LOGO VNBET
HƯ TÂM HỌC ĐẠO

          Người xưa hay chỉ vào lớp trẻ mà nói: Hậu sanh khả úy. Không biết các thầy cô có dính vào trong câu nói đó không? Hậu sanh khả úy nghĩa là kẻ hậu sanh đáng sợ. Chữ đáng sợ ở đây họ nói với cái nghĩa tốt. Kẻ hậu sanh khi nào cũng giỏi, cũng hay hơn các bậc tiền bối của mình hết.
          Nếu như vậy thì tôi cũng hết sức mừng chứ tôi không sợ. Sợ mà mừng và  tôi cũng mong được sợ như vậy.
          Tôi theo đuổi cái nghề giáo dục Tăng Ni này từ khi ra trường cho tới bây giờ. Có lúc dạy nhiều, lúc dạy ít nhưng đi dạy cho Tăng Ni nhiều hơn các Phật sự khác, nên Giáo hội đã cử tôi trông coi ngành Giáo dục Tăng Ni.
          Chúng ta học Phật, tu Phật cốt để làm gì? Mục đích nằm ở đâu? Học Phật tu Phật là cốt chuyển mê khai ngộ. Mục đích ra đời của đức Phật cũng tốt chuyển mê khai ngộ, nghĩa là chuyển đổi cái mê lầm mà khai mở trí giác ngộ, mục đích của Phật nằm ở chỗ đó. Vì mê lầm mà đau khổ và giác ngộ là an vui. Chúng sanh đau khổ là vì mê lầm, chư Phật an vui là nhờ giác ngộ. Vậy thì mê lầm cũng là

* Trang 121 *
device

tâm mà giác ngộ cũng là tâm. Cho nên nói chuyển mê khai ngộ chính là chuyển cái tâm của ta vậy. Vậy là học Phật, tu Phật cốt là tham cứu cái bổn tâm của ta để cho ta hiểu rõ cái bổn tâm của mình, tu tập cái bổn tâm của mình như thế đó, để cho cái sự mê lầm càng ngày càng tiêu tan đi và sự giác ngộ càng ngày càng thành tựu tới. Nếu biết cho thật nhiều, học cho thật lắm nhưng không tự biết tâm mình và cũng không tu tập tâm mình thì chưa thể gọi là học Phật. Học Phật là cốt để chuyển mê khai ngộ, tức chuyển cái tâm mê thành tâm ngộ mà mình không tự biết tâm mình và  không tu tập tâm mình thì dầu có học thật nhiều, học đủ mọi thứ thì cũng không gọi là học Phật được, cái học đó thì cái học hý luận chứ không phải học Phật.
          Cho nên ngày xưa có ngài Thoại Nham Hòa thượng, hằng ngày tự kêu rồi tự dạ. Sáng ngài kêu: Tỉnh đó chứ? Dạ. -Phải luôn luôn tỉnh đi nghe? Dạ. -Đừng có để mai kia mốt nọ bị vạn pháp dối gạt nghe? Dạ, dạ.
          Sáng ngài cũng kêu như thế, trưa cũng kêu như thế, tối cũng kêu như thế. Những người xung quanh lấy làm lạ, tưởng ông kêu ai và cũng có tiếng ai dạ, té ra khi họ rình một lát thì thấy ông tự kêu rồi tự dạ, chứ không có ai khác cả. Thì ra đó là một cách đánh thức lòng mình, đánh thức ông chủ của mình dậy, đừng để

* Trang 122 *
device

cho ông ngủ quên. Khi ông chủ đó ngủ quên thì tất cả sẽ bị ngoại pháp xâm nhập, lấn hiếp, chi phối và nó sẽ làm rối loạn. Khi đã làm loạn như vậy rồi, nếu mình mong được giác ngộ thì giác ngộ bằng cách nào? Khi càng loạn càng mê lầm, đã mê lầm thì không còn cách chi giác  ngộ được hết.
          Nhưng nói về cái tâm thì bên pháp tánh nói tâm chỉ có một thôi. Vạn pháp bổn hộ nhất tâm, nhất tâm bất sinh vạn pháp hưu tức. (Muôn pháp vốn từ một tâm, một tâm không sinh muôn pháp lắng bặt). Về bên pháp tánh nói nhất tâm thôi, không có nhiều tâm. Nhưng có nhưng tính tham, tính sân, tính si, tính ngã mạn, tính cống cao hay từ bi hỷ xả, bao nhiêu chuyện đó chỉ là  thuộc tính của tâm. Nhưng về Pháp tướng Duy thức thì tâm có hai thứ: Một thứ gọi là tâm vương và một thứ gọi là tâm sở. Tâm vương là chỉ cho sự biết nơi mắt, sự biết nơi tai, sự biết nơi mũi, sự biết nơi lưỡi, sự biết nơi thân, sự biết nơi ý, sự biết nơi mạt-na, sự biết của a-lại-da gọi là 8 cái thức. Sự biết của 8 cái thức đó gọi là 8 thức tâm vương. Sự biết này có một tính cánh trung thực, hiện lượng, tức cảnh vật như thế nào nó biết đúng như thế đó không thêm không bớt, mắt thấy sắc chỉ là thấy sắc, tai nghe tiếng chỉ là nghe tiếng. Cái biết hiện tượng đó no không nói rằng đây là sắc xanh, đây là sắc vàng, đây là cái hoa, đây là cái quả, đây là con người, đây là

* Trang 123 *
device

con vật, nó không nói gì nữa. Lại càng không nói đây là xấu đây là tốt, đây là đáng ưa đây là đáng ghét, nó không nói chi tới cả, mà nó chỉ thấy sắc là sắc, tiếng là tiếng. Mà sắc là sắc, tiếng là tiếng đó là cái cảnh giới mà nó nhìn, nó biết, nó thấy như thế, chứ thật tình nó cũng không có cái ý nghĩ rằng sắc không phải thanh, thanh không phải hương, hương không phải vị, vị không phải xúc, nó không có cái so sánh ấy, đó là cái biết hiện tượng của 8 thức. Nếu như tất cả chúng sinh, tất cả mọi người mà hằng ngày sống được với cái hiện tượng đó (8 thức) thì không có vấn đề gì để nói hết. Sống với hiện lượng 8 thức thì con mắt của tôi nhìn cũng như con mắt của các anh nhìn, các cô các chú không nhìn không  khác gì nhau hết. Cái nhìn của tôi, cái nhìn của các cô, thấy sắc của tôi và thấy sắc của các vị không khác gì nhau.
          Khi chúng ta đã có một cái thấy không khác nhau thì chắc chắn không cãi nhau, không cãi nhau thì không đập lộn nhau đến u đầu bể trán chảy máu. Sống trong hiện lượng cảnh là thế. Sống trong hiện lượng của nhãn, của nhĩ, của tỉ, của thiệt, của thân, của ý, của mạt-na, của a-lại-da, sống với 8 thức tâm vương và sống trong hiện lượng cảnh đều là trung thức, đều là bình đẳng. Nhưng tiếc rằng chúng ta ít sống trong hiện lượng cảnh, mà lại sống trong cảnh đới chất, hay trong cái tâm sở là một thứ tâm

* Trang 124 *
device

khác theo Duy thức. Ngoài tâm vương còn có các thứ tâm sở mà những tâm sở này có 11 thứ thiện, 10 thứ trung tính và các thứ khác là bất thiện, gọi là phiền não hay tùy phiền não tâm sở. Nếu tâm vương khi kết hợp với tương ứng với tâm sở nào, thì sẽ biến tính chất của nó theo tâm sở ấy. Nếu tâm vương nhãn thức là trung thực, là hiện tượng nhưng khi kết hợp với tín tâm sở thì nớ trở thành cái tốt cái thiện, còn khi kết hợp với tham tâm sở thì sẽ trở thành xấu, bất thiện. Thành thử theo Duy thức, ngoài 8 thức tâm vương ra còn có 51 thứ tâm sở, chính trong loại tâm sở này cũng có thứ thiện, thứ ác, thứ bất định.
          Vậy nếu cần phải biết tâm, cần phải tu tâm thì tốt nhất chúng ta phải nhìn vào trong tâm của mình, ngay trong giờ phút đó cái thức tâm vương của mình nó tương ưng với tâm sở nào? Nếu nó tương ứng với cái tâm sở thiện, thì mình cố gắng để cho nó tương ưng, để cho nó phát triển, làm cho nó lớn mạnh lên. Nếu nó tương ưng với tâm sở ác, thì mình phải tìm cách ly gián nó ra, tách lìa nó ra, trừ khử nó đi, đừng để cho nó tương ưng. Nếu thấy cái nhãn thức tâm vương của mình thấy sắc hiện lượng, thấy sắc đó thấy là tốt, không sao hết. Như vậy thì nhìn sắc cả ngày cũng không sao, có đi xuống chợ nhìn đủ thứ cũng không hại gì. Nhưng nếu có một anh tham tâm sở mà tương ưng với tâm vương, thì mình phải tỉnh ngộ liền,

* Trang 125 *
device

loại trừ nó ra ngay, xua đuổi, ly gián nó ra, đừng cho nó tương ưng với. Đó cũng là một cách tu theo Duy thức và một cách tu để tự biết tâm mình, tu luyện tâm mình.
          Trong kinh tạng Nikàya Phật dạy: Luôn luôn tỉnh giác, khi ngồi biết mình ngồi, khi ăn biết mình ăn, khi đắp y biết mình đắp y, khi cầm bình bát biết mình cầm bình bát...đó là tỉnh giác. Kinh Nikàya nói một cách đơn thuần như thế về tỉnh giác. Lối tỉnh giác đó như Thoại Nham Hòa thượng hằng ngày tự kêu mình hãy tĩnh đi tỉnh đi..., nhưng phân biệt như trong Duy thức thì rõ ràng hơn. Thấy rằng cái tâm khởi lên đó là loại tâm gì, phải biết rồi mới lo diệt trừ nó đi. Mà khi đã biết tâm để trừ tâm, cái đó nói tu thì bấy cứ lúc nào cũng tu hết, hiểu tâm lúc nào cũng hiểu hết, tu tâm lúc nào cũng tu hết, chứ không phải khi bước chân lên chùa tụng kinh gõ mõ mới là tu tâm, hay thời gian ngồi tham thiền mới là tu tâm. Không phải thế. Bởi nếu mình tỉnh giác được, nhưng tâm thiện tâm ác tương ưng với tâm vương của mình từng giờ từng phút, lúc nào nó khởi lên thì trừ lúc đó, cũng gọi là tu.
          Thế nhưng tại sao lại có giờ công phu nhất định như vậy để làm gì? Là vì công phu của mình còn non quá, yếu quá nên phải có cái thì giờ để huấn

* Trang 126 *
device

luyện cho mình có thêm nghị lực, để bất cứ lúc nào mình cũng được thanh tịnh, không bị ô nhiễm.
          Cho nên trong đạo Phật khi nói học tức là tu, nói tu tức là học, chứ không phải học xong mới tu hay học ba năm bốn năm ra trường sau đó mới tu. Không phải như vậy. Không phải học xong rồi mới tu, mà chính ngay trong khi đang học đã tu, trong tu có học, ngay cả trong khi đang học đã quyết chí đỗ, chính ngay khi ngồi trong lớp cũng đã tu, nếu không quyết tu thì học để làm gì!
          Thường thường ngồi trong lớp học đâu có phải lúc nào chúng ta cũng đem cái hư tâm học đạo, sáng suốt rỗng rang để nghe lời thầy dạy. Nếu được như thế thì rất là quí, nhưng không phải lúc nào cũng thế, rồi nó sinh ra những chuyện khác nữa, ví dụ ngồi học như vậy nhưng sao thấy nó nặng nề, trầm trệ, mệt mỏi quá. Hai con mắt thì mở nhưng cái tâm hồn như là để đâu đâu, lúc bấy giờ hôn trầm tâm sở nổi lên, nếu không trừ diệt là bị buồn ngủ, nên ngồi giữa lớp mà ngủ gục là vì vậy. Khi đã hôn trầm tức phải đi tới thụy miên. Hôn tầm là một tâm sở. Cho nên hành giả ngồi thiền thường hay bị hai cái bịnh là bịnh hôn trầm và bịnh tán loạn.
          Tán loạn cũng không thiền định được mà hôn trầm cũng không thiền định được. Hôn trầm thì sẽ ngủ gật.

* Trang 127 *
device

Nên khi học phải biết lúc nào mình bị hôn trầm thì phải đánh thức nó dậy, đó là tu. Tránh cho được hôn trầm thì mới học vô. Như vậy có tu mới học được. Ngoài bịnh hôn trầm còn có bịnh trạo cử. Ngồi trong lớp nghe thầy giảng nhưng tâm không yên: nhổm lên nhổm xuống, xích qua xích lại, không ngồi yên một chỗ gọi là trạo cử. Một ngọn đèn nó đứng yên một chỗ thì ngọn đèn đó là sẽ soi sáng, trái lại ngọn đèn đó cứ phụt lên hạ xuống, chao qua chao lại, thì ánh sáng lòa lòa chứ không sáng rõ được gọi là trạo cử. Ngồi không yên quay qua quay về, đứng lên ngồi xuống cũng gọi là trạo cử.
          Dẫu vậy cũng có đôi lúc nghe thầy giảng nhưng nghe với một tâm động, tâm chao qua chao lại như ngọn đèn thì lời dạy của thầy cũng không lọt vào trong tâm được nên gọi là trạo cử tâm sở. Biết cái trạo cử tâm sở đó để trừ đi tức là tu. Không những tạo cử mà còn có cái tán loạn tâm sở nữa.
          Ngồi trong lớp tai bên này nghe thầy giảng nhưng tai bên kia nghe nhạc, lại còn con mắt cứ nhìn đồng hồ không ngớt, như vậy trong lúc đó có mấy cái tâm? Một tai nghe thầy giảng là một tâm, một tai nghe nhạc là hai tâm, hai cặp mắt nhìn đồng hồ là ba tâm, gọi là tâm tán loạn. Tán loạn như thế thì lời của thầy giảng mới đi tới ngang ta thì nó cũng bị đánh bạt

* Trang 128 *
device

đi chỗ khác, xê đi chỗ khác, chứ không làm sao mà lọt vào tai được hết. Nếu biết tâm tán loạn thì khi khởi phải loại trừ nó đi, đừng cho tán loạn thêm đó là tu. Có tu được cái tán loạn tâm như vậy thì mới học được, không chỉ tán loạn tâm mà còn có nhiều loại bịnh khác nữa.
          Nhiều khi nghe lời thầy giảng không hơn chi mình đọc sách hết. Mình đọc sách coi bộ trong sách người ta nói thâm thúy hơn thầy giảng. Bây giờ thầy giảng sao mà chán quá, không hay chi cả. Từ trong cái chán quá đó nếu không tu, nó sẽ sinh ra một loại bịnh khác gọi là mạng tâm sở (ngã mạn), khi đó ra mặt chê: Ông thầy đó giảng như vậy mà giảng, dở ẹt. Tuy không nói lớn nhưng mà nói thầm thầm. Trong câu nói đó chẳng những thể hiện cái tính ngã mạn mà cũng có cái ý khoe khoang. Khoe khoang với anh em xung quanh, ta biết rồi, điều đó ta biết rồi.
          Chính tôi có đi ngang qua giai đoạn học ấy, tức đã học trên ghế nhà trường, đi con đường này nên tôi cũng biết tâm lý các thầy cô trẻ chút đỉnh. Xin nói để các vị biết, thời ấy chúng tôi học khổ lắm, 10 năm chỉ học với một thầy dạy mà thôi, chứ không nhiều thầy cô đâu, đó là Hòa thượng Trí Độ. Lâu lâu mới có cụ Lê Đình Thám dạy một vài bữa thôi! Dạy toàn kinh luật chữ Hán, chữ không có Việt văn, không có

* Trang 129 *
device

Anh văn, Pháp văn chi cả. Chương trình không dạy thứ gì khác ngoài Hán văn.
          Vào học năm đầu thì có dạy môn luận văn, nhưng thầy dạy luận văn hết sức đơn sơ. Thầy bảo làm một bài luận ba phần phải cân đối nhau. Phần mở đề, phần chính luận, và phần kết luận. Ba phần phải cân đối nhau, chứ đừng mở đề thật to, mà chánh luận một chút rồi kết luận thật to, không khác người có cái đầu và hai chân, còn cái bụng nhỏ quá, thế là không được. Phải y như con người: cái đầu chừng nào, cái bụng chừng nào và hai cái chân chừng nào. Đó là một bài luận, thầy chúng tôi dạy đơn sơ thế thôi. Ngoài ra không dạy nhiều về văn chương hết. Chẳng những đã không dạy rồi mà đến khi mình tìm các sách văn chương ở ngoài đời học cũng không cho. Lúc thời buổi chúng tôi học là thời buổi văn chương đang phát triển, trong đó có nhóm Tự Lực Văn Đoàn họ in những cuốn sách như Hồn bướm mơ tiên, Tôi kéo xe hay Tắt đèn... rất nổi tiếng. Có một số anh em tìm mua về đọc. Lâu lâu thầy đi soát một lần, hễ thấy anh nào có quyển sách ấy là ông lấy xé ngay tức thì.
          Có khi anh em không thuộc bài, nếu qua ba người thì coi chừng cả lớp chuẩn bị bỏ chạy. Khi đó ông vác roi gặp đâu đánh đó. Những kỷ niệm như thế chúng tôi bây giờ tưởng tượng lại như mới xảy ra hồi

* Trang 130 *
device

hôm qua. Thế mà chúng tôi đã chịu đựng trong 10 năm học. Bởi chỉ có một thầy dạy thôi, dạy toàn chữ Hán,cứ thế mà học không được kêu ca gì hết. Lẽ tức nhiên tuổi còn trẻ, khoảng 14 tuổi là tuổi còn thích ăn thích ngủ, nhưng từ sáng học đến trưa, từ trưa học đến tối, nghe quen quá nên đôi lúc cũng buồn ngủ. Cho nên ra giữa lớp anh nào cũng cố tìm một chỗ khuất để ngồi, lỡ có ngủ thì thầy không thấy, vì lớp chúng tôi học có mấy cột nhà khá lớn. Chúng tôi tìm sau cột nhà mà ngồi, ai tìm được ngồi ngay vào chỗ đó là may mắn lắm. Giả sử có ngủ gục cũng không đến nỗi nào. Nhưng nếu muốn ngủ ta ở nhà ngủ chứ ra ngồi làm chi? Nhưng ở nhà thì sợ ông điểm danh làm sao mà trốn được. Nếu có ngủ thì ngủ đôi chút chứ làm sao mà ngủ cả buổi được.
          Cũng nhờ thầy dạy nghiêm khắc như vậy mà chúng tôi có được một cái học có cơ bản. Tuy  không rộng rãi, không sâu xa, nhưng nhờ đó sau này có cái cơ sỏ để tiến bộ. Thứ nữa, đạo lý Phật giáo của mình có một cái huân tập. Những em bé nằm trong nôi nó có nge có biết chi đâu, thế nhưng tiếng hát của bà mẹ trong lúc ru con, tiếng hát đó vẫn thấm vào trong lòng nó. Vậy khi mình ngủ gục đi nữa, thì tiếng giảng của ông thầy cũng lọt vào trong óc trong tai được. Nếu không trọn một câu nhưng cũng nghe được một ít. Như vậy dù có ngủ hai giờ thì mình cũng nghe

* Trang 131 *
device

được khúc trước khúc sau và trong khi ngủ nghe được một ít nữa, tức là nghe hơn một giờ rưỡi, còn ngủ chắc nửa giờ thôi. Như vậy ngủ cũng có lợi
          lại có chuyện bàn tán: Thầy này giảng dở, thầy kia giảng hay. Theo tôi, mình là học tăng, học ni chương trình đã đề ra thì mình học là cứ học, nghe là cứ nghe. Người ta gọi đó là hư tâm học đạo. Còn anh mang sẵn cái tâm tới học đạo mà cho rằng tôi hiểu rồi, đừng nói nữa, sao gọi là hư tâm được. Hư tâm là lòng anh phải trống rỗng như thế này để anh chờ, anh chực người ta đưa vào cho, còn anh chứa đầy trong tâm rồi thì làm sao mà đưa vô được nữa. Gỉa sử ông thầy có nói điều mình học rồi, ông nói dù có dở chín điều, nhưng chắc chắn có một điều ông nói hay. Nếu chê ông dở đến khi ông nói điều hay đó mình không nghe được thì thật là uổng, khi ấy ai nói lại cho. Thành thử học là học, nghe là nghe, giữ một tâm bình tĩnh học với thái độ không có hôn trầm, không có trạo cử không có tán loạn, không có ngạo mạn, không có giải đãi. Trong khi học mà tránh các bịnh đó tức là tu, có tu như vậy mới học được. Còn để mấy loại bịnh đó nó choáng cả thì làm sao mà học được. Hết hôn trầm đến trạo cử, hết trạo cử đến tán loạn, hết tán loạn đến ngã mạn, hết ngã mạn đến phóng dật thì làm sao mà học. Mỗi buổi học từ 2 giờ đến 4 giờ mà anh đem cả

* Trang 132 *
device

Lô bịnh ra dọa thì làm sao mà học vô. Cho nên trong khi học cũng là tu chứ không phải học xong mới tu. Có tu như vậy mới học được.
Chính chúng tôi cũng vậy, nếu nói nghe học mà chán thì 10 năm chúng tôi học một thầy thì lại càng chán hơn. Lẽ tất nhiên kinh luật luận thì nhiều, nhưng ý kiến của ông thầy làm sao không trùng lặp được. Nếu nói nghe mà chán thì đức Phật còn tồn tại chắc chúng ta cũng không nghe Ngài dạy đâu.
Bộ kinh Nikaya là bộ kinh chứa toàn lời Phật dạy mà một câu lặp đi lặp lại ba lần. Đọc cũng chán lắm. Anh em khi mới học Nikàya chắc cũng chán như chúng tôi. Chúng tôi lúc đầu cũng có cảm tưởng như vậy. Khi chúng tôi tìm kinh sách Đại thừa đọc thì tư tưởng sâu xa thấm thía lắm. Đọc một câu mới hiểu được một ý còn chín ý nữa mình phải đi tìm hiểu lấy. Còn khi đọc kinh tạng Nikàya sao mà cứ lặp đi lặp lại nên đọc hơi chán. Tuy vậy nhưng càng đọc chừng nào tôi càng thấy thấm thía chừng đó. Đọc chừng nào thì càng thấy cái hay, cái thâm thúy, cái ý nhị nằm trong từng câu từng chữ của nó. Câu văn hết sức đơn giản mà cảm xúc vô cùng.
Chúng ta biết Trung luận là bộ luận rất cao siêu do ngài Long Thọ soạn. Một bộ luận có một biện chứng pháp rất tuyệt diệu. Vậy nội dung Trung luận

* Trang 133 *
device

nói cái gì? Đó là nói về Bát bất trung đạo: Bất sanh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất. Đó là Bát bất trung đạo. Mới đọc lên ngó như cao siêu lắm. Có người nghĩ chắc Phật xưa Ngài cũng không nói được như vậy đâu. Bát bất của ngài Long Thọ nói ra và sau này chúng ta mới hiểu được, chứ còn đối với Phật em cũng không hiểu, không nói được như vậy đâu!
Thật ra lúc đầu chúng tôi cũng lầm như thế. Bởi vì coi trong kinh tạng Nikàya nói ra là mình hiểu liền, không có cái gì sâu sắc hết. Nhưng càng đọc sâu, càng tìm hiểu từng câu từng lời mới thấy cái sâu trong đó. Chính Bát bất trung ssaoj của đức Phật nói cũng từ trong Nikàya mà ra cả. Trong đó có chỗ đức Phật dạy rằng: "Nói thế gian là có đó là một cực đoan, nói thế gian là không đó là một cực đoan, nói thế gian là một đó là một cực đoan, nói thế gian là khác đó là một cực đoan, xa lìa cực đoan Ta thuyết pháp trung đạo".
Chính Trung luận triển khai cái ý nghĩa đó của kinh tạng Nikàya do đức Phật dạy chứ có cái gì mới đâu. Cho nên trong Nikàya đức Phật dạy một câu rất ngắn mà ngài Long Thọ về sau này triển khai thành một bộ luận rất công phu, rất súc tích, rất sâu sắc. Bây giờ nói về các biện chứng pháp của Trung luận thì các nhà nghiên cứu Phật học khắp cả thế giới đều thán

* Trang 134 *
device

phục không  một ai bắt bẻ được. Mới đầu chúng ta cứ tưởng đó là của ngài Long  Thọ, nhưng thật ra không phải, mà chính đó là của đức Phật nói ra. Nên trong bài kệ của ngài Long Thọ mới vô đầu bộ luận có tán dương đức Phật như sau: Cái Ngài nói diệu pháp nhân duyên trung đạo đó là vị thuyết pháp thứ nhất, con xin đảnh lễ ngài. Mở đầu trung luận Bồ-tát Long Thọ viết:
          Chẳng sinh cũng chẳng diệt
          Chẳng thường cũng chẳng đoạn
          Chẳng một cũng chẳng khác
          Chẳng đến cũng chẳng đi
          Nói lên được pháp nhân duyên ấy
          Khéo diệt trừ các hý luận.
          Con cúi đầu lễ Phật
          Đã thuyết nhân duyên cao nhất trong các thuyết.
          Qua câu nói đó ta biết ngài Long Thọ rất tôn trọng lời dạy của đức Phật và lấy lời dạy của ngài ra để mà triển khai, chứ không phải là sáng kiến của ngài Long Thọ. Ngài Long Thọ chẳng qua là người triển khai lời dạy của đức Phật mà thôi. Những cái hay đó mà chúng tôi thấy đọc Nikàya, càng đọc càng thấy thấm thía, càng đọc lại càng nhận thức được một cách sâu sắc giáo lý trong kinh điển Đại thừa. Nếu nghe qua mà chán thì không chi bằng đọc

* Trang 135 *
device

Nikàya! Ông thầy dạy nói có chán cũng chưa chán bằng khi đọc Nikàya, chứa lời Phật dạy mà cứ lặp đi lặp lại một câu hai ba lần.
          Tại sao mình chê thầy dạy sao chán quá. Trong những lúc mình nghe ông dạy xem ra có vẻ tầm thường, đó cũng có cái chủ ý riêng của ông ở trong đó mà mình chưa biết hết. Thành thật tôi khuyên các thầy cô học là cứ học, có tu mới học thì học mới vô được. Nếu không tu mà cứ mang ra một cái phiền não tâm sở này hay phiền não tâm sở khác, để cho nó nổi dậy trong khi ngồi học, nhứt định không làm sao mà học được. Như vậy sẽ rất uổng cho việc học tập. Cứ phê bình bữa nay ông thầy này dạy chán quá tôi không muốn học, bữa khác nghe ông thầy dạy khó quá học sao vô, như rứa là chết. Khi thì chê thầy dạy thường quá, không có kiến thức mới, khi thì than khó quá học sao vô; khi thì dạy dài quá làm sao mà học cho kịp, nên không có khi nào học được hết. Thành thử phải học cho hết mình, tuần tự theo thì giờ, theo bài vở từ từ mà học, không lo được không lo mất. Nếu trong cái học mà có cái lo thì nó choáng lòng mình nên cũng không học được.
          Bây giờ các vị gặp một hoàn cảnh học hết sức thuận tiện, còn trước chúng tôi chỉ có một thầy dạy, có nghe được thì nghe, có nhớ được thì nhớ, có hiểu được thì hiểu, chứ ra khỏi lớp rồi thì không biết hỏi ai

* Trang 136 *
device

nữa. Hỏi thầy thì đâu dám hỏi. Nếu trò nào cũng vô hỏi cả thì thầy làm việc cả ngày không cho thầy nghỉ giờ nào cả hay sao? Đã thế, đêm về còn viết mấy chục trang sách li ti bằng chữ Hán, dưới ngọn đèn mù mờ, viết cho kịp để ngày mai có để mà học. Còn bây giờ anh em sướng lắm, có cái máy thu âm để một bên, có nghe thầy giảng hay không nghe cũng được, cứ thu vô để đến tối về nằm ngửa trên giường mà nghe, vì đã có cái máy học giúp, nghe giúp nên không có mặt cũng chả sao. Thậm chí còn dặn bạn: Thôi anh thâu dùm tôi để tối tôi học cũng được chứ bây giờ tôi bận đi coi đá banh rồi, có thể như vậy lắm chứ! Chính trong cái dễ đó chưa chắc đã là hay. Thành thử có cái phương tiện đó giúp cho chúng ta cũng tốt, nhưng chỉ giúp mà thôi, chứ nó không làm cái việc chính thay cho chúng ta được, như việc học và suy tư của chúng tôi trong lúc nghe thầy giảng. Còn nếu mình biến nó là chủ còn mình là khách là dở. Mở máy ra có sao nghe vậy, nhưng khi thầy viết trên bảng thì không nghe được, nếu ỷ lại vào cái máy thu âm thì thiệt hại biết chừng nào.
          Thứ nữa, lúc chúng tôi học, thời đó đâu có âm nhạc, nếu có nghe ca thì chỉ vài bài vọng cổ, ca nam ai nam bằng, ca xưa thôi, không thấy có buổi hòa nhạc hay đài phát thanh phát nhạc như bây giờ. Nhờ đó nên chúng tôi không tu cũng phải tu, không học cũng phải

* Trang 137 *
device

học vì không biết đi đâu. Còn các thầy cô bây giờ thuận lợi hơn, muốn tu, muốn yên tĩnh cũng không được, bởi đài phát thanh cứ mở bên tai 24/24 giờ, hết bản nhạc này đến tin tức nọ, âm điệu du dương nghe mùi tai dại gì mà không nghe.
          Lại có một số thầy cô đang ngồi học không quên để cái máy một bên. Học thì học, đọc thì đọc nhưng nghe nhạc thì cứ nghe, nghe cho khỏe để học cho mau vô, để khỏi phải buồn ngủ. Như vậy cái học sẽ ra sao. Chúng ta biết rằng đi vô như thế nào thì đi ra như thế đó. Vô ông ổi thì ra cũng ông ổi, vô ông xoài thì ra cũng ông xoài, chứ vô cả ổi lẫn xoài thì ra cái gì? Khi học mà vô lộn xộn thì ra cũng lộn xộn. Cho nên có những thầy cô học 4 năm Đại học Phật giáo gần ra trường rồi mà Tứ đế lại lộn với Thập nhị nhân duyên, vì khi nghe giảng bài thì vừa viết bài vừa nhớ bản nhạc mới nghe, thật là khổ. Khi đầu vào như vậy thì đầu ra chắc chắn phải hành động như vậy. Do đó, học tập nói năng lộn xộn thì hành động và phát biểu cũng lộn xộn. Hai việc học và hành có liên đới với nhau. Nhiều khi  trong giọng tụng kinh cũng có ngâm nga cái giọng ca nữa, vì vừa tụng kinh vừa để cái máy một bên làm sao không lộn xộn được.
          Các thầy cô nên biết cái nào là phương tiện thì phải đặt để nó là phương tiện, nó chỉ giúp cho mình

* Trang 138 *
device

một phần nào thôi trong khi cần thiết, chứ đừng dùng nó làm chính thức rồi mà bỏ mất sự suy tư và sự chăm chú, sự tích cực, sự cần mẫn của mình. Nếu cứ ỷ lại vào cái máy thì đi đâu cũng lè kè mang theo nó, thậm chí vô thi cũng lè kè cái máy một bên, để lỡ có quên thì nhờ nó nhắc cho. Thành vô tình mình biến nó là chủ, còn mình là khách, là phụ. Nếu là phụ không phải là chính thì có học mãi đi nữa cũng không có căn bản. Cho nên tôi khuyên các thầy cô phải tự lực là chính chứ không nên phụ thuộc quá nhiều vào máy móc trong việc tu học của mình.
          Vài lời khuyên nhắc các thầy cô, mong các vị tinh tấn trong việc tu việc học để sau này là người hữu ích cho Giáo hội, cho Học đường trên bước đường phục vụ Đạo pháp.
*
*   *

* Trang 139 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo