LOGO VNBET
Hòa Thượng
ẤN BÍNH – PHỔ BẢO
( 1865 – 1914 )
Trụ Trì Chùa Chúc Thánh – Hội An
 
Hòa thượng thế danh Đinh Văn Sửu, sinh vào giờ Tý ngày mồng 8 tháng 11 năm Ất Sửu (1865) niên hiệu Tự Đức thứ 18 triều nhà Nguyễn tại xã Long Phước, huyện Duy Xuyên (nay là thị trấn Nam Phước-Duy Xuyên) tỉnh Quảng Nam. Thân sinh là cụ ông Đinh Văn Kiều và thân mẫu là cụ bà . . . . .
Được sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo, nên tâm nguyện xuất gia tu học theo đạo giải thoát đã nảy sinh trong Ngài từ lúc ấu thơ. Thêm vào đó, do sự giáo dưỡng của thân phụ nên thiện duyên ấy ngày càng tăng trưởng và mầm Bồ đề ấy nảy cành xanh lá.
Năm Kỷ Mão (1879), Ngài phát tâm xuất gia, được thân phụ đưa đến chùa Tam Thai lạy tổ Chương Quảng Mật Hạnh xin làm đệ tử. Ngài được Tổ thâu nhận làm môn hạ nhập chúng tu học và ban cho pháp danh Ấn Bính.
Năm Giáp Thân (1884), Kiến Phước nguyên niên, sau 5 năm hành điệu, Ngài được Bổn sư thế độ và

* Trang 53 *
device

ban cho pháp tự Tổ Thuận, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
 Tháng 4 cùng năm, Tổ sư Mật Hạnh viên tịch nên Ngài về Phước Lâm y chỉ Hòa thượng Vĩnh Gia tu học.
Năm Kỷ Sửu (1889), niên hiệu Thành Thái nguyên niên, Hòa thượng Quy Trụ trụ trì chùa Thiên Tôn ở xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên khai đàn truyền giới, Ngài được thọ Tam Đàn cụ túc tại giới đàn này. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 25 tuổi.
Sau khi thọ giới, Ngài ở lại Phú Yên một thời gian tham học kinh luật tại chùa Từ Quang với các vị cao Tăng  đương thời như: Huệ Minh, Pháp Tạng, Pháp Hỷ v.v… Chùa Từ Quang là một trong những cái nôi đào tạo Tăng tài của Phật giáo miền Trung, lúc bấy giờ các vị cao Tăng tỉnh Phú Yên đều uyên thâm giáo nghĩa. Nhờ nhân duyên thân cận nên sự tu học của Ngài tiến bộ vượt bực.
Năm Quý  Tỵ (1893), niên hiệu Thành Thái năm thứ 5, Ngài được tổ Vĩnh Gia phú pháp hiệu là Phổ Bảo đại sư. Với pháp hiệu này, Tổ kỳ vọng vào Ngài tương lai phổ tế Phật pháp quý báu đến khắp các nơi.
Năm Tân Sửu (1901), niên hiệu Thành Thái thứ 13, Hòa thượng Chứng Đạo đương kim trụ trì chùa

* Trang 54 *
device

 Chúc Thánh vì tuổi cao nên về lại chùa Phổ Quang tại quê nhà làng Cẩm Văn, Điện Bàn. Vì thế, Sơn môn đã cử Ngài kế tục trụ trì tổ đình Chúc Thánh.
Lúc bấy giờ, đất nước đang bị người Pháp đô hộ, nhân dân một cổ hai tròng đời sống vô cùng cơ cực. Tuy nhiên với cương vị trụ trì một ngôi chùa tổ của môn phái, Hòa thượng không ngừng đem hết khả năng của mình xiển dương Phật pháp, tiếp tăng độ chúng, trùng kiến Già Lam.
Năm Tân Hợi (1911), Hòa thượng khởi công đại trùng tu lại tổ đình Chúc Thánh, nâng cao ngôi chánh điện và tiền đường, xây thêm Đông đường và Tây đường v.v… khiến cho Già Lam Chúc Thánh khang trang, đẹp đẽ. Và những công trình này gần như cố định cho đến lần trùng tu năm 2004. Thời bấy giờ trong lúc giặc giã nhiễu nhương, kinh tế khó khăn mà Ngài làm được những Phật sự như vậy thì quả thật là một điều hy hữu, không thể nghĩ bàn.
Hòa thượng trụ trì Chúc thánh được 13 năm, đến năm Giáp Dần (1914), niên hiệu Duy Tân năm thứ 8, vào giờ Ngọ ngày 11 tháng 2 thân vô bệnh tật, Ngài gọi trưởng tử Thiện Quả đến phú chúc kế thừa trụ trì chốn tổ, dặn dò hàng môn đồ lần cuối rồi niệm Phật mà thoát hóa, hưởng thọ 50 tuổi đời và 25 hạ lạp. Môn đồ xây

* Trang 55 *
device

tháp và tôn trí nhục thân Ngài ở phía Đông khuôn viên của Tổ đình
Hòa thượng Ấn Bính là một trong những vị cao Tăng của Phật giáo Quảng Nam đầu thế kỷ XX. Đúng nửa thế kỷ xuất hiện tại Ta Bà và 25 mùa an cư kiết hạ, Ngài đã có công rất lớn trong việc trùng tu chùa Chúc Thánh xứng tầm là một ngôi tổ đình của thiền phái Chúc Thánh. Đệ tử của Ngài đều là những bậc thạc đức, đã đem hết sức mình hoằng dương Phật pháp như ngài Chơn Chứng-Thiện Quả: kế nghiệp trụ trì Chúc Thánh; Chơn Trừng-Đạo Thanh: khai sơn chùa Pháp Hoa-Phú Nhuận; Chơn Nhật-Quang Minh: khai sơn chùa Chúc Diên-Gia Định v.v..và ngày hôm nay, các pháp tôn của Ngài có mặt khắp cả nước và hải ngoại để tiếp tục sứ mệnh hoằng dương Phật pháp, duy trì mạng mạch của tổ đức tông môn.

* Trang 56 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng