LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH TỊCH TRÀNG
( 1909 – 1976 )
Trụ Trì Chùa Linh Sơn – Khánh Hòa

            Hòa thượng thế danh Hồ Thăng, pháp danh Tâm Thanh, hiệu Tịch Tràng. Ngài sanh năm Kỷ Dậu (1909), tại làng Lỗ Giáng, xã Cẩm Lệ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ Hồ Tưởng - thường gọi là cụ Cửu Đẩu - tinh thông nho học, làm quan cửu phẩm Văn Giai; thân mẫu là cụ Phạm Thị Liên.
Thời thơ ấu, Ngài được song thân chăm lo giáo dưỡng rất chu đáo, đặc biệt là quan tâm đến vấn đề học vấn, nhờ vậy năm 20 tuổi Ngài thi đỗ bằng Thành Chung và được bổ nhiệm dạy học tại trường Pháp-Việt ở Tây Hồ (nay là trường PTCS Trưng Vương, Tp. Đà Nẵng). Ngoài thời giờ dạy học ra, Ngài còn tinh chuyên nghiên cứu giáo lý nhà Phật và am hiểu một cách tường tận. Khi phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Trung do Quốc sư Phước Huệ khởi xướng, Ngài đến chùa Trúc Lâm-Huế xin thọ Tam quy, Ngũ giới với Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng cho pháp danh Tâm Thanh.

* Trang 305 *
device

 Vốn được thấm nhuần giáo lý nhà Phật, nhận thức được sự mong manh giả tạm của kiếp nhân sinh... nên đến năm Mậu Dần (1938), Ngài lặng lẽ từ giã gia đình, quyết chí xuất gia cầu đạo. Trên đường du phương học đạo, Ngài qua Cao Miên (Campuchia), tại đây Ngài được hội kiến Hòa thượng Thích Quảng Đức, thật là một cơ duyên hy hữu khiến Ngài hoan hỷ phấn chấn vô cùng.
Năm Kỷ Mão (1939), khi nghe tin thiền sư Minh Tịnh pháp húy Nhẫn Tế vừa du học từ Tây Tạng về, Ngài liền tìm đến chùa Thiên Chơn tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để xin thọ giáo với Thiền sư, được Thiền sư ấn chứng và ban cho Ngài pháp hiệu là Tịch Tràng. Đồng tu với Ngài là 3 vị pháp huynh: Viên Chiếu, Tịch Chiếu và Thường Chiếu.
Năm Tân Tỵ (1941), Hòa thượng Quảng Đức thường về chùa Thiên Chơn đàm đạo với Thiền sư Minh Tịnh. Tại đây Hòa thượng gặp Ngài, biết là pháp khí có thể làm rường cột cho Phật pháp mai sau nên mời Ngài về Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa để đảm nhận trọng trách trụ trì ngôi tổ đình Linh Sơn mà Hòa thượng đang gánh vác. Nhận ủy thác của Hòa thượng Quảng Đức, Ngài về tổ đình Linh sơn để chu toàn sứ mệnh “Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”, “ Kế thế

* Trang 306 *
device

truyền đăng tục diệm”. Nơi đây non nước hữu tình, cảnh Phật trang nghiêm khiến lòng xúc động nên Ngài cảm khái bài thơ sau đây:
Ngàn năm mới gặp cảnh chùa này,
Cây che tàng lọng giữa trời xây.
Cảm ứng Từ Bi thương mấy độ,
Thỏa lòng mong ước bấy lâu nay.
Am tranh khuya sớm nhang đèn, lạy,
Dưa muối chiều hôm dạ thảo ngay.
Kinh Kha sông Dịch không quay lại,
Phăng dấu tìm trâu đáp nghĩa Thầy.
Cuối năm Ất Dậu (1945), chiến tranh Việt-Pháp lại bùng nổ, làm cho nhân dân hết sức thống khổ lầm than. Do đó, dân làng khắp nơi trong quận quy tụ về xung quanh chùa để nương tựa. Nhờ sự hộ trì của Tam Bảo, cũng như đức độ của Ngài mà mọi người được yên ổn. Dần dần Ngài đã cảm hóa họ phát tâm thọ trì Tam quy, Ngũ giới trở thành Phật tử tại gia- hộ trì Tam Bảo.
Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài khởi công xây dựng ngôi chánh điện (do Hòa Thượng Thích Quảng Đức trụ trì đời thứ 6 tổ đình Linh Sơn đặt viên đá đầu tiên). Đến năm Bính Thân (1956) công trình xây dựng ngôi chánh

* Trang 307 *
device

điện được hoàn thành và Ngài đã tổ chức lễ khánh thành rất trọng thể. Sau đó, Ngài tiếp tục xây dựng Đông lang và Tây lang. Công cuộc kiến thiết ngôi tổ đình đến đây tạm hoàn tất. Từ đó, Ngài tập trung vào vấn đề tu tập và tiếp Tăng độ Chúng. Hằng ngày ngoài sáu thời lễ bái ra, Ngài còn dạy cho tăng chúng tu học. Mỗi năm đến mùa an cư kiết hạ, chư tăng khắp nơi quy tụ về trụ xứ nầy tu học rất đông dưới sự hướng dẫn của Ngài.
Năm Quý Mão (1963), sự kỳ thị Tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm khiến cho Tăng Ni và tín đồ vô cùng điêu đứng khổ sở. Bản thân Ngài cũng bị tay sai của nhà cầm quyền đương thời đe dọa, ám hại... nhưng đức độ của Ngài không những tự mình tránh khỏi tai họa, ngược lại còn cảm hóa họ trở về quy hướng Tam Bảo. Vì thế, uy đức của Ngài ngày càng vang rộng. Trước đó cũng như trong thời gian này, còn có quí Ngài như: Hòa thượng Thích Hưng Từ, Hòa thượng Thích Vĩnh Thọ, Hòa thượng Thích Viên Giác, Hòa thượng Thích Chơn Không, Hòa Thượng Thích Giải An, Hòa thượng Thích Trí Châu ... ở các tỉnh miền Trung vào để cùng Ngài hoằng dương Phật Pháp tại nơi đây.
Năm Giáp Thìn (1964), khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài được cử làm Chánh

* Trang 308 *
device

Đại Diện GHPHVNTN quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, và được lưu nhiệm cho đến ngày Ngài Viên tịch.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được Hòa thượng Thích Trí Thủ mời thỉnh giảng lớp Chuyên Khoa Phật học tại Phật học Viện Trung Phần Hải Đức-Nha Trang.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài mở Giới đàn Sa Di, Bồ Tát tại gia và Thập Thiện, dưới sự chứng minh kiêm Hòa thượng Đường đầu là thượng Trí hạ Thủ.
Năm Quý Sửu (1973), Đại giới đàn Phước Huệ tại chùa Hải Đức-Nha Trang, Ngài được cung thỉnh làm Đệ Tam tôn chứng.
Về sau, tuy tuổi già sức yếu nhưng hằng ngày Ngài vẫn hướng dẫn cho Tăng chúng hành trì trong các thời khóa lễ. Ngoài ra, mỗi ngày Ngài còn lễ sám Hồng danh Vạn Phật và luôn luôn khi đi đứng, lúc nằm ngồi Ngài đều niệm Phật, tràng hạt không rời tay.
Sứ mệnh thành, hạnh nguyện mãn. Trước khi từ biệt cõi trần để vào cõi Niết Bàn tịch tịnh, Ngài gọi đồ chúng lại dạy lời cuối cùng được thể hiện bằng thi kệ như sau:
Hơn, thua, phải, trái biết bao là!
Xét nét tu hành giữ lấy ta,

* Trang 309 *
device

Tâm để rỗng không, thường nhẫn nhục,
Muôn phiền não chướng cũng tiêu ma
Sau đó, Ngài an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 12 giờ, ngày 24 tháng 5 năm Bính Thìn (1976), hưởng thọ 68 tuổi.
.Thượng tọa Tuệ Sĩ cảm kích ân đức của Ngài mà viết câu đối kính điếu đầy thiền vị như sau:
Ngưỡng chi cao hề sanh dư diệt dư phưởng phất không đường sấu hạc
Thùy chi thiết hỷ giới dã huấn dã bồi hồi mộ ảnh di âm
Tạm dịch:
Trông lên cao hề! Sống ư, chết ư? Thấp thoáng hạc gầy nơi cửa Phật
Nhìn lại gần hề! Răn chăng, dạy chăng? Ngậm ngùi giọng cũ lúc hoàng hôn.

* Trang 310 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng