LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH TỪ MẪN
( 1932-2007 )
Trụ Trì Chùa Phổ Đà – Đà Nẵng

            Hòa thượng thế danh Nguyễn Hữu Độ, sinh ngày 01 tháng 11 năm Nhâm Thân (nhằm ngày 28/11/1932) tại thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong, huyện Thuận Hóa, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hữu Oai, thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Kiếm. Hòa Thượng là người con thứ 5 trong gia đình có 6 anh em. Sớm bộc lộ bản tánh thông minh hiếu học, lại là một người con hiếu thuận, nên Hòa Thượng rất được song thân yêu mến. Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc học hành sau này của Hòa thượng, song thân đã cho Ngài vào Đà Nẵng ở nhà người bạn thân là cụ ông Trần Văn Thuần và cụ bà Nguyễn Thị Đắc (pháp danh Tâm Kế, tự Từ Lưu). Sau một thời gian ở với 2 ông bà, với bản tánh thuần lương hiếu đạo và ý chí ham học hỏi, Hòa thượng được 2 ông bà yêu mến, nên đã xin với Song thân của  Hòa thượng cho Hòa thượng làm con nuôi của mình. Cũng từ đó Hòa thượng được song thân nuôi dưỡng đặt lại tên là Trần Văn Độ. Hòa thượng thường cùng song

* Trang 205 *
device

 thân nuôi dưỡng đến chùa, theo tháng năm căn duyên Phật Pháp được huân tập. Đến năm 10 tuổi Hòa Thượng phát đại tâm xuất gia và được song thân nuôi dưỡng chấp thuận cho làm đệ tử của Hòa thượng Bổn sư là Ngài cố đại lão Thích Tôn Thắng trú trì sắc tứ Phổ Thiên. Song thân nuôi dưỡng của Hòa thượng đã phát tâm cúng dường đất cho Hòa thượng Bổn Sư xây dựng một ngôi chùa, nay là chùa Diệu Pháp ở phường Bình Thuận.
Lúc thiếu thời, nhờ sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Phật Giáo nhiều đời, có bản tánh thông minh và hiếu học về đạo cũng như đời, lại có đức tánh khiêm cung điềm đạm, Hòa Thượng luôn được Thầy và chúng bạn yêu mến.
Năm lên 18 tuổi, Canh Dần (1950), Hòa Thượng được Bổn Sư cho thọ giới Sa Di tại chùa sắc tứ Phổ Thiên với Pháp danh Tâm Lượng, tự Từ Mẫn, quả thật đúng với bản tánh hiền thiện của Hòa thượng lúc sinh tiền.
Năm Tân Mão (1951), theo chủ trương của Giáo hội Tăng già Trung phần, cần đào tạo người tài đức để lo việc hoằng dương Chánh pháp, Hòa thượng được Bổn Sư cho ra Huế tham học tại Phật học đường Báo

* Trang 206 *
device

Quốc do cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện.  
Năm Bính Thân (1956), Hòa thượng được truyền giới cụ túc tại đại giới đàn chùa Báo Quốc do Hòa thượng Thích Giác Nhiên trú trì Tổ đình Thuyền Tôn làm đàn đầu và được Hòa thượng Bổn sư cho kệ phú pháp và đặt Pháp Hiệu là Chơn Giác với bài kệ:
Độ nhơn đắc độ tiên tự độ
Tâm lượng tam thiên quảng vô biên
Từ tế chúng sanh đồng chí mẫn
Chơn giác quang minh hiện thân tiền.
Kể từ đây, Ngài chính thức dự vào hàng Chúng Trung Tôn, nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Liễu Quán.
Năm Mậu Tuất (1958), Hòa Thượng tốt nghiệp Trung đẳng Phật học tại tổ đình Báo Quốc Huế và phát nguyện thọ Bồ Tát giới tại Đại giới đàn của Viện Cao Đẳng Phật học Nha Trang tổ chức do Cố đại lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên làm đàn đầu. Cùng khóa này có các vị đồng học, đồng phạm hạnh với Hòa Thượng như: Cố Hòa Thượng Chánh Trực, Hòa thượng Thích Thiện Bình, Hòa Thượng Thiện Hạnh, Hòa Thượng Đức Chơn... Cũng năm này, tuy Hòa thượng đang học tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang, nhưng được sự

* Trang 207 *
device

tín nhiệm của Giáo hội, Hòa thượng được cử làm giảng sư tại các Tỉnh Giáo hội như: Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên...
Năm Nhâm Dần (1962) chùa Phổ Thiên nay là chùa Phổ Đà tại thành phố Đà Nẵng được cố Đại lão Hòa thượng Thích Tôn Thắng phát nguyện cúng dường cho Giáo hội làm cơ sở đào tạo Tăng tài. Đây là một trong 3 cơ sở lớn của hệ thống Phật học viện trung phần. Hòa thượng được cử về làm Giáo Thọ tại đây. Ở đây Hòa thượng tận tâm giáo dục Tăng ni trau dồi giới tuệ cho học Tăng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tu học.
 Năm Quý Mão (1963), trước chính sách kỳ thị Tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, Hòa Thượng đã tham gia với các vị tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng, tích cực hướng dẫn Tăng Ni bảo vệ Chánh Pháp. Mặc dầu bị bắt bớ, giam cầm, hành hạ... Hòa thượng vẫn thường răn dạy tín đồ: “Đã hiến thân cho Đạo thì không ngại gian khổ, hiểm nguy, vì sống chết là lẽ thường, chỉ có Chánh Pháp mới là lẽ sống đích thực”.
Năm Giáp Thìn (1964), cuộc tranh đấu bảo vệ Chánh pháp thành công, Giáo hội trở lại sinh họat bình thường, Hòa thượng được cử làm đặc ủy Pháp sự, kiêm Giám đốc trung tâm văn hóa Phật giáo Đà Nẵng.

 

* Trang 208 *
device

Năm Ất Tỵ (1965), Hòa thượng làm Phó đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đà Nẵng, kiêm trưởng ban quản trị trường Trung học tư thục Bồ Đề Đà Nẵng và giảng dạy Giáo lý cho cấp Trung học.
Năm Đinh Mùi (1967), Hòa thượng được cử làm Phó giám viện Phật học viện Phổ Đà kiêm giám học. Với phương pháp giảng dạy đầy tính sư phạm nên phần lớn học Tăng Phật học viện và học sinh trường Bồ Đề tiếp thu Giáo lý một cách dễ dàng.
Năm Canh Tuất (1970), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh tổ chức Đại giới đàn tại Phật học viện Phổ Đà do Hòa thượng Bổn Sư Thích Tôn Thắng làm Chánh chủ đàn. Giới đàn được đặt tên là “Giới Đàn Vĩnh Gia” và được Hòa thượng Thích Mật Nguyện chánh đại diện miền Vạn Hạnh hổ trợ. Đại giới đàn được tổ chức một cách trọng thể, trên hai ngàn giới tử kể cả giới tử tại gia thọ Thập thiện tại chùa Pháp Lâm. Tại giới đàn này, Hòa thượng được cử vào Hội đồng Giám khảo kiêm tri sự Đại giới đàn.
Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng trùng tu tổ đình Diệu Pháp là ngôi chùa mà Hòa thượng Bổn Sư đang trú trì để ngôi chùa được khang trang và tín đồ có nơi tụng kinh lễ bái.

* Trang 209 *
device

Năm Quý Sửu (1973), Cao đẳng Phật học viện Hải Đức Nha Trang khai mở Đại giới đàn Phước Huệ, Hòa thượng được cung thỉnh vào Ban giám khảo.
Năm Ất Mão (1975), trong buổi giao thời khó khăn này, Hòa thượng vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của một tu sĩ và được suy cử làm Phó đại diện Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.
Năm Bính Thìn (1976), Hòa Thượng được Viện Hóa Đạo suy cử trú trì chùa Phổ Đà. Trong giai đọan này Hòa thượng tổ chức tu học để ổn định đời sống hành trì cho chư Tăng Đà Nẵng, bằng cách tổ chức an cư kiết hạ, tự tứ và Bố Tát tại trú xứ Phổ Đà. Cũng trong năm này Hòa thượng được UBMTTQVNTPĐN mời làm ủy viên mặt trận nhiệm kỳ 1976 và đắc cử làm thành viên Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng khóa 2. Việc đời, việc đạo gánh nặng hai vai, nhưng Hòa thượng vẫn tổ chức lớp giáo lý cho tín đồ có thiện duyên học Phật pháp vào các tối thứ 7 và sáng chủ nhật hàng tuần.
Năm Kỷ Mùi (1979), Hòa thượng đã cùng sư huynh là Hòa Thượng Thích Chơn Ngộ cùng nhau trùng tu chùa Tịnh Độ do Hòa thượng Bổn Sư kiến tạo năm 1956 tại thị xã Tam Kỳ-Quảng Nam.

* Trang 210 *
device

Năm Tân Dậu (1981), Phật giáo cả nước đã ngồi lại trong ngôi nhà chung có tên là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Trong tổ chức mới này, Hòa Thượng được cử làm Phó ban trị sự tỉnh hội Giáo Hội Phật Giáo Đà Nẵng cho đến ngày viên tịch.
Năm 1982 nhờ các khóa an cư kiết hạ và sự sinh hoạt của Chư Tăng mà GHPG Đà Nẵng trở nên khởi sắc, tín đồ càng ngày càng đông đảo, chánh điện chùa Phổ Đà đã trở nên chật hẹp và Hòa Thượng đã đứng ra trùng tu.
Năm Nhâm Thân (1992) do nhu cầu xuất gia tu học của Tăng ni trẻ mỗi ngày một đông, Hòa thượng đã trình lên Giáo hội để xin mở trường cơ bản Phật học thành phố Đà Nẵng. Tuy gặp rất nhiều trở ngại trong công việc mở trường phần thì kinh tế hạn hẹp và rất nhiều nghịch cảnh khác nhưng với lòng quyết tâm truyền trao sở học của mình cho đàn hậu tấn, Ngài đã làm tất cả những gì mình có thể, cuối cùng trường cơ bản Phật học thành phố Đà Nẵng cũng được Giáo hội và chính quyền cho phép và Ngài được suy cử làm Hiệu trưởng. Hiện nay trường đã được đổi tên thành trường Trung cấp Phật học thành phố Đà Nẵng và Hòa Thượng vẫn được cung thỉnh giữ chức vụ Hiệu trưởng của trường.

* Trang 211 *
device

Năm Ất Hợi (1995), sau cơn bạo bệnh, Hòa thượng bị tai biến và bị liệt một bên mình, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn sáng suốt, thân bệnh mà tâm không bệnh, cho nên trong các nhiệm kỳ của giáo hội, Hòa thượng vẫn được suy cử làm Phó ban trị sự Tỉnh kiêm Trưởng ban giáo dục Tăng ni và là Hiệu trưởng trường Trung cấp phật học Đà Nẵng.
Năm Tân Tỵ (2001), mặc dù tật bệnh, lại thêm tuổi cao sức yếu, nhưng với nhu cầu tu học của Tăng tín đồ Phật giáo thành phố Đà Nẵng, Hòa thượng cùng với chư huynh đệ phát tâm trùng tu chánh điện chùa Phổ Đà. Nhờ đó mà ngôi chùa Phổ Đà trở thành một ngôi phạm vũ huy hoàng như hiện nay.
Hóa duyên đã mãn, Phật sự độ sanh đã viên thành, Hòa thượng đã an nhiên thị tịch lúc 20 giờ 25 phút, ngày 28 tháng 05 (nhằm ngày 12 tháng tư năm Định Hợi), hưởng thọ 76 tuổi, bảo tháp được kiến tạo tại chùa Tịnh Quang, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Hòa thượng đã đi vào cõi Niết bàn vô tung bất diệt, tuy rằng hình bóng Ngài không còn hiện diện với chúng ta, nhưng những gì Ngài đã cống hiến đối với Phật giáo Quảng Nam Đà Nẵng vẫn sống mãi trong lòng Tăng Ni qua bao thế hệ.

* Trang 212 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng