LOGO VNBET
Hòa Thượng
THIỀN ĐỊNH – TÙNG SƠN
( 1840? - ….? )
Ẩn Tu Tại Động Tùng Sơn – Đại Lộc
 
Hòa thượng Tùng Sơn, thế danh Đoàn Ngọc Châu, sinh vào khoảng những năm 1840, đời vua Minh Mạng tại tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt.
 Thuở thiếu thời Ngài theo ngành võ học được tuyển dụng làm lính biên phòng, được đi khắp chốn nên thông thạo hai thứ tiếng Miên-Lào. Đến khi quân Pháp đánh chiếm Nam bộ, Ngài được một viên sĩ quan người Pháp tuyển dụng đưa sang Pháp học nghành sữa chữa máy móc tàu thủy tại Pari. Trong thời gian ở đây, Ngài học thông thạo tiếng Pháp cũng như thấy được sự văn minh tiến bộ của xứ người và biết được nguyên nhân của sự tiến bộ ấy. Từ đó, Ngài ôm ấp một hoài bão: làm sao giúp nhân dân mình thoát khổ.
Sau khi về nước, Ngài được vua Tự Đức tuyển dụng vào kinh đô, phong chức Vệ Úy trông coi 6 chiếc thuyền chiến của triều đình nên thời nhơn gọi Ngài là Ông Sáu Máy.
Kể từ khi vào kinh đô làm việc, Ngài chứng kiến cảnh triều đình nhà Nguyễn lụn bại với chính sách bế

* Trang 69 *
device

 quan tỏa cảng. Ưu tư trước vận mệnh đất nước, Ngài dâng biểu xin được cải đổi một số điều luật của quốc gia để đất nước kịp phát triển củng cố thực lực đối kháng với người Pháp. Tuy nhiên, đa số các quan lại thời bấy giờ đều thủ cựu nên những ý kiến của Ngài bị bác bỏ. Thấy không thể nào xoay chuyển được một hệ thống lãnh đạo cực đoan, Ngài bèn treo ấn từ quan, tìm con được xuất gia học đạo, đem giáo lý từ bi xoa dịu nổi khổ của nhân sinh.
Ngài xuất gia với ai, khi nào thì chúng ta không được rõ. Tuy nhiên vào năm Giáp Ngọ (1894), niên hiệu Thành Thái thứ 5 Ngài đến ngụ tại làng Hà Tân, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Lúc bấy giờ Ngài khoảng trạc độ tuổi 50. Tại đây, Ngài ở trong một hang động trên núi cao, suốt ngày niệm Phật tụng kinh. Ngài chỉ ăn toàn rau quả. Thỉnh thoảng Ngài xuống núi đến nhà ông Ngại tại thôn Hà Vi để nhờ mua thực phẩm.
Thấy dân chúng nơi đây khổ cực, bệnh hoạn nhiều nên Ngài bốc thuốc chữa bệnh giúp người. Đồng thời, Ngài có những thuật kỳ dị khác người khiến giúp cho người dân thoát khỏi những tai ương khổ nạn.
Thời bấy giờ tại Đại Lộc đang nổi cộm sự việc nhà chí sĩ Trần Cao Vân ẩn mình tại chùa Cổ Lâm để

* Trang 70 *
device

khởi xướng phong trào Duy Tân. Vì thế, các nhà tu hành đều bị thực dân Pháp theo dõi khủng bố. Ngài cũng đã một vài lần bị chúng quấy nhiễu, nhưng khi đưa Ngài về tòa công sứ Hội An, Ngài dùng tiếng Pháp nói chuyện với viên công sứ khiến họ phải nể phục.
Thỉnh thoảng Ngài rời núi cao để vào Quảng Ngãi đàm đạo với thiền sư Ấn Hướng Pháp Nhãn tức ngài Mộc Y tại chùa Phước Sơn huyện Bình Sơn. Và giữa Ngài với Hòa thượng Mộc Y có một mối quan hệ rất mật thiết. Hòa thượng Mộc Y là một trong những nhân vật then chốt phong trào Cần vương tại Quảng Ngãi nhưng đại sự bất thành nên xuất gia tìm phương cách khác cứu đời. Sự quan hệ mật thiết này khẳng định hơn nữa tinh thần yêu nước của Hòa thượng Thiền Định Tùng Sơn. Đặc biệt, pháp tu và cách hành đạo của hai Ngài có điểm tương đồng: dùng các pháp thuật, y dược để giúp nhân dân thoát khỏi những tai ương do các thế  lực vô hình tạo ra. Chí hướng của Hòa thượng Tùng Sơn được thể hiện qua bài thơ sau:
Chài danh, câu lợi ủa mà chi?
Lợt lạt màu thiền họa có khi.
Khe Hạc sóng êm thuyền tế độ
Non Tùng bia tạc đá còn ghi

* Trang 71 *
device

Tòa sen phất phất đưa hương nhẹ
Áo tuyết phau phau chút bụi gì!
Ngoảnh lại Hoàn châu thương những kẻ,
Khối trần đẽo mấy vẫn còn y.
Cho đến một hôm, Ngài xuống núi đến nhà chú Ngại và dặn rằng: “Giờ Ngọ ngày mai, khi nào thấy trên núi có ngọn khói bốc cao, xông thẳng lên trời thì lúc đó tôi mất và mọi người hãy lên chôn xác tôi”. Đến hôm sau vào giờ Ngọ, chú Ngại và dân làng thấy hiện tượng như Ngài dặn bèn lên núi. Khi đến nơi thì thấy nhục thân của Ngài đã được mối un cao như nấm mồ. Trong thạch động, Ngài có để lại bài thơ như sau:
Lánh trần lên cõi tiên
Non tùng xưa bảy từng
Trường sanh tin có thuốc
Chẳng già tăng bạch vân.”
Hôm đó là vào ngày mồng 8 tháng 3 nhưng không rõ năm nào.
Hiện nay tại chùa Cổ Lâm-Đại Lộc thờ long vị Ngài với dòng chữ như sau: “ Tùng Sơn Động Từ Không Môn Pháp Giới Tàng Thân tánh Bùi húy Ngọc Châu hiệu Thiền Định Giác Linh Đại Sư”

* Trang 72 *
device

Thông thường, một con người đạo hạnh, thương vật giúp người, cứu khốn phò nguy thì hay được nhân gian lưu truyền và tô điểm bởi những giai thoại hay và đẹp. Tuy nhiên, những giai thoại này phải được xuất phát từ những sự việc có thật, sau đó được nhân gian truyền khẩu, thêm bớt cho câu chuyện thêm sinh động, ly kỳ. Cuộc đời và hành trạng của Ngài Thiền Định-Tùng Sơn cũng như vậy. Ngài đã đến, đã đi theo đúng nghĩa “Nhạn vô lưu tích” nhưng dân gian vẫn cứ mãi lưu truyền và ngợi ca. Qua bài minh của ông Lưu Thúc Kỳ và tập hợp những sự tích về Ngài, chúng ta thấy được tinh thần nhập thế cứu đời của những bậc Đại sĩ. Nhập thế tích cực nhưng không bị hệ lụy bởi thế gian., đó là điểm nổi bậc tinh thần Bồ tát hạnh của Phật giáo Đại thừa được thể hiện qua con người và hành trạng của thiền sư Thiền Định-Tùng Sơn.
Phụ Lục: Bài bi ký Đài Sơn Tăng Truyện của tú tài Lương Thúc Kỳ:
 “ Có một vị sư già chẳng biết ở nơi đâu?
Vào mùa hạ năm Giáp ngọ thuộc triều vua Thành Thái, có một ông già, trên tay cầm một cây gậy lần lần mà đi đến làng Hà Tân thì dừng bước. Ông trạc độ năm mươi tuổi, dung mạo siêu phàm, tự xưng họ Bùi tên Châu, người ở tỉnh Gia Định. Thuở nhỏ thất học,

* Trang 73 *
device

 chỉ chuyên luyện võ nghệ, sau đi lính biên phòng, được học biết hai thứ tiếng Ai Lao và Cao Miên, được tuyển dụng theo quân Pháp đế thành Ba Lê, học nghề sửa chữa máy móc tàu thyền và các hải đăng, rồi chuyển sang Hương Cảng mà về nước. Sau theo sĩ quan Pháp lên kinh được vua ban chức Vệ Uý coi điều hành sáu chiếc chiến thuyền, nên tục gọi ông là Sáu Máy. Trong lúc về Việt Nam ông có tâu xin sửa đổi một số điều luật không cần thiết trong vấn đề xây dựng đất nước, nhưng triều đình lúc bấy giờ bê tha không chịu nghe lời, ông tự trách mình lúc bình sanh chẳng góp được gì cho nước nhà đương cơn nguy kịch, chi bằng chỉ có xuất gia tu đạo là con đường giải thoát cho chính mình và giúp đời, đó là niềm vui hơn hết. Phàm trong thiên hạ, nơi nào có động thiêng, đất lành, thì nơi ấy ắt có dấu in mầu nhiệm vậy.
Ông ở lại xóm Hà Tân được năm tháng, thấy nhân dân đau ốm quá nhiều, ông bèn vào rừng tìm các loại cây thuốc đem về chữa trị cho dân chúng được nhiều người khỏi bệnh. Nhưng theo ông nghĩ, đây chỉ là việc làm cấp thời chứ không phải là cách tế độ lâu dài được. Ông tự sám hối để tìm ra con đường giải thoát thiết thực mới có thể đem lại hạnh phúc cho đời, nên ông nhất quyết tìm vào núi Đài Sơn ở mà tu luyện, núi này là một rừng thông rợp bóng, đá trắng trải bằng, có

* Trang 74 *
device

hang sâu thẳm, có hoa toả ngát làm đường, có khe đá nước chảy trong veo, tiếng vang thoang thoảng.
Người trong thôn xóm mỗi lần lên núi xin thuốc, thấy ngài ngồi tọa thiền, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, nhiều lần, tiếng âm vang ngân trong hang núi, tụng xong ngài đứng dậy, tay cầm một con dao nhỏ, cắt một cành thông, rứt bỏ lá vỏ bên ngoài, xem rất đẹp, bảo rằng: “ Người đời vì quá cố chấp nên mang nhiều thiệt nghiệp”, rồi dẫn đến sau am, ngài chỉ một hang đá mà nói rằng          “ Sau ta quy liễu thì đem xác ta bỏ vào trong hang ấy”. Nguyện xong, ngài xuống núi để cho thuốc, liền gặp tên tuần phủ giả danh là người Quảng Sơn bảo ngài là kẻ làm loạn, xúc phạm nhiều lời thô lỗ, toan bắt ngài, ngài cố nhịn mà không sao nhịn nổi, tính nóng dấy lên, ngài né mình co chân đạp tên Tuần phủ, hai bên đánh nhau, tên Tuần phủ không sao địch nổi, toan bỏ chạy về báo với Tòa quan rằng:“ Bùi Châu là kẻ phản nghịch”, tòa quan liền phái bọn lính tập suốt đêm lên tận núi Đài Sơn vây bắt. Ngài không chút sợ hãi, ngó thẳng tòa quan mà phân trần sự việc. Tòa quan biết mình nghe lời tên Tuần phủ là sai nên cúi xin lỗi, đem quân rút lui.
Ngài bèn quay lên núi không muốn tiếp chuyện với người ngoài, ngày ngày ngưng thần cầu mong thoát hóa, hàng ngày đúng giờ ngọ, ngài chỉ ăn một bữa ăn thanh đạm bằng rau rừng mà thôi. Ngài ngồi tu được

* Trang 75 *
device

 hai năm, dung mạo ngài đoan nghiêm, sáng suốt, đi đứng nhẹ nhàng, không hề đau ốm, sau thời gian ngài tuyệt thực chết.
Người địa phương nhớ lời ngài dặn, đem xác ngài để vào trong hang đá sau am. Nơi đây thành kiến thạch (Gò kiến).
Trong thạch động , Thiền sư có đề một bài thơ rằng:
Lánh trần lên cõi tiên
Non tùng xưa bảy từng
Trường sanh tin có thuốc
Chẳng già tăng bạch vân.”
                                      Hà Tân Hậu bổ LươngThúc Kỳ
Bị chú:
[1]. Ngài Lương Thúc Kỳ, tác giả của bài ký “Đài Sơn Tăng Truyện”, sinh năm Quý Dậu (1873) tại làng Hà Nha, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc). Ông đậu cử nhân tại Thừa Thiên vào năm Canh Tý (1900) cùng với các ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Tiến. Là người có tinh thần yêu nước nên cuộc đời ông cũng lắm lao đao. Ông mất ngày 23 tháng 9 năm Đinh Hợi (5/11/1947) tại quê nhà. Qua tiểu sử của tác giả, ta có thể tin tưởng vào tính chính xác của bài ký này vì tác giả sống cùng thời với Ngài Tùng Sơn.

* Trang 76 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng