LOGO VNBET
 Hòa Thượng
MINH LƯỢNG – THÀNH ĐẲNG
( 1626 – 1709 )
Khai Sơn Chùa Vạn Đức – Hội An
 
Hòa thượng Minh Lượng thế danh Lý Nhuận, sinh vào giờ Ngọ, ngày 26 tháng 4 năm Bính Dần (1626) tại huyện Triều Dương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Thân phụ là cụ ông húy Lý Ân, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Tề.
Ngài xuất gia, đắc pháp với tổ Nguyên Thiều Siêu Bạch [1] nên có pháp danh Minh Lượng, tự Nguyệt Ân, hiệu Thành Đẳng, nối dòng pháp Lâm Tế đời thứ 34. Nếu xét về dòng của ngài Đạo Mân tại chùa Thiên Khai thì Ngài thuộc hàng chữ “Thành”. Xét về dòng của ngài Vạn Phong-Thời Ủy chùa Thiên Đồng thì Ngài thuộc chữ “Minh”.
Vào khoảng hậu bán thế kỷ XVII, Ngài sang Việt Nam và tham dự giới đàn tại chùa Thiền Lâm-Thuận Hóa. Sau khi giới đàn hoàn mãn, Ngài và thiền sư Minh Hải vào ngụ tại Hội An. Thiền sư Minh Hải khai sơn chùa Chúc Thánh, còn Ngài đến làng Thanh Hà khai sơn chùa Lang Thọ (tức chùa Vạn Đức ngày nay).

* Trang 215 *
device

Những ngày đầu tiên tại vùng đất mới này, Ngài được sự trợ duyên của người quả phụ và 2 đứa con thơ của nhà Nho quá cố hiến cúng một khu đất để làm am thất tu hành. Nơi am thất này, ngày đêm miên mật 6 thời, Ngài chuyên tâm thiền định, ít giao thiệp với đời. Tuy nhiên, hương giới hạnh đã theo gió bay xa, đồ chúng lần lần quy tụ, theo Ngài học hạnh viễn ly.
Thiền sư Minh Lượng-Thành Đẳng truyền pháp theo bài kệ của tổ Đạo Mân:
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Gian Đăng Vạn Cổ Truyền.
Tại chùa Lang Thọ, Ngài đã đào tạo một thế hệ đệ tử kế thừa với các ngài pháp danh bằng chữ Phật như:
- Phật Tuyết-Tường Quang: kế nghiệp trụ trì chùa Vạn Đức, khai sơn chùa Kim Liên, tại ấp Trường Lệ, xứ Tầm Vong, xã Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam.[2]
- Phật Thiền-Hoa Nghiêm: khai sơn chùa Kim Sa, tại xứ Trãng Sõi, xã Cẩm Sa, Thanh Chiêm, Quảng Nam.[3]
- Phật Tường-Đức Liên: khai sơn chùa Quang Hòa tỉnh Bình Định.

* Trang 216 *
device

- Phật Bảo-Pháp Hóa: khai sơn chùa Thiên Ấn, tỉnh Quảng Ngãi
- Trường Viễn đại sư, khai sơn chùa Vĩnh Long [4]
Sau một thời gian giáo hóa tại Quảng Nam, thấy các đệ tử đã trưởng thành có khả năng thay mình giáo hóa, Ngài bèn giao chùa cho đệ tử là Phật Tuyết-Tường Quang trụ trì, còn mình tiếp tục vào Nam vân du hóa đạo.[5]
Tại đất Gia Định, Ngài khai sơn chùa Đại Giác ở dinh trấn Biên Hòa để làm nơi truyền giáo. Kế vị Ngài nơi đây có đệ tử là Phật Ý-Linh Nhạc [6], một trong những cao tăng của Phật giáo miền Nam. Ngài Phật Ý khai sơn chùa Từ Ân và Khải Tường tại đất Gia Định.
Sau một thời gian dài giáo hóa tại An Nam, tổ sư Minh Lượng-Thành Đẳng đã viên tịch vào giờ Tỵ ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu (1709), thọ thế 83 tuổi.[7].
Nhìn lại sự nghiệp giáo hóa của tổ Minh Lượng quả thật là vĩ đại. Từ Trung Hoa, Ngài đã đến truyền giáo suốt cả một lãnh thổ Đàng Trong. Hai đạo tràng chính mà Ngài hoằng hóa là chùa Vạn Đức tại Quảng Nam và chùa Đại Giác tại Biên Hòa. Tuy nhiên, tại Quảng Nam thì chỉ truyền xuống một đời với các Ngài thuộc hàng chữ “Phật” mà thôi. Còn tại Gia Định, Ngài

* Trang 217 *
device

Phật Ý-Linh Nhạc có các đệ tử đắc pháp thuộc hàng chữ “Tổ” như: Tổ Nhân-Thiên Trường: trụ trì chùa Tập Phước; Tổ Tông-Viên Quang: trụ trì chùa Giác Lâm; Tổ Ấn-Mật Hoằng: trụ trì chùa Đại Giác, Tăng cang chùa Linh Mụ-Huế, Tổ Đạt-Trí Tâm v.v…đều là những bậc cao Tăng thâm sâu giáo lý. Các pháp tôn của Ngài Minh Lượng đã tích cực xiển dương Phật pháp khiến cho đạo Phật tại miền Nam ngày càng hưng thịnh. Đạo đức của các Ngài đã ảnh hưởng đến triều đình nên được  vua mời ra kinh giảng đạo và tấn phong Tăng cang như ngài Tổ Ấn-Mật Hoằng, Tăng cang đầu tiên của triều Nguyễn.
Ngày nay, các chùa Đại Giác ở Biên Hòa, Giác Lâm, Giác Viên, Từ Ân v.v..tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn truyền thừa theo bài kệ của ngài Đạo Mân và đã xuống tới thế hệ chữ Lệ, Trung, Thiên.
Bị chú:
[1]. Khảo sát tại các chùa: Quốc Ân ở Huế; Thập Tháp ở Bình Định; Giác Lâm ở Sài Gòn, chúng tôi đều thấy có thờ long vị tổ Minh Lượng dưới ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch. Vậy ta có thể khẳng định Ngài là đệ tử tổ Nguyên Thiều.
[2], [3], [4] Các chùa này đã bị tàn phá bởi thời chiến tranh Tây Sơn. Riêng chùa Vĩnh Long vẫn chưa xác định tại nơi nào. Có lẽ cũng nằm trong địa phận

* Trang 218 *
device

Quảng Nam, vì tháp Ngài Trường Viễn được môn đồ kiến lập bên tháp ngài Phật Thiền.
[5]. Cho đến nay, vẫn chưa có sử liệu nào xác định niên đại ngài Minh Lượng vào Nam hoằng hóa.
[6]. Ngài Phật Ý-Linh Nhạc là người ở đâu vẫn chưa rõ. Có thể Ngài từ Quảng Nam theo hầu bổn sư vào Nam, hoặc là người Gia Định xuất gia với tổ tại chùa Đại Giác.
[7]. Nói về năm sinh và năm mất của tổ Minh Lượng thì có 2 thuyết sau:
- Theo như tài liệu của Hòa thượng Thích Chơn Phát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tài liệu lưu hành nội bộ-1998) nói rằng tổ Minh Lượng-Thành Đẳng sinh vào giờ Ngọ ngày 26 tháng 4 năm Bính Dần (1626) và viên tịch vào giờ Tỵ ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu (1709), thọ 83 tuổi.
- Theo Nguyễn Hiền Đức trong Lịch sử Phật giáo Đàng Trong thi tổ Minh Lượng sinh năm Bính Dần (1686) và mất năm Kỷ Sửu (1769).
Trong 2 thuyết trên thì thuyết của Hòa thượng Chơn Phát là hợp lý hơn cả. Còn như Nguyễn Hiền Đức cho rằng năm Bính Dần là năm 1686 và năm Kỷ Sửu là năm 1769 thì không đúng. Vì theo nhiều tài liệu thì tổ

* Trang 219 *
device

Minh Lượng cùng tổ Minh hải đến Quảng Nam vào những thập niên cuối thế kỷ 17. Niên đại tổ lập chùa Vạn Đức là những năm 1690 đến 1696.
Tuy nhiên, cả hai thuyết đều không đưa ra được tổ sư Minh Lượng viên tịch tại đâu và bảo tháp hiện ở chỗ nào. Hiện nay, tại chùa Vạn Đức chỉ còn có mộ song thân của Tổ mà thôi.
Ở đây, thuyết của Hòa thượng Chơn Phát là hợp lý hơn cả nên người viết lấy làm niên đại chính cho bài viết này. Hy vọng về sau, chúng ta tìm ra những sử liệu mới về tổ Minh Lượng để làm sáng tỏ hơn nữa về hành trạng, đạo nghiệp và sự cống hiến của Ngài đối với Phật giáo Việt Nam.

 

* Trang 220 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng