LOGO VNBET
Đại Đức
THÍCH THIỆN ÂN
( 1949 – 1970 )
Vị Pháp Vong Thân
 
Đại Đức thế danh Lương Hữu Ba, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Lương Châu và thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Ngọc. Ngài sinh ra trong một gia đình trung lưu có 4 anh chị em, Ngài là người con kế út.
Sớm ảnh hưởng đức tính hiền hòa của song thân cũng như nếp sống thanh nhã của gia đình, cậu bé Ba xin phép cha mẹ được đến chùa học đạo. Đại Đức được cha mẹ dẫn đến chùa Linh Ứng, núi Ngũ Hành, tỉnh Quảng Nam bái Hòa thượng thượng Thị hạ Năng hiệu Trí Hữu làm thầy. Thấy cậu bé còn nhỏ mà có chí xuất trần mạnh mẽ nên Hòa thượng Trí Hữu hoan hỷ nhận làm môn đệ. Vào ngày 10 tháng 1 năm Mậu Tuất (1958), Đại Đức được Bổn sư thế phát, cho pháp danh là Đồng Thiện. Như vậy Đại Đức thuộc đời 43 tông Lâm Tế và thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh. Năm ấy, Ngài vừa lên 9 tuổi.

* Trang 299 *
device

Từ đó, Ngài chăm chỉ theo hầu Bổn sư để học hai thời công phu và các oai nghi, quy luật của thiền môn. Vốn tính thông minh nhanh nhẹn nên được Bổn sư rất đặc biệt quan tâm. Vào ngày vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát 19.2 năm  Canh Tý (1960), Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho thọ Sa Di giới với pháp tự là Thiện Ân.
 Sau khi thọ giới xong, với tâm thiết tha vào Nam cầu học, Đại Đức được Bổn sư giới thiệu vào chùa Thiên Phước-Cai Lậy. Tại đây, Ngài tinh cần tu học trong 2 năm ròng rã từ 1960 đến 1962.
Đến năm Nhâm Dần (1962), Đại Đức tiếp tục theo học tại Phật học viện chùa Thiên Hòa-Vĩnh Bình. Đến năm Giáp Thìn (1964), mãn khóa, Đại Đức tiếp tục về học tại Phật học viện Quang Minh. Ở đây chưa được nửa năm thì Phật học viện bị giải tán nên Đại Đức tiếp tục thi vào lớp Trung Đẳng phổ thông tại Phật học viện Huệ Nghiêm.
Từ năm 1964 đến 1967, Đại Đức theo học tại Phật học viện Huệ Nghiêm. Dưới mái trường này, Đại Đức đã thấu suốt cả Phật pháp lẫn thế pháp nên rất được các bạn đồng học mến nể.
Năm Mậu Thân (1968), Đại Đức tốt nghiệp lớp Trung đẳng Phật học. Trong năm này, sau biến cố Mậu Thân, các học Tăng tạm thời rời học đường Huệ

* Trang 300 *
device

Nghiêm nên Đại Đức về tạm trú tại Tăng xá Phước Huệ-Phú Thọ.
Từ cuối năm 1967 đến đầu năm 1968, vì nhu cầu Phật sự nên Đại Đức đến ngụ tại chùa Vạn Hạnh đường Võ Tánh-Gia Định.
Đầu năm 1968, thể theo lời mời của Phật tử, Đại Đức về đảm nhận chức vụ trụ trì chùa Tân Long ở Tân Quý Đông, quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định.
Năm Kỷ Dậu (1969), khi vừa tròn 20 tuổi, Đại Đức chính thức đăng đàn thọ giới Cụ Túc tại giới đàn Phật học viện Huệ Nghiêm. Cũng trong năm này, Ngài đảm nhận trách vụ cố vấn Giáo hạnh Gia đình Phật tử chùa Tân Long.
Ngày 4 tháng 5 năm Canh Tuất (1970), được tin chư Tăng và Phật tử đã trở về thu hồi Việt Nam Quốc Tự, chiều cùng ngày Đại Đức đã sốt sắng đến tham dự. Nhưng oái ăm thay, có một số người bận quân phục xông vào chùa bắn giết, đánh đập, đốt phá … làm cho một số người chết, mất tích và trên 100 người bị thương nặng nhẹ, trong đó có Đại Đức. Ngài bị một viên đạn bắn xuyên bụng ra sau, bất tỉnh trên vũng máu, nhưng mãi đến 7 giờ sáng hôm sau mới có xe chở đi bệnh viện Bình Dân cấp cứu. Tuy trong tình trạng thập tử nhất sinh nhưng Đại Đức vẫn gắng gượng nói với chư huynh

* Trang 301 *
device

 đệ: “Chính thầy T.G mặc đồ nhà binh mang lon đại tá cầm súng bắn vào tôi  và đại tá T.G còn hô to: hãy bắn hết chúng nó đi…”
Tại bệnh viện Bình Dân, Đại Đức được bác sĩ giải phẩu lần thứ nhất nhưng sức khoẻ yếu dần, thân xác mỗi ngày gầy héo. Tuy nhiên, tinh thần của Đại Đức vẫn tỉnh táo lạc quan hơn, vẫn vui vẻ nói cười mặc dù trong thâm tâm, Đại Đức biết mình sắp chia tay tất cả. Trong những lời tâm sự cuối cùng đối với đồng môn huynh đệ cũng như thân quyến, Đại Đức thường nói rằng: “Thế sự sao lắm đảo điên, tình đời quá đen bạc. Những người tu hành như thầy T.G, T.C,Đ.N mà sao còn gian ác, giết người không gớm tay. Chắc những người đã chết, bị què quặt và nếu tôi cũng sẽ chết thì chắc quý thầy đó vui sướng lắm!”. Trước khi từ giã cõi đời ô trược này, Đại Đức đã nhắn gởi rằng: “ Sau khi tôi chết, thi thể tôi xin được quàn tại chùa Ấn Quang và hỏa táng tại An Dưỡng Địa”. Trong hơi thở đứt quãng, Đại Đức nói tiếp : “Các thầy T.G, T.C,Đ.N hãy bỏ súng xuống, thôi đừng giết người nữa và hãy giao trả Việt Nam Quốc Tự lại cho Giáo Hội. Xin đừng nhờ thế lực chính quyền để bắn giết những người vô tội. Tôi sẽ mở mắt nhìn xem quý thầy hành động đây”.

* Trang 302 *
device

Vào lúc 5 giờ sáng ngày 23 tháng 6 năm Canh Tuất (1970), Đại Đức đã giã từ trần thế ở tuổi đời mới 21, để lại bao tiếc nuối cho đồng môn huynh đệ và thân quyến. Quả như lời trăn trối cuối cùng, đôi mắt của Đại Đức vẫn mở to như nuối tiếc một tâm nguyện chưa hoàn thành, như muốn chứng kiến cảnh hồi đầu của những ai đã bắn vào Người.
Ra đời và trưởng thành trong giai đoạn đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm và chống Thiệu-Kỳ, GHPGVNTN là điểm cao của sự hòa hợp đoàn kết của toàn thể Tăng Ni Phật tử. Tuy nhiên, niềm vui ấy chưa được bao lâu thì nội bộ Phật giáo bị chia rẽ thành hai cánh: GHPGVNTN Ấn Quang và GHPGVNTN Việt Nam Quốc Tự. Từ đó, trong nội bộ Phật giáo gây nên những cảnh tượng nhồi da xáo thịt mà Đại Đức là một nạn nhân. Đây cũng là một dấu vết không mấy tốt đẹp trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Là một vị Tăng trẻ đầy nhiệt huyết, mong muốn Giáo hội có sự hợp nhất để làm chỗ dựa cho Tăng tín đồ trong thời ly loạn, Đại Đức đã hy sinh cao cả, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh và ắt hẳn đôi mắt của Người nhắm lại, nụ cười hoan hỷ nở trên môi khi thấy được  Việt Nam Quốc Tự được giao lại cho GHPGVNTN Ấn Quang.

* Trang 303 *
device

* Trang 304 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng