LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH TÂM THANH
( 1932 – 2004 )
Khai Sơn Vĩnh Minh Tự Viện – Lâm Đồng
 
Hòa thượng pháp danh Tâm Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, thế danh Lê Thanh Hải, sinh năm Ất Mùi (1931) tại xứ Mã Châu, xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông thọ Bồ Tát giới, húy Dương Cần, tự Lê Nghiêm, hiệu Viên Minh, pháp danh Thị Tịnh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Qua.
Xuất thân trong một gia đình gia giáo, có thân phụ là Chánh tổng nên Hòa thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Ngài thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông-Tây. Hòa thượng đã lớn lên với rất nhiều hoài bão cùng tài năng bẩm sinh. Chính Hòa thượng đã từng được cử thay mặt học sinh đồng ấu đọc một bài diễn văn bằng tiếng Pháp để đón vua Bảo Đại khi Ngài vào thăm Quảng Nam. Năm ấy, Hòa thượng vừa tròn 10 tuổi.
Ở tuổi vị thành niên, Hòa thượng đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng, đặc biệt là tài viết chữ. Bằng trái

* Trang 329 *
device

tim nhiệt huyết của tuổi trẻ, Ngài đã tham gia các phong trào đấu tranh giành độc lập tự do cho quê hương đất nước. Nhờ nghiên cứu Phật học từ rất sớm nên Hòa thượng đã chọn tổ chức Gia đình Phật tử để tham gia sinh hoạt và đấu tranh cho chính nghĩa chống chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm. Hòa thượng đã đến xin quy y thọ năm giới với Hòa thượng húy thượng Trừng hạ Kệ, tự Như Nhu, hiệu Tôn Thắng, trụ trì chùa Phổ Đà-Đà Nẵng và được Hòa thượng cho pháp danh là Tâm Thanh.
Là một thành viên nòng cốt của tổ chức Gia đình Phật tử Quảng Nam, Hòa thượng đã cống hiến hết mình cho tổ chức. Trong mùa pháp nạn 1963, Ngài bị chính quyền Ngô Đình Diệm đánh đập dã man và vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần cũng chỉ vì bảo vệ Đạo Pháp và sự tự do bình đẳng của Dân Tộc.
Chính sự hăng say công tác và nhận thức đúng đắn đã thúc đẩy Hoà thượng xuất gia học đạo. Năm Quý Mão (1963), Ngài được Hòa thượng húy thượng Chơn hạ Ngọc, hiệu Long Trí, trụ trì chùa Viên Giác-Hội An thế phát trước sự chứng minh của chư tôn đức tại Quảng Nam và sự tham dự của toàn thể Ban Hướng Dẫn Gia đình Phật tử Quảng Nam. Sau đó, Hòa thượng Long Trí gởi Ngài ra học tại Phật Học viện Phổ Đà-Đà

* Trang 330 *
device

Nẵng. Nhận thấy Ngài có tài năng xuất chúng, Hòa thượng Tôn Thắng cùng Hòa thượng Long Trí đưa Ngài vào Sài Gòn tu học.
Năm Giáp Thìn (1964), Ngài thọ Sa Di giới, được Hòa thượng Long Trí ban pháp tự là Giải Tịnh và cho theo học lớp Trung đẳng Phật học tại Phật học viện Huệ Nghiêm.
Năm Bính Ngọ (1966), với sự tinh cần tu học và sự ngưỡng cầu giới pháp, Hòa thượng đã thọ Tỳ kheo giới ở giới đàn Quảng Đức được tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm do Hòa thượng Thích Thanh Thạnh làm Đàn đầu. Ngài đỗ thủ khoa trong giới đàn này nên Hòa thượng Tôn Thắng đã phú pháp hiệu là Chơn Nghiêm. Trong thời gian này, Hòa thượng tiếp tục ghi danh học tại Đại học Vạn Hạnh do Hòa thượng Thích Minh Châu làm viện trưởng.
Sau khi tốt nghiệp lớp Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm khóa đầu tiên, Hòa thượng đã trở thành một vị giảng sư nổi tiếng của giảng sư đoàn Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài được Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Hoa mời về chùa Ấn Quang để đi giảng dạy khắp các tỉnh thành.

* Trang 331 *
device

Đầu tiên, Ngài được Hòa thượng Thích Trí Hữu, người khai sơn tổ đình Ấn Quang mời về quê hương Quảng Nam Đà Nẵng thuyết pháp. Những Pháp âm đầy đạo vị bắt đầu vang vọng từ quê hương lan đến khắp các tỉnh thành từ Quảng Trị vào đến Cà Mau.
Năm Kỷ Dậu (1969), Hòa thượng về nhận chức Chánh Đại Diện GHPGVNTN khu Bảy Hiền-Gia Định, nơi các đồng bào Quảng Nam vào an cư lạc nghiệp. Nhờ đức độ, tài năng và sự làm việc không mỏi mệt, Hòa thượng đã trùng tu chùa Phổ Hiền, thành lập Gia đình Phật tử Đức Trung, vận động làm đường Hồ Tấn Đức (tức đường Võ Thành Trang ngày nay), xây dựng trường Bồ Đề Hạnh Đức (tức trường Võ Văn Tần ngày nay) và giữ chức giám đốc điều hành toàn bộ trường học này. Vừa làm Chánh đại diện khu Bảy Hiền, vừa làm giám đốc trường Bồ Đề, tuy công việc bận rộn nhưng Hòa thượng vẫn luôn luôn đi giảng dạy các Phật học viện Dược Sư, Từ Nghiêm  v.v…tại Sài Gòn và thuyết giảng khắp các tỉnh.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài lên Đại Ninh thăm Hòa thượng thượng Thiền hạ Tâm, giáo thọ trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm đang nhập thất tại trú xứ Hương Nghiêm. Được Hòa thượng giới thiệu, Phật tử Mười hiến cúng cho Ngài một mảnh đất để làm thất tu niệm.

* Trang 332 *
device

Từ đó, Hòa thượng bắt tay vào việc kiến tạo một thạch thất nhỏ để về tịnh dưỡng sau những ngày đi thuyết pháp hay làm Phật sự khắp mọi nơi.
Năm Quý Sửu (1973), sau đại lễ Phật Đản Phật lịch 2517, Hòa thượng đã về Đại Ninh nhập thất tu tập thiền định và một mình lặng lẽ với công án tử sinh.
Đầu năm Ất Mão (1975), tình hình chính sự đất nước có nhiều biến đổi, Ngài đã quyết định rời thất một thời gian về lại Phổ Hiền cùng với đồng bào Quảng Nam đồng cam cộng khổ vượt qua cơn lửa binh ly loạn. Hòa thượng tổ chức chuẩn bị lương thực, y tế và đặc biệt cố vấn tinh thần cho đồng bào Phật tử ở khu Bảy Hiền trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này. Chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, Hòa thượng trở lại núi rừng Đại Ninh vui với cỏ cây muông thú, gác ngoài tai mọi chuyện thế sự thị phi.
Tháng 10 năm Ất Mão (1975), Hòa thượng lại trở về vận động trùng tu chùa Phổ Hiền thành ngôi chùa khang trang tráng lệ, khánh thành vào tháng 7 năm Bính Thìn (1976). Một tháng sau, Hòa thượng về xây cất tạm ngôi chùa Ba Phong tại quê hương. Từ đó về sau, Ngài góp phần trùng tu rất nhiều ngôi chùa tại quê hương Duy Xuyên-Quảng Nam.

 

* Trang 333 *
device

Năm Tân Dậu (1981), Hòa thượng bắt đầu giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Linh Phong-thành phố Đà Lạt. Đây là thời kỳ mà Pháp âm của Ngài tuôn chảy như suối nguồn bất tuyệt.
Năm Nhâm Tuất (1982), cụ thân sinh của Hòa thượng an tịch sau 47 năm trường trai Bồ tát giới và hơn 10 năm được Hòa thượng phụng dưỡng sớm hôm. Từ đó, sáng nào cũng như sáng nào, sau thời công phu, Ngài lên thắp hương đảnh lễ Tam Bảo rồi ra thắp hương mộ phụ thân, rồi chấp tác cùng đại chúng. Nếp sống này được Ngài thực hiện từ đó đến nay chưa một ngày gián đoạn, mãi cho đến khi nhập thất mới thôi.
Năm Quý Hợi (1983), nhận thấy cơ duyên hóa độ có nhiều thuận lợi, Hòa thượng quyết định xây chùa ngay trên tịnh thất Chơn Nghiêm lấy tên là Vĩnh Minh Tự Viện với ý xiển dương giáo pháp Tịnh Độ của ngài Vĩnh Minh-Diên Thọ, tổ thứ 6 của Tịnh Độ tông. Một phần, Ngài lấy ý ghép tên tổ Vĩnh Gia-một vị tổ sư nổi tiếng tại Quảng Nam thời cận đại và tổ Minh Hải-tổ sư khai sơn dòng thiền Chúc Thánh. Ngôi chùa nhỏ nhắn nơi núi rừng Đại Ninh thơ mộng đã trở thành điểm tựa tinh thần cho dân chúng khắp các làng quê Đức Trọng-Lâm Đồng. Pháp âm Tịnh Độ được vang vọng mỗi chiều cho Tăng Ni và Phật tử tại trú xứ về nghe. Đạo

* Trang 334 *
device

 phong và lòng vị tha của Ngài theo hương thơm giới hạnh lan tỏa khắp các tỉnh thành và ra tận hải ngoại.
Năm Quý Dậu (1993), Hòa thượng lại vận động đại trùng tu Vĩnh Minh Tự Viện. Từ đó về sau, mỗi năm Hòa thượng lại kiến tạo một công trình và hoàn nguyện vào ngày húy nhật tổ Phổ Thiên. Giảng đường, khách đường, Tăng xá, Pháp bảo, bảo tháp, các tượng đài v.v..được xây dựng khiến Vĩnh Minh trở nên một tòng lâm nổi tiếng với cảnh trí hài hòa u nhã. Ngài còn xây dựng Ni viện Diệu Nhân để tiếp độ Ni chúng. Đồng thời, Hòa thượng cũng vận động tráng nhựa hương lộ Phú An, làm cầu treo qua sông Thiện Chí, đóng góp hạ lưới điện từ quốc lộ vào chùa cùng rất nhiều hoạt động từ thiện phúc lợi nhân sinh. Ngoài ra, Hòa thượng còn thỉnh Đại Tạng và Tục Tạng kinh về tôn trí tại Pháp Bảo của chùa, tổ chức cho Tăng chúng soạn thảo mục lục Đại Tạng.
Từ đó, Pháp âm từ núi rừng Đại Ninh vang vọng, nên chư Tăng Ni và Phật tử khắp mọi nơi về thọ giáo quy y. Hòa thượng cũng từng ra đảm nhiệm chức vụ Phó Ban Trị Sự kiêm trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo hội tỉnh Lâm Đồng, hiệu phó kiêm giám luật trường Cơ Bản Phật Học Lâm Đồng khóa I và II. Đồng thời, Ngài

* Trang 335 *
device

đi giảng dạy kinh luật cũng như truyền đạt kinh nghiệm diễn giảng cho Tăng Ni khắp mọi nơi.
Năm Ất Hợi (1995), Hòa thượng được cung thỉnh làm Giáo Thọ A-xà-lê tại đại giới đàn Nhơn Thứ do Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng tổ chức.
Đầu năm Quý Mùi (2003), Hòa thượng muốn an thất để hạ thủ công phu tu niệm, quyết tâm giải quyêt sanh tử ngay trong hiện đời này. Nhân ngày kỵ tổ Phổ Thiên, Hòa thượng tổ chức khánh thành bảo tháp Xá lợi Minh-Tích-Ấn, công trình cuối cùng của đời Ngài. Trước sự chứng minh của Hòa thượng Thích Từ Mãn-thành viên Hội Đồng Chứng Minh TW GHPGVN-trưởng Ban trị sự tỉnh Lâm Đồng và chư tôn đức trong môn phái, Hòa thượng đã phó chúc cho Đại Đức Thích Nguyên Hiền kế nghiệp trụ trì Vĩnh Minh Tự Viện. Lễ nhập thất của Hòa thượng được long trọng tổ chức vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mùi (2003) dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Pháp Chiếu-thành viên Hội Đồng Trị Sự TW-Phó Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng.
Trong tịnh thất Chơn Nghiêm tọa lạc sau khu Pháp Bảo yên tĩnh, Hòa thượng bắt đầu hạ thủ công phu. Mỗi ngày, Ngài dành thời gian tụng lại toàn bộ các kinh điển Đại Thừa và Nikaya. Trong lúc trì tụng, Hòa

* Trang 336 *
device

 thượng thấy có quá nhiều chi tiết đặc biệt mà hàng hậu thế khó lòng am đọc hết, nếu không có thời gian yên tĩnh. Với tâm lượng vị tha, vì lợi lạc quần sanh nên Hòa thượng đã rút tỉa các ý chính trong kinh điển, ghi chú từng phẩm mục, từng trang tiết, soạn thành tác phẩm: Những Đề Mục Quan Yếu Trong Kinh Điển Đại Thừa (bao gồm kinh Đại Bảo Tích, Hoa Nghiêm, Đại Bát Nhã, Đại Bát Niết Bàn) và tác phẩm Những Phẩm Mục Thiết Cận Trong Các Kinh Điển Nikaya (bao gồm các kinh Trường, Trung, Tạp, Tăng Nhất A Hàm và Tương Ưng Bộ). Suốt gần 1 năm trời, Hòa thượng đã tụng xong hoàn tất 2 bộ kinh Đại Thừa và Nikaya. Hòa thượng lại gia công niệm Phật. Tiếng niệm Phật vang vọng trong tịnh thất suốt ngày đêm.
Sau lễ kỵ tổ Phổ Thiên vào rằm tháng 2 năm Giáp Thân (2004), Hòa thượng thường xuyên kể lại cho thị giả nghe về cảnh mộng thấy chư thiên thỉnh lên trời Đao Lợi thuyết pháp, hoặc gặp Bồ tát Phổ Hiền, Văn Thù giao phó Phật sự độ sanh.
Đêm 30 tháng 2 năm Giáp Thân, Hòa thượng mộng thấy chư thiên thỉnh lên tầng trời 33 giảng kinh Kiến Chánh. Biết cơ duyên hóa độ của mình đã mãn, ngày mồng 5 tháng 2 nhuận năm Giáp Thân (2004), Hòa thượng bấm đốt tay tính ngày ra đi. Các đệ tử thân tín được vào thất hầu thăm và Ngài dạy bảo mọi điều cặn kẽ.

* Trang 337 *
device

Sáng mồng 10 tháng 2 (nhuận), Hòa thượng kể lại hình ảnh chư vị  Bồ Tát và các cảnh trí trang nghiêm như hoa sen, ánh sáng phóng xuống bên đầu giường.
Chiều ngày 12, khi đại chúng đang hầu xung quanh thì Ngài đọc kinh Bát Đại Nhân Giác để sách tấn hàng môn đệ. Sau đó, Ngài bảo ra hết, chỉ giữ lại Trụ Trì và Tri Sự của hai chùa Tăng Ni để phó chúc. Phó chúc xong Ngài nói: “Thầy rất minh mẫn, Thầy rất sáng suốt, Thầy rất chu đáo, các con như thế mà làm.” Sau khi phó chúc xong mọi việc, Hòa thượng chắp tay niệm thật lớn câu Nam Mô A Di Đà Phật như một cách Yết ma. Câu cao thanh niệm Phật này là bài Pháp cuối cùng của cuộc đời Ngài.
Hòa thượng đã an nhiên xả báo an tuờng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng ngày 13 tháng 2 nhuận năm Giáp Thân, nhằm ngày 02 tháng 4 năm 2004, thọ 74 thế tuế và trải qua 40 mùa an cư kiết hạ.
Với hơn 40 năm tu học và hoằng pháp, Hòa thượng đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp. Hòa thượng đã nhiều lần được cung thỉnh làm Yết Ma, Giáo Thọ trong các đàn giới để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni Phật tử tu học. Các băng giảng Pháp Hoa, Duy Thức v.v… của Ngài là một kho báu cho những ai khao khát tìm cầu sự giải thoát. Hòa thượng không chủ trương viết sách nhưng với những kinh nghiệm tu học, hoằng pháp cũng như khảo cứu của mình, Ngài đã để lại những tác phẩm như:

* Trang 338 *
device

 Danh Từ Phật Học, Nghệ Thuật Diễn Giảng, Những Đề Mục Quan Yếu Trong Kinh Điển Đại Thừa, Những Phẩm Mục Thiết Cận Trong Các Kinh Nikaya v.v…và nhiều bài viết trong các tập san Phật giáo cũng như tài liệu giảng dạy khác.
Xuất thân từ tổ chức Gia đình Phật tử, nhận thấy đây là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên rất lợi lạc cho đạo đức, văn hóa Phật giáo và Dân tộc nên Ngài luôn quan tâm và gắn bó với Gia đình Phật tử. Như một tấm gương sáng về giới hạnh và đức độ, như bóng cây đại thọ ấp ủ, chở che, Hòa thượng được suy tôn làm Cố vấn giáo hạnh TW Gia đình Phật tử Việt Nam trong nhiều thập niên cho đến ngày viên tịch.
Chốn Huyễn Hóa Tám Vạn Khói Sương, Ly Hợp Sắc Danh, Chiếc Áo Nâu Sồng, Cửa Không Hương Điểm Hạnh
Cõi Mộng Trần Ba Ngàn Bóng Bọt, Tụ Tan Thân Thế, Một Đài Sen Trắng, Cõi Tịnh Nguyệt Cài Thơ.
Ngôn ngữ trầm phù cõi thế gian làm sao chuyển tải hết tâm nguyện và công đức độ sanh của Ngài. Sự tu hành và liễu ngộ của Ngài là một bài học sống động, minh chứng cho pháp môn Tịnh Độ nhiệm mầu. Tuy báo thân của Ngài không còn hiện hữu nữa, nhưng tinh thần tu tập và phụng sự chúng sanh vẫn mãi lồng lộng sáng rỡ trên nền trời Phật giáo Việt Nam.

* Trang 339 *
device

* Trang 340 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng