LOGO VNBET
Quốc  Sư
THÍCH PHƯỚC HUỆ
( 1869 - 1945 )
Trụ Trì Chùa Thập Tháp – Bình Định
 
Quốc sư tên thật là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm Kỷ Tỵ (1869), Tự Đức năm thứ 22 tại làng Bàn Thạch, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ Nguyễn Chánh Niệm, pháp danh Minh Thiện, tự Hòa Bình, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lãnh, pháp danh Chơn Hóa, cả hai ông bà đều là những Phật tử thuần thành mộ đạo.
Năm lên 6 tuổi, Ngài theo song thân vào định cư tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm 13 tuổi, Tân Tỵ (1881), Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia tại chùa Thập Tháp, thọ giáo với Hòa thượng Ngộ Thiệu Minh Lý. Hành điệu tại đây được 5 năm, đến khi tuổi tròn 18, Ngài được Hòa thượng Bổn sư thế độ, ban cho pháp danh Chơn Luận, nối pháp đời thứ 40 tông Lâm Tế, truyền thừa theo bài kệ của tổ Vạn Phong Thời Ủy “..Hành siêu minh thiệt tế, liễu đạt ngộ chơn không…”.

* Trang 271 *
device

Sau một thời gian hành điệu tại ngôi tổ đình lịch sử này, Ngài được Bổn sư cho tới học luật với Hòa thượng Từ Mẫn tại chùa Tịnh Lâm ở huyện Phù Cát, Bình Định. Đến năm 19 tuổi, Ngài trở về giữ chức Thủ khố của tổ đình Thập Tháp.
Năm Kỷ Sửu (1889), Thành Thái nguyên niên, được sự cho phép của Bổn sư, Ngài vào tỉnh Phú Yên tham học với các vị cao Tăng thạc đức như ngài Pháp Hỷ, Pháp Tạng, Quy Trụ v.v.. Cùng năm, Ngài thọ Đại giới tại giới đàn chùa Long Khánh-Quy Nhơn do tổ Chí Thanh làm truyền giới đường đầu Hòa thượng. Cũng trong năm này, Hòa thượng Minh Lý viên tịch, Ngài về lại Thập Tháp thọ tang và tu học tại đây.
Sau khi cư tang Bổn sư, Ngài về thăm viếng quê hương Quảng Nam, nghe danh Hòa thượng Tăng Cang Chí Thành là bậc thiền Tăng mô phạm đang hành hóa tại chùa Tam Thai trên núi Ngũ Hành, Ngài bèn tìm đến tham vấn, nhập chúng tu học tại đây. Sau một thời gian tham học, thông suốt yếu nghĩa thiền cơ, vào năm Nhâm Thìn (1892), Ngài được Hòa thượng Chí Thành ấn chứng, phú pháp hiệu là Phước Huệ, thọ ký Ngài về sau là bậc Phước Huệ lưỡng toàn, làm giềng mối cho Phật pháp trong tương lai.

* Trang 272 *
device

Rộng bước vân du, Ngài đến kinh đô Huế tham học với các vị kỳ túc đương thời. Ban đầu Ngài đến ngụ tại chùa Phước Huệ, thôn Vỹ Dạ do ngài Chơn Tâm Pháp Thân khai sơn. Ngài Pháp Thân là dòng dõi Tuy Lý Vương nên ngôi chùa này được nhiều vị trong hoàng thân quốc thích cũng như tao nhân mặc khách lui tới viếng thăm. Qua sự giao lưu gặp gỡ, mọi người ai cũng mến mộ đạo phong và kiến văn quảng bác của Ngài. Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa thượng Hải Thuận Lương Duyên khai giới đàn tại chùa Báo Quốc, Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhất dẫn thỉnh sư.
Năm Giáp Thìn (1904), Ngài được cử làm trụ trì chùa Phổ Quang ở huyện Tuy Phước, nay ở xã Phướng Thuận. Chùa này là ngôi cổ tự do Thiền sư Minh Giác-Kỳ Phương (đệ tử tổ Nguyên Thiều) khai sơn từ đời chúa Nghĩa-Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691).
Năm Ất Tỵ (1905), Hòa thượng Chơn Châu Vạn Thành là sư huynh của Ngài đương kim trụ trì chùa Thập Tháp viên tịch. Vì thế, Sơn môn đã cung thỉnh Ngài về kế thừa trụ trì tổ đình Thập Tháp. Từ đây, đạo phong của Ngài ngày một sáng rỡ và được triều đình sắc phong Tăng Cang, ban cho khâm đao độ điệp.
Năm Mậu Thân (1908), Ngài được mời ra Hoàng cung thuyết pháp, đồng thời cũng để khai mở một khóa

* Trang 273 *
device

giảng kinh tại chùa Trúc Lâm. Các vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định đều mời Ngài vào cung giảng pháp. Đồng thời, Ngài chủ giảng tại các giảng đường Trúc Lâm và Tây Thiên. Vì vậy Ngài được triều đình, sơn môn đồ chúng tôn xưng Quốc sư.
Năm Canh Thân (1920), Ngài mở các lớp nội điển tại chùa Thập Tháp và Long Khánh. Năm Kỷ Tỵ (1929), Hòa thượng Giác Tiên mở Phật học đường tại chùa Trúc Lâm ở Huế, vào tận chùa Thập Tháp mời Ngài ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Ngài cũng được thỉnh về chùa Trúc Lâm để giảng dạy Tăng sinh. Các đệ tử của Hòa thượng Giác Tiên là các Sư Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển và Mật Thể đều theo học với Ngài, và sau này đều trở thành những sứ giả Như Lai trụ cột cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Về hàng cư sĩ theo học tại Trúc Lâm, nổi bật nhất có Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám.
Nhờ có cơ sở hoằng pháp này mà năm Nhâm Thân (1932), Quốc sư cùng với các bậc tôn túc ở đất Thần kinh thành lập hội An Nam Phật Học và xuất bản tờ báo Viên Âm, cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo. Nhiều Phật học đường từ Tiểu học đến Đại học được mở ở các chùa Trúc Lâm, Tây Thiên, Kim Sơn, Báo Quốc, Diệu Đức v.v...Cuối năm 1934 một lớp Đại

* Trang 274 *
device

học mở tại chùa Trúc Lâm do Thiền sư Giác Tiên làm Giám đốc và một lớp Trung học mở tại chùa Tường Vân do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết trông nom, Quốc sư được cử làm Đốc giáo giảng dạy cả hai lớp này. Lớp Trung học có nhận những học Tăng trong Nam do hội Lưỡng Xuyên Phật Học gửi ra như các vị Thiện Hòa, Thiện Hoa, Hiển Thụy, Hiển Không, Chí Thiện v.v....
Tháng 5 năm Mậu Dần (1938), Ngài về ở hẳn tại Bình Định, không ra Huế giảng dạy nữa, phần vì tuổi cao sức yếu, phần vì phải đảm nhận làm Đốc giáo cho Phật học đường cấp Trung đẳng mở tại chùa Long Khánh, do Hội Phật Học Bình Định thiết lập. Chính vì vậy mà nhiều học Tăng lớp Đại học ở Huế trong đó có cả các vị do hội Lưỡng Xuyên Phật học gửi ra, cùng theo vào tiếp tục học nơi Phật Học Đường Long Khánh, Bình Định.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài tiến hành xây dựng cổng Tam Quan và phương trượng tại chùa Thập Tháp rất uy nghiêm. Ngài có công rất lớn trong việc trùng tu lại Tổ đình Thập Tháp được khang trang, tạo nơi đây thành một trung tâm Phật giáo của tỉnh Bình Định. Đồng thời, Ngài khai sơn chùa Phước Long tại thị trấn Phú Phong thuộc xã Bình Phú, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

* Trang 275 *
device

Quốc sư Phước Huệ là cây đại thụ của nền Phật giáo không chỉ ở Trung kỳ, mà còn tỏa bóng xuống phần đất Nam kỳ nữa. Chính Ngài là vị giảng sư nòng cốt của các trường Đại học Phật giáo ở Huế và Bình Định trước và sau thời điểm khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Trung.
Sau bao năm cống hiến tài năng, sức lực, và tâm huyết cho công cuộc xây dựng tòa lâu đài Phật giáo, vào ngày 18 tháng giêng năm Ất Dậu (1945) Quốc sư Phước Huệ viên tịch tại Tổ đình Thập Tháp, thọ 76 tuổi đời, được 56 giới lạp. Đồ chúng và thiện tín xây tháp trong vườn chùa để tôn thờ Ngài. Bấy giờ Hòa thượng Chơn Giám Trí Hải trụ trì chùa Bích Liên Bình Định đề 4 câu thơ tại tháp như sau:
Nguy nhiên nhất cao tháp
Độc tọa Đồ Bàn đông
Ngoại thị hữu vi tướng
Trung tàng vô tướng Ông
Nghĩa là:
Đồ Bàn thành cũ về đông
Một tòa bảo tháp thẳng xông lên trời
Hữu tình hữu hoại đổi dời
Chân không diệu thể sáng ngời bên trong.
                                                                   Hòa thượng Kế Châu dịch

* Trang 276 *
device

Hòa thượng Phước Huệ là một trong những vị thiền sư đa văn quảng bác, đóng góp rất nhiều trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam ở những thập niên đầu và giữa thế kỷ XX. Sự thâm sâu Phật pháp của Ngài đã được người đời xưng tụng bằng mỹ hiệu:"Phật pháp thiên lý câu" nghĩa là Con ngựa ngàn dặm của Phật pháp. Điều này đã được Thiền sư Khánh Hòa (1877-1947) thuật lại như sau ".... Tôi đã ba năm nghiên cứu bộ Thành Duy Thức Luận mà như người đi vào rừng rậm không tìm được lối ra, Đến năm Đinh Mão, nhờ Ban tổ chức trường hương chùa Long Khánh (Quy Nhơn) mời tôi làm Pháp sư, tôi được may mắn gặp Hòa thượng Thập Tháp. Tôi thuật lại sự khó khăn trong việc nghiên cứu Thành Duy Thức Luận của mình. Hòa thượng Thập Tháp nghe xong liền đem biếu tôi quyển 'Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn' và nói : 'Tôi xin biếu Ngài một cái chìa khóa để mở kho Duy Thức. Người nghiên cứu Duy Thức mà trước không đọc luận này thì cũng như người gỡ nùi tơ rối mà không tìm được mối. Vậy Ngài nên đọc quyển luận này cho kỹ rồi nghiên cứu Thành Duy Thức, Ngài sẽ thấy dễ dàng... "
Tuy ở ngôi giáo phẩm cực cao muôn người kính ngưỡng, nhưng rất ít khi nào Hòa thượng nói về tự tích của mình. Mỗi khi môn đồ hoặc học trò hỏi đến, Ngài chỉ nói: “Thời thường sanh ngu, tử trí, bia sử hay có lời nói thêm, vì vậy tôi không muốn ai viết về đời tôi, sợ người hiểu lầm mà tôi bị mang tội với Phật”.

* Trang 277 *
device

Điểm đặc biệt của đời Ngài là tuy đa văn quảng bác nhưng Ngài không biên soạn trước tác chú giải bất cứ một bộ kinh nào. Phải chăng Ngài muốn đàn hậu học phải trực tiếp tụng đọc kinh điển, tự thân hành trì để hiểu thấu lời Phật dạy chứ không phải hiểu Phật pháp qua ngôn ngữ trầm phù. Bút tích của Ngài lưu lại chỉ vỏn vẹn có lời tựa trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Hòa thượng Mật Thể như sau: "Giữa mùa xuân năm Quý Mùi, Pháp sư Mật Thể vào Nam thăm, lấy trong tay áo bản thảo cuốn Việt Nam Phật giáo sử viết bằng Quốc văn đưa cho tôi mà nói: "Đây là công trình sưu tầm biên khảo nhiều năm của con, xin Hòa thượng đọc và chứng minh cho". Tôi tiếp nhận bản thảo mà đọc. Mỗi khi đêm vắng dưới ngọn đèn khói cao, cầm bản thảo nơi tay tôi tự nói một mình là Pháp sư tuy đã theo học với tôi trong nhiều năm nhưng tôi chưa biết được hết chí hướng và nguyện vọng của ông... ".
Với những công đức lớn lao như thế, nên vào năm Canh Tuất (1970), để tưởng niệm công đức Quốc sư Phước Huệ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bình Định đã chọn pháp hiệu của Ngài đặt tên cho một Phật học viện mới thành lập tại Tổ đình Thập Tháp: Phật học viện Phước Huệ. Đồng thời, các đàn giới sau nầy đều lấy tên của Ngài để đàn hậu học được noi theo. Hằng năm, vào ngày 18 tháng Giêng, Tăng Ni tín đồ khắp nơi trong nước đều vân tập về tổ đình Thập Tháp để làm lễ tưởng niệm ngày Ngài viên tịch.
 

* Trang 278 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng