LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH ĐẠO THANH
( 1895 – 1962 )
Khai Sơn Chùa Pháp Hoa - Sài Gòn
 
Hòa thượng thế danh Nguyễn Công Lực, sinh năm Ất Mùi (1895), nhằm vào năm Thành Thái thứ 6 triều Nguyễn tại xã Giáng La, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Công Hộ và thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Nga.
Năm lên 8 tuổi, Ngài mồ côi cha. Lúc bấy giờ đất nước đang nằm trong giai đoạn khó khăn, thêm vào đó gia đình Ngài gồm 6 anh em còn thơ dại nên một mình thân mẫu lo toan cho đời sống gia đình. Tuy nhiên sức người có hạn, một mình bà không thể chu toàn, vì thế bà đành cắt núm ruột của mình cho Ngài làm con nuôi ông bà Cẩm Văn ở trong huyện. Vì lẽ đó mà Ngài được đổi thành họ Trần.
Thuở nhỏ, Ngài thông minh đỉnh ngộ nên ông bà Cẩm Văn hết sức thương mến, xem chẳng khác gì con ruột và cho học Thi Thư lễ nghĩa của Khổng Mạnh. Ông bà Cẩm Văn còn là người sùng tín Tam Bảo nên hay về Hội An thăm viếng lễ Phật tại các tổ đình.

 

* Trang 293 *
device

Vào lễ Hạ Nguyên năm Đinh Mùi (1907), Ngài được bà Cẩm Văn cho đi theo lễ Phật tại tổ đình Chúc Thánh-Hội An. Vốn sẵn túc duyên nhiều đời, sau khi diện kiến với tổ Ấn Bính-Phổ Bảo, cảm mến đạo phong của Tổ nên Ngài xin được quy y học đạo. Được sự cho phép của mẫu thân cũng như ông bà Cẩm Văn và sự chấp thuận của Tổ, Ngài chính thức nhập chúng tu học. Sau 2 năm thử thách thì đến năm Kỷ Dậu (1909), vào ngày Phật thành đạo, Ngài được Tổ thế phát và cho pháp danh Chơn Trừng. Như vậy, Ngài thuộc đời thứ 40 dòng Lâm Tế và nối tiếp thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Sau hơn 4 năm tinh cần tu học, Ngài được Tổ cho thọ Sa Di giới năm 16 tuổi với pháp tự là Đạo Thanh và đến năm 20 đắc giới Cụ Túc tại giới đàn chùa Từ Hiếu-Huế với pháp hiệu là Hưng Duyên. Trong thời gian này, tổ sư Ấn Bính viên tịch. Từ đó, Ngài theo Hòa thượng Quang Minh vào Nam du hóa.
Trên bước đường vào Nam hoằng đạo, Hòa thượng dừng chân ở Phan Thiết khai sơn chùa Chúc Viên. Năm Canh Thân (1920), Ngài vào Sài Gòn và khai sáng chùa Chúc Thọ [1] tại Xóm Thuốc-Gò Vấp, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 25 tuổi.

* Trang 294 *
device

Năm Giáp Tý (1924), thể theo lời thỉnh cầu của bà ba Huỳnh Tài, Ngài cùng thiền sư Phổ Trí đứng ra trùng kiến chùa Văn Thánh-Thị Nghè.
Năm Mậu Thìn (1928), sau hơn 5 năm tiếp tăng độ chúng, hoằng pháp lợi sanh tại chùa Văn Thánh, Ngài thấy nhân duyên hội đủ nên đến quận Phú Nhuận lập thảo am Pháp Hoa (nay là chùa Pháp Hoa-quận Phú Nhuận) để thực hiện hạnh nguyện tự tu tự độ. Từ đó, hằng ngày Ngài vui cùng kinh kệ, bạn cùng cỏ cây hoa lá và thỉnh thoảng bốc thuốc cứu người thể theo bi nguyện độ sanh.
Đứng về lãnh vực y dược, Hòa thượng được mọi người đương thời tôn xưng là thần y tái thế. Bởi lẽ, Ngài đã kết hợp công đức tu hành cũng như phương thuốc cổ truyền nên đã chữa được một số bệnh nan y mà thuốc tây đã vô phương cứu chữa. Tuy được mọi người tôn sùng nhưng Ngài thần sắc vẫn hòa nhã, không phân quý tiện đẳng cấp sang hèn, chữa bệnh không phân biệt. Điều đó khiến cho thính chúng đến học đạo ngày càng thêm đông và ngôi chùa Pháp Hoa lần lần được hình thành.
Hằng ngày, Ngài thường trì tụng Pháp Hoa kinh và chuyên tâm niệm Phật. Hòa thượng thường dạy đồ chúng rằng: “ Đạo pháp đa môn nhưng chỉ có pháp

* Trang 295 *
device

 môn niệm Phật là dễ tu đễ chứng, các con nên tu theo pháp môn này mà chỉ quy Tịnh Độ”.
Ngày mồng 3 tết năm Nhâm Dần (1962), khi các đệ tử đảnh lễ chúc thọ, Hòa thượng có đôi lời khuyến tấn hàng môn đệ tu học, đồng thời thông báo rằng ngày 16 tháng 9 âm lịch đến là Ngài sẽ viên tịch.
Sáng 16 tháng 9, sau thời công phu khuya, Ngài ân cần phú chúc cho trưởng tử Như Niệm kế thừa trụ trì chùa Pháp Hoa và ân cần dặn dò: “ Sau khi Thầy tịch không nên chôn cất rình rang, không cần hòm rương tốn kém, không nên xây tháp mà chỉ cần đem ra góc sau chùa  đào một cái lỗ chôn thầy, phía trên trồng cây mít, cây xoài cho mọi người nhờ; Khi sống Thầy chưa làm được điều gì cho đạo Pháp, e sau khi chết người ta sẽ nhìn đó mà chê cười”.
Đến 7 giờ 30 phút, Hòa thượng bảo thị giả lấy y hậu mặc vào, chuẩn bị trầm hương, cử chuông trống để Ngài lễ Phật.
Đại chúng theo lời Ngài dạy lấy mõ lại, Ngài tụng ba biến Đại Bi rất lưu loát và âm thanh khác lạ hơn hẳn ngày thường. Khi tụng đến Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát thì Ngài ngồi thẳng và an nhiên thị tịch. Lúc đó là 8 giờ sáng ngày 16 tháng 9

* Trang 296 *
device

năm Nhâm Dần (1962). Ngài trụ thế 67 thế tuế và trải qua 47 hạ lạp.
Bảo tháp của Ngài được an trí trong khuôn viên chùa Pháp Hoa-Phú Nhuận. Hằng năm, vào ngày 15 tháng 9 âm lịch, hàng môn đồ pháp quyến cũng như Tăng ni Phật tử vân tập về chùa Pháp Hoa đốt hương tưởng niệm công đức cao dày của Ngài đã hiến dâng cho sự nghiệp hoằng dương chánh pháp.
Bị chú:
[1] Chùa này sau bị Thực dân Pháp chiếm dụng làm sân bay Tân Sơn Nhất vào năm 1950.

* Trang 297 *
device

* Trang 298 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng