LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH QUẢNG HƯNG
( 1893 – 1946 )
Khai Sơn Chùa Từ Vân – Đà Nẵng
 
Hòa thượng thế danh Trang Văn Trí, sinh giờ Hợi ngày 24 tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), nhằm Thành Thái năm thứ 5 tại làng Cẩm Phổ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An). Người là con trai trưởng trong gia đình có 10 anh chị em. Thân sinh Ngài là cụ ông Trang Văn Lư pháp danh Chơn Hương và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chút pháp danh Chơn Xuân.
Tổ tiên Ngài vốn người thuộc huyện Tấn Giang, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc sang Việt Nam định cư tại phố Hội An vào những năm đầu thời Tự Đức. Khi sang Việt Nam trong gia tộc Ngài có những vị xuất gia đầu Phật với tổ Quán Thông tại chùa Phước Lâm-Hội An. Vì lẽ đó, gia đình Ngài thấm nhuần tư tưởng Phật giáo và chủng tử ấy phát triển rất nhanh khi Ngài tuổi tóc còn để chỏm.
Vào năm Ất Tỵ (1905), khi vừa lên 13 tuổi, Ngài được phụ thân cho xuất gia, làm đệ tử của ngài Tăng cang Phước Trí tại chùa Tam Thai, được Bổn sư ban cho pháp danh Như Tiến. Từ đây, tuổi ấu thơ của Ngài

* Trang 279 *
device

 gắn liền với những tháng ngày hành điệu bên những bạn đồng phạm hạnh trên ngọn núi Ngũ Hành, một danh lam lịch sử của đất Quảng Nam.
Năm Bính Ngọ (1906), sau một năm tu học, Ngài được Bổn sư cho thọ Sa Di tại giới đàn chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên do Hòa thượng Chơn Chánh Pháp Tạng làm Đàn đầu truyền giới.
Năm Kỷ Dậu (1909), tuy mới giới phẩm Sa Di nhưng Ngài được thân hào làng Hải Châu-Đà Nẵng thỉnh làm Tri sự chùa Sắc tứ Phước Hải. Sang năm sau, Canh Tuất (1910), vào tháng 4 Ngài được đăng đàn thọ Đại giới với Hòa thượng Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm-Hội An, lúc bấy giờ Ngài mới 18 tuổi. Đồng thọ giới với Ngài còn có các vị như: Hòa thượng Thích Giác Viên, Thích Giác Nhiên, Thích Tịnh Khiết v.v…tại Huế. Sau khi thọ giới về, Ngài được Bổn sư ban pháp tự Giải Hinh, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Tân Hợi (1911), Ngài được chư sơn thiền lữ cử làm trụ trì chùa Thạch Châu, xã Thạch Thang.
Năm Quý Sửu (1913), Ngài cầu pháp nhân duyên với Hòa thượng Chơn Nhẫn Phước Điền-trụ trì chùa Ngự Kiến Vĩnh An tại Duy Xuyên-Quảng Nam với pháp hiệu Quảng Hưng. Cũng trong năm này, Ngài xin

* Trang 280 *
device

 Bổn sư cho được du phương tham học với chư vị tôn túc ở các tỉnh thành miền Nam.
Năm Kỷ Mùi (1919), Khải Định năm thứ 5, Hòa thượng Tịnh Hạnh khai đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm thuộc hạt Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Ngài được cung thỉnh làm Thống sự kiêm Thư ký tại giới đàn này. Sau khi giới đàn hoàn tất, Ngài đến chùa Linh Sơn cổ thạch nhập thất tịnh tu, mỗi ngày chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ.
Năm Tân Dậu (1921), Ngài được mời chủ trì lễ cầu siêu chiến sĩ trận vong trong 2 ngày tại am Quảng Tế thuộc Đà Lạt, tỉnh Lâm Viên, sau đó lại chủ trì đại lễ trai đàn tại chùa Linh Bảo tại thôn Khánh Hội, tổng Kinh Doanh, tỉnh Khánh Hòa. Đến tháng 9 cùng năm, Ngài vào tỉnh Gia Định làm đơn xin thành lập chùa Thiên Ân tại thôn Chí Hòa. Trong thời gian này, Hòa thượng Diệu Đại trụ trì chùa Tịnh Độ tại thôn Tân Sơn Nhất khai đại giới đàn đã cung thỉnh Ngài làm Đệ nhị tôn chứng sư.
Năm Nhâm Tuất (1922), Khải Định năm thứ 7, Ngài trở về Quảng Nam kiến lập bảo tháp của Hòa thượng Phước Điền đã viên tịch trước đó. Trong thời gian này, Ngài làm đơn lên tòa tỉnh Đà Nẵng mua đất kiến tạo chùa Từ Vân tại xã Thạch Gián.

* Trang 281 *
device

Ngày mồng 3 tháng 4  năm Giáp Tý (1924), Ngài mua đất và tiến hành khai sơn chùa Từ Vân, đến tháng 10 thì khánh thành và đúc quả chuông nặng 112 cân. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 32 tuổi. Sau khi lễ khánh thành hoàn tất, Ngài cung thỉnh Hòa thượng Chơn Bổn Phước Khánh trụ trì chùa Từ Vân.
Vào ngày 15 tháng 2 năm Bính Dần (1926), Hòa thượng Phổ Tế trụ trì chùa Tân Long tại ấp Cao Lãnh tỉnh Sa Đéc khai Đại giới đàn nên đã cung thỉnh Ngài làm Đệ Nhất Tôn Chứng Sư.
Đạo hạnh và uy tín của Ngài ảnh hưởng rất lớn không những đối với Phật giáo mà còn đối với Nam triều cũng như chính phủ bảo hộ pháp nên vào ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Mão (1927), Bảo Đại năm thứ 2 chùa Từ Vân được ban biển nghạch Sắc Tứ. Cũng trong năm này, Hòa thượng khai kỳ kiết hạ an cư đầu tiên. Vào ngày 18 tháng 2 năm Mậu Thìn (1928), Ngài đưa đơn lên tòa tổng đốc Quảng Nam xin  mở trường Hương. Sau đó, Ngài tổ chức đại giới đàn tại chùa Từ Vân và được thỉnh làm Hóa chủ. Giới đàn này đã cung thỉnh Hòa thượng Phước Trí chùa Tam Thai làm Đàn đầu và vị giới tử xuất sắc nhất là Hòa thượng Thích Trí Thủ, một vị cao Tăng cận đại của Phật giáo Việt Nam.

* Trang 282 *
device

Bảo Đại năm thứ 8, Quý Dậu (1933), vào ngày mồng 9 tháng 11 Ngài được triều đình sắc tứ Tăng Cang, ban cho giới đao độ điệp, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 41 tuổi.
Ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (1938),  chùa Phước Long tại thôn Tân Lý, ấp Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho khai đại giới đàn, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Đến ngày 15 tháng 2, chùa Phước Hựu tại tổng Hòa Đồng trung tỉnh Gò Công khai đàn giới, Hòa thượng  được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Tháng 4, chùa Linh Bảo tại thôn Tân Thái cùng tỉnh khai đàn truyền giới, Ngài lại được cung thỉnh làm Tuyên Luật Sư tại đàn giới này.
Đến ngày mồng 9 tháng 9 năm Mậu Dần (1938), Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Chánh chủ kỳ tại giới đàn chùa Thiền Lâm-Phan Thiết. Sau khi giới đàn hoàn mãn, Ngài đến phường Lạc Đạo khai sơn chùa Pháp Bảo và trụ tại đây.
Ngày 22 tháng Giêng năm Kỷ Mão (1939), chùa Linh Sơn Trường Thọ tại huyện Hàm Tân khai đại giới đàn, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Đến ngày mồng 9 tháng 2, chùa Long Thạnh tại thôn Bình Điền, tỉnh Mỹ Tho khai đại giới đàn, Hòa thượng lại được cung thỉnh làm Chánh chủ sự.

* Trang 283 *
device

Ngài tịch ngày 17 tháng 12 năm Bính Tuất (1946), hưởng dương 54 thế tuế. Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được kiến lập tại chùa Pháp Bảo-Phan Thiết.
Hòa thượng Thích Quảng Hưng là một trong những vị Tăng tiêu biểu xuất sắc của Quảng Nam trong những năm đầu và giữa thế kỷ XX. Hòa thượng là người mang tư tưởng canh tân, cổ súy việc học và phiên dịch kinh điển sang chữ quốc ngữ. Điều này đã được Hòa thượng khẳng định qua việc trả lời phỏng vấn tờ báo  Đông Pháp số 455 ra ngày 17.12.1927 như sau:
1. Làm trường học tại chùa, rước thầy giáo đến dạy các đạo nhỏ, trước phải học hai buổi công phu, hôm khuya, và bốn cuốn luật của nhà chùa. Sự học này toàn bằng chữ quốc ngữ cả.
2. Nuôi kẻ nghèo khổ ăn học cho biết hai thứ chữ Tàu và chữ quốc ngữ.
3. Dịch kinh Phật ra Quốc ngữ. Trước đây phải tìm kiếm các thơ ca truyện giảng trong nhà Phật của các bậc tiền bối để lại, đem dịch ra quốc văn, cho bá tánh biết tích lớp mà tu hành. Sau sẽ thỉnh các vị cao Tăng bác học để dịch Đại Tạng chư kinh, để truyền bá cho kẻ hữu tâm, rõ nghĩa “Từ bi vô thượng” của đức Phật Như Lai.

* Trang 284 *
device

Cuộc đời hành đạo của Ngài trải dài khắp các tỉnh thành từ miền Trung cho đến miền Nam. Đi đến đâu Ngài cũng lập chùa để hoằng dương chánh pháp cùng với chư sơn khai đàn giới tiếp dẫn hậu côn và tại các đàn giới Ngài được thỉnh cử vào những chức vụ quan trọng.
Ngài là người rất tài giỏi, từng tổ chức in khắc luật Sa Di trường hàng cũng như sao chép lại một số tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật Quang Đài. Ngài có tài về thi phú chữ Nôm, nhưng phần lớn những tác phẩm của Ngài bị thất lạc, chỉ còn lại bài văn tế Hòa thượng Phước Trí như sau:
Than ôi!
Đèn thiền xao gió,
Trăng giới lờ mây!
Nét bước Tượng vương nơi cửa Pháp, trước mắt mơ màng;
Tiếng kêu sư tử  lối rừng Thiền, bên tai văng vẳng.
Dễ chẳng hay, sắc tướng trò chơi, đất cữu hữu vẫn chán thân ngũ uẩn.
Ngặt vì nỗi, sư đồ nghĩa nặng, trời tứ không còn khóc cảnh song lâm!
Cái vô thường là cái thứ chi chi,

* Trang 285 *
device

Bức tang hải vẽ rồi coi cũng ghét.
Tuồng hữu cảm lắm điều tức tức
Bóng Đẩu sơn trông thấy nghĩa mà thương!
Đức hạnh của Thầy tôi:
Gương sáng trong ngần, sóng tình lặn bặt
Sớm rời cửa tục, xuất gia thuở tuổi còn xanh.
Sâu tỏ màu thiền, nhập thất khi đầu mới bạc
Buộc ràng sáu ngựa, chơi nhởi ba xe
Trăm nét vuông tròn, một niềm trong sạch
Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thủy,
Điểm không hoa chẳng dính bụi trần.
Vậy tôi mừng cho thân phận tôi,
May đặng gặp Thầy, theo mà học đạo
Trừ tội chướng một dao xuống tóc
Phủ phước điền ba lớp truyền y.
Đạo đức say sưa, thầy trò hủ hỉ
Lý kinh, nghĩa luật
Giọng pháp âm hằng bữa lọt vào tai
Miệng nạt, tay bê
Cảnh Lâm Tế lắm khi chường trước mắt
Đức của Thầy như thế
Danh của Thầy như thế.

* Trang 286 *
device

Cũng ngỡ rằng:
Cái gót tùy duyên chưa vội trở,
Bánh xe cửu trụ hãy còn ngừng.
Nào hay đâu:
Gậy tích xa bay,
Đường huyền sớm tách,
Chiếc dép hữu tình rơi lại đó
Con thuyền vô để ngự đi đâu?
Hay là chơi: Đâu Suất thiên cung,
Hay là về: Liên Trì lạc quốc?
Chắc cũng có: nhạc trời hầu hạ, xe ngựa rước ren,
Chắc cũng có: bảo cái tràng phan, kim lâu ngọc các.
Vì bởi: xác phàm tục chẳng nghe chẳng thấy
Lẽ đâu: đuốc quang minh còn lạc còn lầm!
Chín phẩm sen vàng, Thầy khoái lạc trên miền thất bảo
Một vành trăng bạc, trò ngẩn ngơ vừa lúc tam đông!
Cảnh tình này, sâu dài tưởng ngắn.
Ôi! Thôi thôi!
Tấm áo ca sa sương lạnh ngắt
Cành hoa Bát Nhã gió buồn thiu!
Khi nào, Thầy thăng tọa, trò niêm chùy, lắm lúc sum vầy nơi pháp hội.

* Trang 287 *
device

Bây giờ: trò Ta Bà, Thầy Cực Lạc, xiết bao sùi sụt nỗi suy tư!
Ôi thôi! Sữa pháp mất rồi
Lòng con đói mãi.
Biết cậy ai, ngày đêm la nhắc
Biết nương ai, sớm tối dắt dìu
Biết hỏi ai mở trí nguyên thần,
Biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng?
Lơ láo một mình nơi cố thổ
Đớn đau buồn vì sự mất cha
Đi về ngàn dặm lối tha phương
Thẩn thơ nghĩ, mong chừng gặp mẹ.
Nay thì: xe linh hầu đẩy, lễ bạc xin đưa
Hương ngũ phần ba cây
Nước bát công một chén.
Cơm Hương Tích dám khoe mùi thượng vị
Rau Tào Khê kính biếu dạ thâm tình
Trước đài sen ngước mặt dâng lên,
Dưới chiếu cỏ cúi đầu lạy xuống.
Xin Thầy chứng giám,
Cho chút lòng con
Một bức ai văn
Hòa nam bái bạch!

* Trang 288 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng