: ye viṣayasaṃkhyātāḥ na te dharmārthikā viṣayārthikās te, những ai tư duy về các đối tượng, người đó không phải cầu pháp mà cầu các cảnh giới đối tượng.

* Trang 173 *
device

cầu Pháp. Pháp không thể trụ. 9 Nếu trụ nơi pháp, đó là cầu trụ pháp chớ chẳng phải cầu pháp.10 Pháp không thể được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết.11 Nếu hành nơi sự thấy, nghe, cảm, biết; đó chỉ là thấy, nghe, cảm, biết chứ chẳng phải tìm cầu pháp. Pháp là vô vi. Nếu hành nơi hữu vi, đó là cầu hữu vi chớ chẳng phải cầu pháp.
“Cho nên, thưa ngài Xá-lợi-phất, cầu pháp là không sở cầu đối với tất cả pháp”.
Khi nói xong lời này, năm trăm chư thiên được con mắt pháp thanh tịnh ở trong các pháp.12
Rồi trưởng giả Duy-ma-cật lại hỏi Văn-thù-sư-lợi: “Nhân giả đã chu du qua vô lượng a-tăng-kỳ quốc độ; ở cõi Phật nào có tòa sư tử được thành tựu với công đức vi diệu tối thượng tuyệt đẹp?” Văn-thù-sư-lợi đáp:
_________________________
9 VKN: dharmo’savāsaḥ, pháp không phải là trú xứ.
10 Htr.: “Nếu cùng trụ với pháp; đó là cầu trụ chứ không phải cầu pháp.”
11 Kiến văn giác tri 見聞覺知. Skt. dṛṣṭa-śruta-mata-jñāta. VCS dẫn Đối pháp luận: Được tiếp nhận bởi mắt là thấy (kiến, dṛṣṭa ); bởi tai là nghe (văn, śruta); bởi tri giác tự nhiên mà biết như vậy như vậy là cảm nhận (giác, mata); nhận thức nội tại là nhận biết (tri, jñāta).
12 Htr.: “xa lìa trần cấu, được sự thanh tịnh…” CDM: “Triệu nói, được pháp nhãn tịnh của Đại thừa.” VCS: chứng quả Dự lưu. Bản Ckh., hết phẩm v.

* Trang 174 *
device

.“Cư sỹ, ở phương đông có cõi Phật cách đây vô lượng nghìn vạn ức a-tăng-kỳ thế giới bằng số cát của ba mươi sáu sông Hằng. Đó là cõi Tu-di tướng. 13 Có Phật Tu-di Đăng Vương14 hiện ở đó. Đức Phật ấy cao 84.000 do-tuần và bảo tòa sư tử của ngài cũng cao 84.000 do-tuần, được trang sức bậc nhất”.
Lúc ấy, trưởng giả Duy-ma-cật hiển hiện khả năng thần thông, tức thì đức Phật kia khiến 32.000 tòa sư tử cao lớn, oai nghiêm, đến thẳng vào thất của Duy-ma-cật. Chư Bồ-tát, đại đệ tử Phật, các Phạm thiên và bốn vị Thiên vương đều thấy điều chưa từng trông thấy. Thất ấy trở nên rộng rãi, chứa hết 32.000 bảo tòa không khuất lấp cái nào và cũng không làm chật hẹp thêm thành Tỳ-da-ly, cõi Diêm-phù-đề và bốn thiên hạ.
Đoạn Duy-ma-cật nói với Văn-thù-sư-lợi:
“Xin mời chư vị ngồi vào tòa sư tử. Hãy cùng ngồi với các Bồ-tát Thượng nhân. Các vị hãy tự lập thân mình tương xứng với tầm cỡ của tòa”.
Các vị Bồ-tát đã đắc thần thông lực liền tự biến hình cao lớn 4 vạn 2 nghìn do-tuần để ngồi vào tòa sư tử. Nhưng các Bồ-tát sơ tâm và chúng Đại đệ tử
_______________________
13 Tu-di tướng 須彌相. Ckh. Tu di phan 須彌幡. Htr.: Sơn tràng 山幢. VKN: Merudhvaja.
14 Ckh., Lth.: Tu-di Đăng Vương 須彌燈王. Htr.: Sơn Đăng Vương 山燈王. VKN: Merupradīparāja

* Trang 175 *
device

không thể trèo lên những bảo tòa cao rộng như vậy được.
Duy-ma-cật mới nói với Xá-lợi-phất:
“Mời tôn giả ngồi lên tòa sư tử”.
Xá-lợi-phất đáp:
“Cư sỹ, tòa này cao rộng, tôi không thể lên được”.
Duy-ma-cật bảo:
“Thưa ngài Xá-lợi-phất, hãy đảnh lễ đức Như Lai Tu-di Đăng Vương thì sẽ ngồi lên được”.
Lúc ấy hết thảy chư Bồ-tát sơ tâm và Đại đệ tử đều cung kính đảnh lễ đức Như Lai Tu-di Đăng Vương và ngồi lên được các tòa sư tử.
Xá-lợi-phất nói với Duy-ma-cật:
“Cư sỹ, thật là chưa từng có. Căn phòng nhỏ như vầy có thể chứa đủ các tòa cao rộng như vậy mà không che lấp thứ gì ở thành Tỳ-da-ly, cũng không làm chật hẹp lại các thị trấn, làng mạc của cõi Diêm-phù-đề, bốn thiên hạ, cũng như các cung điện của chư thiên, long vương và các quỷ thần”. 15
Duy-ma-cật đáp:
“Vâng, thưa ngài Xá-lợi-phất, chư Phật và Bồ-tát có môn giải thoát được gọi là ‘Bất khả tư nghị.’ 16
____________________________
15 Htr.: “Tất cả đều vẫn thấy như cũ, không có gì đổi khác.” VKN: tathaiva saṃdṛśyante yathā pūrvan tathā paścāt.
16 VKN: acintyo nāma vimokṣaḥ.

* Trang 176 *
device

Bồ-tát trụ nơi giải thoát này có thể đặt ngọn Tu-di to lớn hùng vĩ trong một hạt cải mà không hề thay đổi kích thước của hạt cải. Tướng trạng nguyên thủy của núi chúa Tu-di vẫn như cũ. Bốn vị Thiên vương cùng với chư thiên Đao-lị17 cũng không biết mình đã được đặt trong một hạt cải. Chỉ những ai cần được độ mới thấy Tu-di lọt vào trong hạt cải. 18 Đó là pháp môn giải thoát Bất khả tư nghị. 19
“Lại nữa, đem nước trong bốn đại dương đặt vào một lỗ chân lông mà chẳng khuấy động các thủy tộc, tôm, cua, rùa, cá, mà bốn đại dương cũng y nguyên trạng, khiến các rồng, quỷ thần, A-tu-la cũng chẳng biết mình đã được đặt vào đâu. Chúng
_________________________
17 Tứ Thiên vương 四天王 và Đao-lị chư thiên 忉利諸天 (antarmahārājakāyikā devās trayastriṃśato vā). Cf. Câu-xá 11 (Đại 29 tr. 59c14): núi Tu-di phân thành bốn tầng cấp. Tầng thứ tư là chỗ của Tứ đại thiên vương cùng quyến thuộc. Trên chóp đỉnh là chỗ của thiên chúng Tam thập tam thiên. Vì vậy, nếu di chuyển Tu-di, thì các chư thiên này cũng bị di chuyển.
18 Htr.: “Chỉ những ai cần chứng kiến thần thông lực để có thể được điều phục, những người ấy mới thấy…”
19 Riêng Htr. thêm một đoạn, không thấy trong các bản khác: “Bồ-tát an trụ giải thoát bất khả tư nghị như vậy, được dẫn vào bằng năng lực trí tuệ của phương tiện thiện xảo. Cảnh giới giải thoát bất khả tư nghị này không phải là cảnh giới mà các Thanh văn và Bích-chi-phật có thể ước lượng được

* Trang 177 *
device

sinh ở đó cũng không ai thấy mình bị quấy nhiễu. 20 “Lại nữa, Xá-lợi-phất, Bồ-tát trụ giải thoát Bất khả tư nghị có thể đặt trong lòng bàn tay phải cả thế giới ba nghìn đại thiên, như người thợ gốm cầm cái bàn xoay, và ném nó vượt qua Hằng hà sa số thế giới mà chúng sinh trong đó không hay, không biết mình đang đi đâu; rồi thu về đặt lại chỗ cũ mà không khiến cho bất cứ ai có cảm tưởng đi và về. 21
“Lại nữa, Xá-lợi-phất, hoặc có chúng sinh có thể độ được nhưng chúng thích tồn tại lâu dài trong thế gian này,22 Bồ-tát này có thể dùng thần lực của ngài kéo dài bảy ngày thành một kiếp khiến cho họ thấy đó là một kiếp. Hoặc có chúng sinh đáng được cứu độ nhưng chúng không thích tồn tại lâu dài, Bồ-tát có thể rút ngắn một kiếp thành bảy
__________________________
20 VKN: na ca kaścit sattvo vihitsito (= vihiṃsito) viheṭhito vā bhaved, không chúng sinh nào thấy bị phương hại, tổn thương. Htr. còn thêm đoạn kết luận như thí dụ Tu-di và hạt cải.
21 Htr., thêm đoạn kết luận.
22 Htr.: “Hoặc có các hữu tình cần phải thấy sự tiếp nối của sinh tử thật là lâu dài mới có thể được điều phục; hoặc có các hữu tình cần thấy sự tiếp nối của sinh tử chỉ trong thời gian ngắn ngủi mới có thể được điều phục.” VKN: santi sattvā aparamāṇasaṃsāra-vainayikāḥ santi saṃkṣiptasaṃsāravainayikāḥ, có những chúng sinh cần được hóa độ bằng sinh tử vô lượng; có những chúng sinh cần được hóa độ bằng sinh tử ngắn ngủi.

* Trang 178 *
device

ngày khiến cho chúng sinh ấy thấy đó chỉ là bảy ngày.
“Lại nữa, Xá-lợi-phất, Bồ-tát đã trụ giải thoát Bất khả tư nghị có thể tập họp tất cả mọi sự trang nghiêm trong các cõi Phật vào một quốc độ để mọi chúng sinh có thể nhìn thấy.
“Lại nữa, ngài có thể đặt hết thảy chúng sinh từ mọi cõi Phật trong lòng tay phải, rồi bay lượn23 khắp mười phương cho mọi nơi đều được thấy mà không hề xao động bản xứ.
“Lại nữa, Xá-lợi-phất, Bồ-tát này có thể chỉ trong một lỗ chân lông cho thấy hết thảy phẩm vật của chúng sinh trong mười phương quốc độ cúng dường chư Phật.
“Lại nữa, ngài có thể chỉ trong một lỗ chân lông cho thấy tất cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú của hết thảy thế giới khắp mười phương.
“Lại nữa, ngài có thể hít một hơi hết thảy gió24 của
____________________________
23 Htr.: thừa ý thế thông 乘意勢通, nương theo năng lực thần thông được thực hiện bằng thế lực của ý chí. VCS (tr. 1080a16): “Có hai giải thích về ý thế thông. 1. Không phải du hành bằng tự thân, mà bằng thế lực của ý… 2. Sự vận dụng hoạt động của thân tùy theo thế lực của ý, cho nên cực kỳ nhanh chóng, trong một sát na mà đi khắp mười phương…” VKN: cittajādhikayā ṛdhyā, bằng thần thông siêu việt do bởi tâm sinh.
24 Htr.: đại phong luân 大風輪. VKN: vātamaṇḍalyaḥ.

* Trang 179 *
device

mười phương quốc độ mà bên trong không suy suyễn thân mình, bên ngoài cũng chẳng rung gãy một cành cây.
“Lại nữa, khi mười phương thế giới bị thiêu đốt bởi kiếp tận, 25 Bồ-tát này có thể hít hết lửa vào bụng mình mà không bị tổn hại và lửa vẫn cháy.
“Lại nữa, Bồ-tát này có thể lấy một cõi Phật từ phương dưới cách xa ngài Hằng hà sa số thế giới rồi ném nó lên cao ở phương trên cách xa ngài Hằng hà sa số thế giới nữa dễ dàng như người ta dùng đầu mũi kim nâng một chiếc lá táo mà không làm cho lá táo hư hại.
“Lại nữa, Xá-lợi-phất, Bồ-tát đã trụ giải thoát Bất khả tư nghị có thể dùng thần lực hiện thân là Phật, Bích-chi-phật, Thanh-văn, Đế Thích, Phạm-thiên, hay Thế chủ, hoặc hiện thân Chuyển luân Thánh vương.
“Lại nữa, Ngài cũng có thể khiến mọi âm thanh trong mười phương quốc độ, âm cao, trung, thấp, đều biến thành tiếng Phật, giảng pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, và đủ các pháp khác nhau được thuyết bởi chư Phật khắp mười phương; tất cả đều được nghe cùng khắp trong đó.
___________________________
25 VKN: daśasu dikṣu buddhakṣetrāṇy uddahyante kalpoddāhena, các quốc độ Phật trong mười phương bị đốt cháy bởi ngọn lửa kiếp tận.

* Trang 180 *
device

“Thưa ngài Xá-lợi-phất, tôi chỉ nói vắn tắt năng lực của giải thoát Bất khả tư nghị của Bồ-tát. Nếu kể cho đủ thì trong một kiếp cũng chưa nói hết”.
Lúc bấy giờ, Đại Ca-diếp nghe pháp môn Giải thoát bất khả tư nghị này liền tán thán là chưa từng có, rồi nói với Xá-lợi-phất:
“Giống như có người trình bày các thứ sắc tượng trước mặt người mù, nhưng người mù không thể thấy. Hết thảy Thanh-văn dù được nghe pháp môn giải thoát Bất khả tư nghị này, nhưng không thể hiểu vì sao như vậy. Những người có trí nghe pháp này ai mà không phát tâm cầu giác ngộ tối thượng? Chúng ta vì sao để cho vĩnh viễn đoạn tuyệt gốc rễ mà ở trong pháp Đại thừa này thì như hạt giống đã mục. Hết thảy Thanh-văn khi nghe pháp môn giải thoát Bất khả tư nghị này phải khóc than, âm thanh chấn động cả thế giới ba nghìn đại thiên. Hết thảy Bồ-tát thì nên hết sức hân hoan, đội lên đầu mà thọ nhận pháp này. 26 Bồ-tát nào tin hiểu trì pháp môn giải thoát Bất khả tư nghị này, hết thảy bọn Ma không thể làm gì được”.
Khi Đại Ca-diếp nói điều này, 32.000 chư thiên phát tâm cầu giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác.
Bấy giờ Duy-ma-cật nói với Đại Ca-diếp:
________________________-
26 Htr. thêm: “Như Vương Thái tử đăng quang nhận ngôi vị
Quán đỉnh.”

* Trang 181 *
device

“Thưa Nhân giả, những ai hiện thân là Ma vương trong vô lượng a-tăng-kỳ thế giới khắp mười phương phần lớn đều là Bồ-tát đã trụ giải thoát Bất khả tư nghị. Bằng phương tiện lực để nhằm hóa độ chúng sinh nên hiện thân như vậy.
“Lại nữa, Đại Ca-diếp, vô lượng Bồ-tát khắp mười phương khi có người đến xin cho tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy, não, máu, thịt, da, xương, chòm xóm, thành ấp, nàng hầu hay vợ con, nô tỳ, voi, ngựa, xe cộ, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, hổ phách, trân châu, võ sò, quần áo, đồ ăn thức uống; những người đến xin như vậy phần lớn đều là Bồ-tát đã trụ giải thoát Bất khả tư nghị; dùng phương tiện lực để thử khiến cho chí nguyện được kiên cố. Vì Bồ-tát đã trụ giải thoát Bất khả tư nghị có đại uy lực để thúc ép Bồ-tát và cho chúng sinh thấy những việc khó làm như vậy. 27 Phàm căn trí thấp kém thì không có uy lực đó để thúc ép Bồ-tát làm như vậy28. Cũng như29 cái đạp30 của voi chúa
__________________________
27 Htr.: “Vì muốn sự lợi ích cho các hữu tình nên thị hiện những sự nghiệp lớn khó làm như vậy.”
28 Htr.: “không thể thực hiện sự ăn xin bằng cách thúc ép người cho như vậy.”
29 Trước đó, Htr. có thêm thí dụ: “Như lửa đom đóm không thể che ánh mặt trời…”
30 Thứu đạp 蹴蹋. Htr.: “như sự chiến đấu uy mãnh của voi chúa…”

* Trang 182 *
device

không phải là điều mà con lừa có thể kham. 31 Đó chính là cánh cửa dẫn vào phương tiện của trí tuệ của Bồ-tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghị“. 32 *
___________________________
31 Htr. thêm: “… chỉ có voi chúa mới cỏ thể chiến đấu với voi chúa. Cũng vậy, phàm phu ở địa vị thấp kém không đủ để bức bách Bồ-tát (phải cho). Duy chỉ Bồ-tát mới có khả năng bức bách Bồ-tát (bố thí).”
32 Htr. thêm kết luận: “Khi pháp này được thuyết giảng, tám nghìn Bồ-tát chứng nhập cảnh giới giải thoát bất tư nghị vốn chỉ có thể được chứng nhập bằng trí lực của phương tiện thiện xảo của Bồ-tát.”
* Ckh., hết quyển thượng. Htr., hết quyển 3.

* Trang 183 *
device

* Trang 184 *
device

 
Duy-Ma-Cật Sở Thuyết