LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH PHƯỚC THÔNG
( 1866 -1951 )
Khai Sơn Chùa Tôn Tam – Ngũ Hành Sơn
 
Hòa thượng Thích Phước Thông, thế danh Lê Văn Đạt, sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Lệ Sơn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam.(nay thuộc thôn Lệ Sơn 1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Thân sinh Ngài là cụ ông Lê Hữu Trì và thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Cần.
Sinh trưởng trong một gia đình chánh tín Tam Bảo nên từ thuở thiếu thời Ngài noi gương người xưa xuất gia học đạo, tìm sự thanh tịnh nơi tâm hồn. Với tâm nguyện thiêng liêng ấy, song thân đã đưa Ngài đến chùa Tam Thai, núi Ngũ Hành xin thầy thế độ. Ngài đã được Hòa thượng Chí Thành nhận làm đệ tử, ban cho pháp danh Chơn Đĩnh, tự Đạo Đạt. Cùng xuất gia với Ngài làm môn hạ tổ Chí Thành còn có anh và em trai. Người anh Ngài có pháp danh Chơn Tánh hiệu Phước Lợi (Lê Hữu Trụ) và em trai Ngài có pháp danh Chơn Cang hiệu Phước Truyền (Lê Hữu Cang).
Từ đây, Ngài cùng các pháp lữ Phước Trí, Phước Điền, Phước Long v.v… chuyên tâm tu học dưới sự

* Trang 87 *
device

hướng dẫn của tổ Chí Thành. Đến tuổi trưởng thành, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ giới Cụ Túc và phú pháp hiệu là Phước Thông đại sư. Ngài chính thức nối pháp dòng Lâm Tế đời thứ 40, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Đinh Hợi (1887), thể theo nguyện vọng và cũng nhằm đáp ứng nhu cầu tu học của tín đồ tại bổn xã, Ngài về quê nhà khai sơn chùa Phước Thiện, sau đó giao cho các ngài Phước Lợi, Phước Truyền là anh em ruột và cũng là đồng sư với Ngài luân phiên trụ trì.
Năm Canh Dần (1890), Ngài xây dựng Tôn Tam Đường bên cạnh chùa Tam Thai để làm nơi nhập thất tham thiền. Dần dần về sau, Tôn Tam đường phát triển thành chùa Tôn Tam mà ngày hôm nay trở thành một ngôi Già lam tô đẹp cho cụm di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn.
Năm Ất Mùi (1895), Nhận thấy Ngài là một vị Tăng trẻ, học hạnh khiêm ưu, tinh thông kinh luật, triều đình vua Thành Thái đã bổ nhiệm Ngài làm trụ trì chùa Tam Thai.
Năm Đinh Dậu (1897), vua Thành Thái vào núi Ngũ Hành, thiết lễ trai đàn cầu quốc thái dân an tại chùa Tam Thai. Sau khi trai đàn hoàn tất, nhà vua ban cho Ngài hai chiếc “Tam Thọ Ngân Tiền”, tưởng thưởng công đức tu hành cũng như đạo hạnh của Ngài.

* Trang 88 *
device

Trong giai đoạn trụ trì chùa Tam Thai, Ngài vận dụng hết khả năng của mình để gìn giữ và tô bồi ngôi già lam lịch sử này ngày càng phát triển.
Năm Bính Ngọ (1906), niên hiệu Thành Thái thứ 18, vì thân bị bệnh duyên nên Ngài xin nghỉ chức trụ trì, trở về Tôn Tam đường để tịnh dưỡng.
Năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Trang Quảng Hưng kiến lập giới đàn tại chùa Sắc tứ Từ Vân-Đà Nẵng, Hòa thượng Phước Trí được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng; Hòa thượng Phổ Minh làm Giáo Thọ A-xà-lê, còn Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma A-xà-lê.
Trong những thập niên 30-40 của thế kỷ XX, đất nước có nhiều biến chuyển, Ngài an trụ tại Tôn Tam đường ngày đêm tinh chuyên niệm Phật. Đạo hạnh của Ngài ngày càng tăng trưởng và Ngài là một trong những vị Tôn túc làm niềm tin cho các thế hệ sau này.
Năm Tân Mão (1851), vào ngày 21 tháng 2, Ngài thị tịch, bảo tháp được lập bên cạnh tháp của ngài Phước Trí.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của lịch sử Phật giáo Ngũ Hành Sơn nói riêng và Quảng Nam nói chung, Hòa thượng Phước Thông là một trong những danh Tăng của thế kỷ XX. Dưới sự dạy dỗ của Ngài,

* Trang 89 *
device

một số các vị đệ tử thành danh đã đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo như: Hòa thượng Huệ Chấn: Trụ trì chùa Hưng Long-Sài Gòn; Hòa thượng Huệ Lâm: Trụ trì chùa sắc tứ Phước Hải-Đà Nẵng; Hòa thượng Huệ Tràng: Trụ trì quốc tự Tam Thai và Tôn Tam tự v.v….

* Trang 90 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng