LOGO VNBET
Hòa Thượng
TIÊN THƯỜNG – VIÊN TRỪNG
( 1777 – 1853 )
Trụ Trì Chùa Tam Thai – Ngũ Hành Sơn
 
Hòa thượng Viên Trừng thế danh Trần Văn Trừng, sinh năm Đinh Dậu (1777) [1] tại thôn Long Bình, tổng Xuân Đài, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.(Nay là phường Long Bình, thị trấn Sông Cầu-Phú Yên). Ngài sinh ra trong giai đoạn cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn đang ở điểm cao, cảnh chiến tranh loạn ly đã khiến cho Ngài ngao ngán thế sự nên phát tâm đầu Phật, tìm cầu giải thoát.
Cho đến nay, chúng ta chưa có một tư liệu nào nói Ngài xuất gia ở đâu và bổn sư Ngài là ai? Tuy nhiên, với pháp danh chữ “Tiên” và trước khi vào trụ trì chùa Tam Thai thì Ngài đang hành đạo tại chùa Thiên Mụ-Huế, Ngài có thể là đệ tử của ngài Tổ Ấn Mật Hoằng, Tăng cang chùa Thiên Mụ. Như vậy, Ngài thuộc đời thứ 37 dòng Lâm Tế truyền theo bài kệ của ngài Đạo Mân ở chùa Thiên Đồng-Trung Quốc.
Năm Bính Tuất (1826), niên hiệu Minh Mạng thứ 7, nhà vua sắc chuẩn cho Ngài từ chùa Thiên Mụ vào

* Trang 37 *
device

 làm trụ trì chùa Tam Thai-núi Ngũ Hành. Năm nầy, Ngài vừa được 51 tuổi.
Tại đạo tràng chùa Tam Thai, Ngài đã tích cực xiển dương giáo pháp, khắp nơi đều ngưỡng mộ xưng tụng công đức của Ngài. Đạo hạnh của Ngài đã được Hòa thượng Từ Trí (1852-1921) thuật lại trong tác phẩm Ngũ Hành Sơn Lục như sau: “ Cần mẫn tham thiền nhập định, ngọ trung nhất thực, mỗi phạn kinh hành thủ niệm Bồ Đề tử xuyến niệm Nam Mô A Di Đà Phật lưỡng chỉ quân ma, tỉnh thùy thần tăng đồ thảng kiến hữu thần tượng tợ như Hộ pháp tượng thường trụ kỳ đảnh vệ hộ…”. Nghĩa là: Ngài tinh tấn tham nhiền nhập định, ngày ăn một bữa vào giờ ngọ, mỗi bữa thường kinh hành tay lần chuổi Bồ Đề, lần một hạt thì niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Rạng sáng khi thức dậy, Tăng đồ còn thấy một vị thần giống như Hộ pháp thường đứng ở đầu giường bảo vệ cho Ngài.
Qua đoạn tả lại sự tích của ngài Viên Trừng, chúng ta được biết thêm về công phu tu tập của Ngài. Như vậy, Ngài chủ trương Thiền-Tịnh song tu như tổ Vĩnh Minh-Diên Thọ ở Trung Quốc. Có lẽ, đây là phương pháp tu tập được áp dụng nhiều nhất thời bấy

* Trang 38 *
device

 giờ. Các tổ thường tham thiền vừa  niệm Phật để đạt tới sự thanh tịnh thuần khiết của tâm hồn.
Sự tinh chuyên giới luật, sự miên mật tham thiền niệm Phật của Ngài đã cảm đến Long Thiên Hộ Pháp nên Long Thần thường theo hộ vệ.
Vào ngày mồng 1 tháng 12 năm Quý Sửu (1853), niên hiệu Tự Đức thứ 6, Ngài nhóm họp môn đồ lại dặn “ Nếu như ta chứng quả thì về sau các con thấy tháp luôn luôn màu trắng”. Sau đó, Ngài sai Tăng chúng đốt đèn, đánh chuông trống tụng kinh cầu nguyện vãng sanh Lạc Bang rồi viên tịch, thọ 77 tuổi. Đồ chúng xây tháp ở phía Nam ngọn Thổ Sơn để an trí nhục thân Ngài và ngày nay tháp vẫn còn thấy như mới.
Với 77 năm ở cõi trần và 27 năm hoằng hóa tại núi Ngũ Hành, đạo hạnh của Ngài đã lan tỏa khắp vùng, ngày nay vẫn còn ảnh hưởng trong đời sống tâm linh tại đây. Cuộc đời tu tập của Ngài là một minh chứng cụ thể sự chứng ngộ của pháp môn Tịnh Độ. Bảo tháp kia trải qua bao nhiêu xuân thu tuế nguyệt, nắng táp mưa sa nhưng vẫn còn tinh trắng như xưa, điều đó đã làm cho các thế hệ hậu bối về sau kiên tâm hơn nữa trên con đường trở về bản tánh thanh tịnh của chính mình.

* Trang 39 *
device

Bị chú:
 
[1].Theo Ngũ Hành Sơn Lục, ngài Từ Trí ghi là Ngài mất năm Quý Sửu (1853), niên hiệu Tự Đức thứ 6, thọ 77 tuổi. Từ năm mất và tuổi thọ, suy ra năm sinh của Ngài là năm Đinh Dậu (1777).
 

* Trang 40 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng