LOGO VNBET
Ý NGHĨA
VÀ NGHI TRUYỀN TAM QUI NGŨ GIỚI

I. Tam quy (*)
          Một người phát nguyện tin theo đạo Phật, xin thọ phép tam quy trước Tam bảo thì được gọi là Phật tử. Tam quy là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng. Do Phật, Pháp, Tăng dìu dắt chúng sanh ra khỏi cái khổ luân hồi, nên chúng sanh rất quý trọng và tôn là Tam bảo.
          Pháo giới tánh duyên khởi ra thế giới, chúng sanh từ vô lượng, vô số kiếp về trước. Chúng sanh thì sanh, trụ, dị, diệt, liên tục mãi mãi. Thế giới thì thành, trụ, hoại, không cũng liên tục, không lúc nào dừng nghỉ, như bánh xe xoay tròn nên gọi là luân hồi.
          Chúng sanh mới sanh ra thì gọi là sanh, tiếp tục tồn tại thì gọi là trụ, chuyển biến không ngừng thì gọi là dị và cuối cùng phải chết thì gọi là diệt. Thế giới khi còn ở thể hơi vô hình thì gọi là không, khi bắt đầu
_________________
(*) "Phật học thường thức" của cụ Tâm Minh Lê Đình Thám.

* Trang 140 *
device

đọng lại, cho đến thành một khối đất cứng, có cây, có cỏ, có người, có vật thì gọi là thành, khi tiếp tục tồn tại không có sự thay đổi lớn lắm thì gọi là trụ, khi bắt đầu tan rã không còn người, vật và cũng không còn cây cối thì gọi là hoại, và khi trở lại biến ra hơi thì gọi là không. Thời gian của một thế giới thành rồi trụ, trụ rồi hoại, hoại rồi không thì gọi là một kiếp. Mỗi thế giới có một trời riêng của thế giới ấy, phạm vi giáo hóa của một đức Phật, có hàng ngàn triệu mặt trời, tức là hàng ngàn triệu thế giới, gồm lại thành một Phật sát. Vô lượng, vô biên Phật sát kết hợp với nhau thành một tầng và độ hai mươi tầng như thế, chồng lên nhau thì thành một hoa tạng thế giới. Trong vũ trụ có vô lượng vô biên hoa tạng thế giới và các hoa tạng thế giới cách xa nhau đến mức mà con người không thể tưởng tượng nổi.
          Trong hàng triệu thế giới của một Phật sát, cái thì đương thành, cái thì đương trụ, cái thì đương hoại, cái thì đã thành không, nên không thể nói vũ trụ bắt đầu từ đâu và lúc nào thì diệt, mặc dù mỗi thế giới đều có thành, trụ, hoại, không. Từ cõi Tứ thiền trở lên, thì không bị sự thành, trụ, hoại, không của thế giới chi phối, nên chúng sanh ở cõi đó, có thể sống rất nhiều kiếp.
          Chúng sanh luân hồi mãi mãi trong vô lượng kiếp, chịu nhiều đau khổ, nên có người đã giác ngộ

* Trang 141 *
device

Muốn tìm cách ra khỏi sống, chết. Do lòng trông mong ấy của chúng sanh, nhiều ngoại đạo, tà giáo đã xuất hiện, lừa gạt chúng sanh, như cho trẻ con cái bánh vẽ, hoặc bảo rằng, tu đạo tiên thì trường sinh bất tử, hoặc bảo rằng, lên thiên đường thì sống mãi không chết, làm cho chúng sanh chìm đắm mãi trong bể khổ. Trong những người tìm đạo giải thoát, có một số người suy xét nơi tâm, nơi cảnh hiện tiền, phát minh ra đạo lý nhân duyên, rồi cố gắng tu tập, đi đến diệt trừ ngã chấp, ra khỏi luân hồi, đó là các vị Độc giác. Vô lượng vô số kiếp về sau, có một vị Độc giác phát lòng từ bi rộng lớn, không nỡ để cho chúng sanh bị mãi cái cảnh luân hồi, nên kiên trì hiện ra nhiều thân, trong nhiều loài mà hóa độ chúng sanh. Do tâm từ bi hóa độ ấy, vị Độc giác này, càng ngày càng phát triển khả năng độ sinh của mình, càng ngày càng đi sâu vào bản tánh của mọi sự, mọi vật, đi đến đầy đủ công đức trí tuệ, giác ngộ được pháp giới tánh, phát hiện rồi nhập một với Pháp giới tánh và thành Phật đạo, đó là đức Phật Uy âm vương, đức Phật đầu tiên trong vũ trụ vô cùng tận. Nhờ công đức hóa độ của đức Phật Uy âm vương, vô lượng vô số chúng sanh đã phát Bồ-đề tâm, tu theo Phật pháp, phổ độ chúng sanh và thành vô lượng chư Phật, rồi mỗi đức Phật lại truyền dạy Phật pháp, hóa độ cho vô lượng chúng sanh thành

* Trang 142 *
device

Phật độ sanh, mãi mãi như thế cho đến ngày nay, đã có vô lượng, vô số Phật. Như thế, tất cả chư Phật đều tu tập mà thành, mặc dầu pháp giới tánh sẵn có, không hề thêm.
          Chư Phật giác ngộ là giác ngộ cái mê lầm của chúng sanh, chúng sanh mê lầm là mê lầm cái giác ngộ của Phật.
          Thực tế, chúng sanh chỉ là những biểu hiện của pháp giới tánh, chỉ do pháp giới tánh trùng trùng duyên khởi mà có. Sẵn có pháp giới tánh, chúng sanh không biết trực nhận, sai lầm nhận các thân thường thường thay đổi, cái tâm thường thường chuyển biến là mình, lại lầm chấp có cái ta thật, có ngoại vật thật, nên phải chịu sống rồi chết, chết rồi sống luân hồi mãi mãi trong lục đạo. Cái mê lầm như thế, thì gọi là vô minh, chỉ khi nào không còn ngã chấp, pháp chấp giác  ngộ vô minh, và dứt sạch vô minh thì mới nhập một được với pháp giới tánh, tức là bản lai tự tánh. Khi nhập một được với pháp giới tánh, thì được gọi là Như Lai, vì là bản tánh chân như, theo duyên phân biệt của chúng sanh, mà hiện ra vô lượng thân để hóa độ, nên gọi là Như Lai. Các đức Như Lai đều bình đẳng, không có sai khác, nhưng cái duyên của các ngài đối với chúng sanh, lại theo tâm phân biệt của chúng sanh mà có sai khác. Các đức Như Lai hiện ra

* Trang 143 *
device

vô số thân, làm nhiều việc lợi ích cho chúng sanh để kết duyên. Khi nhân duyên đã thành thục, đối với chúng sanh trong hàng ngàn triệu thế giới của một Phật sát, thì các đức Như Lai lại hiện ra thân Phật trong tất cả các thế giới ấy để hóa độ.
          Đức giáo chủ của chúng ta là đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài là một ứng thân trong vô lượng vô biên ứng thân của đức Phật Lô-xá-na. Ngài hiện ra thân người trong cõi này, với đủ các tướng phàm phu, rồi thị hiện xuất gia cầu đạo, thị hiện tự mình tu tập, khi nhận thấy các ngoại đạo không phải là đạo giải thoát và cuối cùng, ngồi dưới cây Bồ-đề, tự mình suy xét, dứt sạch vô minh và thành Phật đạo. Sau khi thành Phật, đức Phật Thích-ca Mâu-ni chu du nhiều nước, thuyết pháp độ sanh, đem những phương pháp tu tập để tự giải thoát, để tự giác, giác tha đi đến giác hạnh viên mãn, mà dạy bảo cho các hàng đệ tử.
          Sau khi thành Phật nhập diệt, các đại đệ tử của Phật kết tập những lời Phật đã dạy, thành các bộ kinh, các vị còn kết tập riêng những giới luật của Phật đã dạy thành các bộ luật. Lại trong khi Phật tại thế và nhất là sau khi Phật nhập diệt, nhiều vị đại đệ tử của Phật, đã có những trước tác quan trọng hoặc phân tích, hoặc quy nạp, hoặc hệ thống hóa những lời Phật dạy,

* Trang 144 *
device

để giúp đỡ người đời học hỏi đạo lý của Phật, đó là những bộ luận. Các bộ kinh, bộ luật, bộ luận là ba tạng kinh điển của Phật giáo.
          Trong lúc Phật còn tại thế, các đệ tử Phật, xuất gia cầu đạo, đều kết hợp lại thành những chúng, sống theo phép lục hòa là thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải và lợi hòa đồng quân. Những chúng lục hòa như thế thì gọi là Tăng.
          Theo quan niệm phổ thông thì đức Phật Thích-ca Mâu-ni là Phật bảo, ba tạng kinh điển là Pháp bảo, và các chúng xuất gia là Tăng bảo. Tam bảo như thế thì gọi là trú trì Tam bảo. Những người theo đạo Phật quy y Tam bảo, chủ yếu là quy y với trú trì Tam bảo.
          Ngoài quy y với trú trì Tam bảo ra, tín đồ các pháp Đại thừa Phật giáo, còn quy y với thập phương Thường trụ Tam bảo, nghĩa là quy y với tất cả chư Phật trong mười phương, chứ không phải chỉ quy y với đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật; quy y với đệ nhất nghĩa đế, tức là với đạo lý vi diệu nhất của Phật, chứ không phải chỉ quy y với Tam tạng kinh điển; quy y với vô lượng chúng Bồ-tát trong mười phương, chứ không phải chỉ quy y với trụ trì Tăng bảo hiện tiền.

* Trang 145 *
device

          Vẫn biết, chư Phật là đồng thể, quy y với một đức Phật, tức là quy y với tất cả chư Phật, nhưng nếu chỉ quy y với đức Phật Thích-ca Mâu-ni, là một ứng thân của đức Phật Lô-xá-na, thì khó nhận được Phật là thường trụ, luôn hiện tiền, do đó, cũng không quan niệm đúng đắn được quả vị tối cao, tối thượng của chư Phật.
          Lại Tam tạng kinh điển tuy nhiều, nhưng phương tiện của Phật và của chư Tổ, theo duyên cũng có sai khác. Có kinh điển chỉ dạy về Nhân, Thiên thừa, có kinh điển chỉ dạy về Duyên giác thừa, Thanh văn thừa, nghĩa lý không rốt ráo và chưa phải là con đường tu hành thành Phật đạo. Về các kinh điển Đại thừa, nếu chấp chữ nghĩa trong kinh, mà không nhận rõ ý tứ, thì chẳng khác gì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng mà thôi. Vì thế người tu hành theo pháp Đại thừa, cần quy y với đạo lý chân thật, nghĩa là quy y với Đệ nghĩa đế, đưa đến trực nhận pháp giới tánh, tức là tâm tánh, tức là bản lai tự tánh.
          Trong đạo Phật chúng ta hiện nay, chỉ có Thanh văn Tăng, vì theo căn cơ của loài người trong cõi này, chỉ có Thanh văn Tăng mới duy trì Phật pháp được lâu dài, nhưng không phải vì thế mà không có chư vị Thập phương Bồ-tát, thể theo đại nguyện đại bi, luôn

* Trang 146 *
device

luôn hiện thân trong thế giới chúng ta, để hóa độ quần sanh. Chính các vị đã hiện thân làm các vị Tổ sư, uốn nắn những lệch lạc trong Phật giáo, sáng tác nhiều bộ phận quí báu, chẳng những làm sáng tỏ thêm đạo lý của Phật dạy, mà lắm khi còn phát triển và phát minh những phương pháp tu hành thích hợp với thời cơ làm cho Phật giáo được chấn hưng, sau những thời kỳ bị suy sụp. Vì thế, ngoài trụ trì Tăng, tín đồ đạo Phật còn quy y với thập phương Bồ-tát Tăng là thường trụ Tăng bảo.
          Những Phật tử đã phát Bồ-đề tâm, nên còn biết Trụ trì Tam bảo cũng không ra ngoài pháp giới tánh, tức là bản lai tự tánh của mình. Thế có nghĩa là tuy có mình quy y Tam bảo, nhưng sự thật, mình cũng là pháp giới tánh. Tam bảo cũng là pháp giới tánh, không có Tam bảo ra ngoài tâm tánh của mình và cũng không có tâm mình ra ngoài Tam bảo.
          Tự tánh bản lai không có ô nhiễm, không có vô minh, đó là Phật bảo.
          Tự tính bình đẳng, không có gì sai khác, tuy biểu hiện ra tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, nhưng tất cả các pháp đó, đồng thời đều chỉ là tự tánh, đó là Pháp bảo.
          Tự tánh có diệu dụng vô lượng vô biên, có hằng sa tính công thức, hiện ra vô số thân, làm vô số Phật

* Trang 147 *
device

sự, nhưng sự thật không được một cái gì cả, đó là Tăng bảo.
          Tăng bảo trong tự tánh như thế là Tự tánh Tam bảo.
           Người tu hành cần quy y với tự tánh Tam bảo, để khỏi nhận lầm thật có Tam bảo ra ngoài tâm tánh.
          Quy y, theo tiếng Phạn là "Nam mô", nghĩa là quay về mà nương dựa. Chúng sanh mê lầm như đứa con dại đi lạc đường. Đứa con ấy, nghe theo tiếng gọi của cha mẹ, thì quay về nương dựa, đi theo cha mẹ để khỏi bị lầm lạc. Chúng sanh mê lầm, được nghe tiếng gọi của Tam bảo, biết quay về với Tam bảo, đi theo Tam bảo trên con đường giải thoát, thì mới đi ngược lại được với dòng mê và ra khỏi luân hồi.
          Vật quy y không phải là một nghi lễ, mà phải là một dịp phát nguyện trước Tam bảo, cương quyết cải tà quy chánh, nói một cách khác là cương quyết đi theo Tam bảo, chứ không lạc vào con đường khác.
          1. Quy y Phật, vĩnh bất quy y thiên, thần, quỷ, vật. Nghĩa là quy y với Phật, nguyện vĩnh viễn không quy y với Trời, Thần, Quỷ, Vật. Ngoại đạo thường mê tín theo các ông Trời, ông Thần, loài ma quỷ và các loài vật thành tinh như cây, đá, cọp, rắn, v.v... Tín đồ đạo Phật biết trời, thần, quỷ, vật, chỉ là những loài chúng sanh trong vòng luân hồi, nên

* Trang 148 *
device

cương quyết không theo họ mà chỉ quy y theo Phật để được giải thoát.
          Có người nói:" Cha cũng kính, mẹ cũng vái",hoặc "Phật thì xa, bản nha thì gần", hoặc "Phật cũng kính, Trời cũng sợ",  nói như thế là lẫn lộn giác ngộ với mê lầm, Phật với chúng sanh, Chánh pháp với ngoại đạo.
          Nên nhận rõ rằng những loài trời, thần, quỷ, vật đều mê lầm như chúng ta, đều bị ràng buộc trong bản nghiệp, nên không thể hiểu biết chúng ta và thường cũng không có quan hệ gì với chúng ta.
          Song tư tưởng của chúng ta có một sức mạnh phi thường, khi tư tưởng nhiều người tập trung tin tưởng, thì lại có thể tạo ra những trời, thần, quỷ, vật và một số tác dụng, nhưng trời, quỷ, thần, vật đó sự thật chỉ là ảo tưởng mà thôi.
          Ngoài ra, khi tu hành đã khá, bắt đầu chuyển nghiệp người sang nghiệp khác, thì chúng ta có thể cảm thông với những loài khác được, những sự cảm thông đó vẫn không có lợi ích gì cả, vì những chúng sanh ấy, tuy khác loài người, vẫn còn là chúng sanh, do đó, trong lúc cảm thông với nhau, họ rất có thể lôi kéo người tu hành theo các ngoại đạo.
          2. Quy y Pháp, vĩnh bất quy y ngoại đạo, tà giáo: nghĩa là quy y với Phật pháp, nguyện vĩnh viễn không

* Trang 149 *
device

quy y với ngoại đạo, tà giáo. Ngoại đạo là những đường lối tu hành như đạo Nho, đạo Lão v.v... không đưa đến kết quả, giải thoát. Tà giáo là những lời dạy bảo sai lầm, trái với nhân quả, tăng trưởng các nghiệp ác.
          Phật tử chỉ nương theo Phật pháp mà thôi, không nên xem đạo Phật cũng là một đạo như các đạo khác, không nên tìm xem kinh điển của đạo khác khi chưa hiểu Phật pháp, chỉ khi nào có đủ trí tuệ, phân biệt chánh tà, thì mới nên xem qua các kinh điển ngoại đạo, để biết mà bảo vệ Chánh pháp.
          3. Quy y Tăng, vĩnh bất quy y tổn hữu, ác đảng: nghĩa là quy y với Tăng chúng đạo Phật, nguyện vĩnh viễn khong đi theo tổn hữu và ác đảng. Tăng chúng đạo Phật sống theo phép lục hòa, là thiện hữu, là thiện tri thức của chúng sanh, còn tổn hữu là một người hoặc những người xúi dục làm những điều tổn thương đến đức hạnh, đến thiện niệm và chánh niệm. Ác đảng là những bè phái gây tổn hại cho đa số người, như bè lũ hại nước, áp bức giết hại nhân dân, phục vụ cho quyền lợi bọn xâm lược nước ngoài. Phật tử chỉ quy y với Tăng bảo, quyết không theo những tổn hữu ác đảng dù họ có khoác áo người tu hành.
          Quy y Tam bảo là ba cái nguyện mà tín đồ đạo Phật cần phải giữ trọn, thì mới xứng đáng là Phật tử.

* Trang 150 *
device

Vì thế, không nên truyền thọ Tam quy cho những người chưa hiểu rõ và chưa phát nguyện. Quy y lúc còn nhỏ tuổi, chỉ là kết duyên, chưa có tác dụng xác thực, khi đã lớn hiểu rõ và biết phát nguyện, thì nên phát nguyện trước Tam bảo, quy y đúng theo Chánh pháp. Phật tử chúng ta còn tụng Tam tự quy.
          - Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
          - Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.
          - Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
          Nghĩa là :
          - Tự mình quy y Phật, thì nên nguyện cho chúng sanh thấu rõ đạo Phật, phát tâm Bồ-đề vô thượng.
          - Tự mình quy y Pháp, thì nên nguyện cho chúng sanh đi sâu vào đạo lý của kinh điển, trí tuệ rộng lớn như biển.
          - Tự mình quy y Tăng, thì nên nguyện cho chúng sanh có khả năng dìu dắt đại chúng tu tập, tổ chức đại chúng theo phép lục hòa, được vô ngại tự tại.        
          Pháp nguyện quy y Tam bảo có lợi ích rất lớn, vì quy y Tam bảo tức là cải tà quy chánh, tức là làm lành, bỏ dữ, do đó, quyết định không đọa vào ba

* Trang 151 *
device

Đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Điều cốt yếu là phải phát nguyện thành thực, một lòng tin tưởng Tam bảo, không tin những ngoại đạo tà giáo, những trời, thần, quỷ, vật cả trong những lúc bị hoạn nạn, bị khó khăn, thì mới được sự lợi ích của việc quy y Tam bảo.
          II. Ngũ giới (*)
          Ngũ giới là năm giới cấm của người Phật tử. Một người đã phát nguyện quy y Tam bảo, không quy y thiên, thần, quỷ, vật, ngoại đạo tà giáo và tổn hữu, ác đảng đã thành Phật tử. Nếu một đời giữ phép Tam quy này một cách nghiêm túc, không đi theo những dị đoan, mê tín, thì cũng được hưởng những nghiệp báo rất tốt.
          Ngoài ra, những tín đồ đạo Phật, dầu là thiện nam, tức là Ưu-bà-tắc, hay tín nữ, tức là Ưu-bà-di, phát lòng tin chắc chắn về nhân quả, nghiệp báo và muốn tránh những điều dữ, thì nên phát nguyện giữ từ một tới năm giới cấm của tín đồ là bất sát, bất đạo, bất tà dâm, bất vọng ngữ và bất ẩm tửu. Người giữ được một giới trong năm giới, thì gọi là nhất phần Ưu-bà-tắc hoặc Ưu-bà-di, người giữ được hai giới thì
(*) "Phật học thường thức" của cụ Tâm Minh.

* Trang 152 *
device

gọi là nhị phần, cho đến người giữ được năm giới thì gọi là toàn phần Ưu-bà-tắc hoặc Ưu-bà-di. Nếu chưa phát nguyện giữ được giới nào, thì chỉ gọi là Tam quy Ưu-bà-tắc hoặc Ưu-bà-di.
          Phật chia ra có nhiều hạng như thế, vì biết rõ căn cơ và hoàn cảnh của tín đồ, lắm khi không cho phép giữ đủ ngũ giới. Lại nếu thọ giới mà không giữ thì có lỗi và mất cả lợi ích của việc giữ giới.
          Nên phân tích hành tướng của các giới thật rõ, để cho các tín đồ tùy sức mà thọ giới và sau đó giữ giới cho nghiêm túc.
          1. Giới bất sát: Giới bất sát của tín đồ là bất sát nhân, chớ không phải là bất sát sanh, nghĩa là tín đồ chỉ giữ giới không giết người, chứ không giữ giới không giết các sinh vật khác. Trước đây, nhiều người giảng nghĩa giới bất sát của tín đồ là bất sát sanh, thế là lầm qua Bồ-tát giới, một giới rất khó giữ, dành riêng cho những vị đã phát Bồ-đề tâm. Vẫn biết sát sanh cũng là điều ác, những trong sinh hoạt hàng ngày của tín đồ, khó mà giữ cho bất sát sanh được trọn vẹn, lại có người làm nghề nghiệp bắt buộc phải sát sanh hàng ngày. Đã thọ giới thì phải giữ trọn suốt đời. Vì tất cả mọi người, bất cứ nghề nghiệp gì, đều có khả năng thành tín đồ đạo Phật, nên không chỉ định bất sát sanh là giới của tín đồ. Chính vì giới

* Trang 153 *
device

Không giết tất cả các sinh vật rất khó giữ, nên các bậc Sa-di cũng chỉ giữ giới bất sát nhân, đối với các vị Tỳ-kheo thì giới bất sát chia làm hai phần: giới bất sát nhân thuộc đề tử khí, nếu phạm thì không được làm Tỳ-kheo nữa, còn giới bất sát sanh chỉ là một giới nhẹ, nếu cố ý phạm thì chỉ sám hối mà thôi. Vậy thì biết, giới của tín đồ là giới thấp nhất, chỉ có thể là giới bất sát nhân.
          Tất cả các pháp của Phật dạy đều là những phương tiện hóa độ theo căn cơ của chúng sanh, nên Phật thuyết giới lúc nào cũng có mức, vì nếu quá mức thì trở nên có hại. Hiện nay, trong hàng tín đồ, nhiều người thọ Bồ-tát giới mà chưa phát Bồ-đề tâm, nên rốt cuộc, chẳng những không giữ được tâm giới mà cũng không giữ được cả thân giới và khẩu giới. Không tự xét mà tự thọ giới, rồi không giữ. Như vậy thì phạm tội phỉ báng Pháp, rất có hại cho sự tu tiến.
          Tín đồ đạo Phật đã thọ giới bất sát nhân, thì suốt đời phải giữ cho trọn vẹn, tự mình không giết, không bảo người khác giết, cho đến khi thấy người khác giết người, cũng không được tùy hỷ, nghĩa là tán thán hoặc biểu đồng tình.
          Nhưng cũng có những trường hợp sau này, mà người đã thọ giới có thể giết người, mà không bị phá giới:

* Trang 154 *
device

          a. Vô ý mà giết người (vô tâm sát).
          b. Theo pháp luật mà giết người, như quan tòa theo pháp luật mà giết người, lên án tử hình (pháp luật sát).
          c. Vì chức vụ mà giết người, như những người thi hành án tử hình (chức nghiệp sát).
          d. Để ngăn chận sự giết người mà giết người, như giết quân xâm lược, để chúng khỏi tàn sát đồng bào (dĩ sát chỉ sát). Trong trường hợp này, giết người để cứu người là làm việc thiện, là giữ giới nghiêm chỉnh.
          2. Giới bất đạo: Giới bất đạo nghiêm cấm không được trôm cắp của cải người khác, hoặc lấy của cải người khác bằng những thủ đoạn sai trái.
          Giới này được phân tích như sau:
          a. Bất dữ thủ: nghĩa là người ta không vui lòng cho mình mà cứ lấy, như trộm cướp, ăn cắp v.v...
          b. Biển trá thủ: là phỉnh gạt, lừa  dối để lấy của.
          c. Uy hiếp thủ: là dùng thế lực uy hiếp để lấy của.
          d. Phi thời thủ: là chưa đến thời đã lấy của, như con lấy của cha mẹ trước khi được chia gia tài, người công chức tự ý lấy lương trước để chi dụng v.v...
          e. Phi nhận thủ: là không phải phận mình được lấy mà cứ lấy, như khi phân phối tiền của chưa đúng

* Trang 155 *
device

tỷ lệ, chưa công bằng hợp lý, thấy có lợi cho mình là mình cứ lấy.
          g. Vô công thủ: là không có công sức gì mà cứ lấy. Ngày xưa, thường giải nghĩa vô công thủ là làm việc dối trá mà cứ lấy tiền công, nhưng xét cho cùng, thì những người lao động, sống bằng mồ hôi của kẻ khác, đều phạm tội vô công chủ.
          Trong những trường hợp đã kể trên, người đã thọ giới hoặc tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy, hoặc thấy người khác lấy của mà còn tùy hỷ thì đều phạm giới. Còn nếu vô úy lấy lầm, hoặc theo pháp luật, vì chức vụ mà lấy, hoặc lấy lại những vật bị trộm cắp trả cho người chủ cũ thì không phạm giới.
          3. Cấm bất tà dâm: giới này ngăn cấm những sự dâm dục không chính đáng, phân tích ra có những hành tướng như phi phận dâm, phi thời dâm, phi xứ dâm, phi nhân dâm v.v... Nhưng cốt yếu là cấm không được làm việc dâm dục với vợ chồng người khác. Nếu tự mình làm hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm việc tà dâm mà tùy hỷ thì phạm giới.
          4. Giới bất vọng ngữ: Giới bất vọng ngữ của tín đồ là không được đại vọng ngữ, nghĩa là chưa ngộ đã bảo là ngộ, chưa chứng đã xưng là chứng. Vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt, là những điều ác, không

* Trang 156 *
device

nên làm hoặc ít làm chừng nào thì tốt chừng ấy, nhưng không quy định là giới của tín đồ, vì giới thì phải giữ suốt đời và mức của tín đồ thì khó giữ suốt đời không phạm những điều vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu và lưỡng thiệt.
          5. Giới bất ẩm tửu: Giới này ngăn cấm tín đồ không được uống rượu. Bốn giới trước thuộc về tánh giới, do bản chất của các điều sát, đạo, dâm, vọng là ác nên tín đồ đã thọ giới, thì cần phải tự ngăn mình suốt đời không được làm. Còn giới bất âm tửu thì thuộc về giá giới, vì bản tính của sự uống rượu không phải là ác, nhưng nó lại có thể tạo điều kiện cho người ta gây nên những điều ác. Vì thế, giới bất âm tửu không cấm tín đồ tuyệt nhiên không uống rượu mà chỉ cấm không được vô cớ hoặc mượn cớ uống rượu, nhưng dù trong những trường hợp được uống rượu, như trong có nghi lễ, tín đồ cũng không được uống nhiều quá, đến say sưa. Uống rượu thường xuyên hay dẫn đến say sưa, có hại cho trí thông minh và cho sự tu trì, nên trừ những trường hợp nhất định nếu tự mình uống, bảo người khác uống, hoặc thấy người khác uống rượu say sưa mà tủy hỷ, thì phạm giới. Ngược lại, tín đồ đạo Phật có thể uống một ít rượu để chữa bệnh, để chia vui cùng người khác, trong các nghi lễ là không phạm giới.

* Trang 157 *
device

          Trong lúc Phật tại thế, chỉ có rượu là chất độc làm hao tổn tinh thần, nên cấm không được dùng nhiều và vô cớ, hiện nay thì còn nhiều chất độc khác nguy hiểm hơn rượu, sinh ra nghiện ngập và tác hại nhiều đến trí khôn, như thuốc phiện, cô-ca-in v.v... Theo tinh thần của giới này, thì cũng cần cấm cả các thứ đó, như cấm rượu.
          Phân tích năm giới như trên, là phân tích theo đạo lý nhà Phật, đã có lý, có mức và có lợi nữa, vì căn cơ và hoàn cảnh của tín đồ, chỉ có thể giữ những giới thấp nhất, vì nếu đưa  lên quá mức, thì tối đại đa số người không dám thọ giới hoặc thọ giới rồi mà không giữ được trọn vẹn, mất cả lợi ích của việc trì giới.
          Hiện nay, mỗi khi có người thọ Tam quy, thì đều cho thọ ngũ giới, cả đến những em bé ba bốn tuổi cũng thế, đó là điều kết duyên với Phật pháp, tốt hơn là cần phải giảng cho nghe trước, thế nào là Tam quy, thế nào là ngũ giới, nêu ra những lợi ích của việc trì giới, để cho người ta suy nghĩ kỹ lưỡng, nếu có khả năng giữ bao nhiêu giới thì thọ bấy nhiêu, chứ không nên bảo gánh cả một chuyến, rồi cuối cùng không giữ được một giới nào cả.
          Lợi ích trên đường tu hành không phải ở chỗ thọ nhiều giới, mà ở chỗ thọ giới nào giữ giới ấy cho trọn

* Trang 158 *
device

vẹn.Một tín đồ chỉ thọ một vài giới trong Ngũ giới hoặc chỉ thọ Tam quy mà biết phát nguyện trọn đời gìn giữ không phạm, thì sẽ nhân đó, luôn luôn tưởng nhớ Tam bảo, luôn luôn tự xét mình và ngăn ngừa những tâm niệm không tốt. Do đó, được nhiều lợi ích trên đường tu tập. Ngược lại, nếu thọ giới nhiều mà giữ không nổi và tâm sinh không buông lửng, không tự giữ mình, không nghĩ đến Tam bảo, không nhớ đến nhân quả, nghiệp báo, nên đạo đức càng ngày càng suy kém.
          Giữ ngũ giới có ích lợi rất lớn, người giữ được trọn vẹn ngũ giới là một người tốt, được mọi người tin cậy, là một người luôn hướng về điều thiện, nên thường được sinh lên các cõi trời. Nếu với cái tâm trì giới hướng thiện đó, người tín đồ còn biết niệm Phật và phát nguyện vãng sanh, thì sẽ được vãng sanh về các cõi Tịnh độ. Dầu cho chỉ thọ một hoặc hai giới, dầu chỉ thọ Tam quy mà giữ trọn vẹn thì nhất định cũng trở lại làm người, không bị sa đọa.
                    III. Nghi truyền Tam qui Ngũ giới
                   (Niêm hương bạch Phật)
                   Nguyện đem lòng thành kính,
                   Gởi theo đám mây hương,
                   Phưởng phất khắp mười phương,

* Trang 159 *
device

                   Cúng dường ngôi Tam bảo.
                   Thề trọn đời giữ đạo,
                   Theo tự tánh làm lành,
                   Cùng pháp giới chúng sinh,
                   Cầu Phật từ gia hộ.
                   Tâm Bồ-đề kiên cố,
                   Chí tu học vững bền,
                   Xa bể khổ nguồn mê,
                   Chóng quay về bờ giác.
*
                   Đấng Pháp vương vô thượng,
                   Ba cõi chẳng ai bằng,
                   Thầy dạy khắp trời, người,
                   Cha lành chung bốn loài.
                   Qui y trọn một niệm,
                   Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
                   Xưng dương cùng tán thán,
                   Ức kiếp không cùng tận.
          Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá hiện vị lai, thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo. (1 lạy)
          Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Sa-bà giáo chủ, đại từ đại bi Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Đương lai hạ

* Trang 160 *
device

sanh Di-lặc tôn Phật, Đại trí Văn thù Sư lợi Bồ-tát, Đại hạnh Phổ hiền Bồ-tát, Linh sơn Hội thượng Phật, Bồ-tát. (1 lạy)
          Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương cực lạc thế giới, đại từ đại bi, A-di-đà Phật, Đại bi Quán thế âm Bồ-tát, Đại lực Đại thế chí Bồ-tát, Thanh tịnh Đại hải chúng Bồ-tát. (1 lạy)
          Tán: Tâm diên ngũ phận
                   Phổ biến thập phương
                   Hương nghiêm đồng tử ngộ chơn thường
                   Tỷ quán thiệt năng lường
                   Thoại ái tường quang
                   Kham hiến pháp trung vương
                   Nam mô Hương vân cái Bồ-tát (3 lần)
          Nam mô Đại bi hội thượng Phật Bồ-tát (3 lần).
          Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni:Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca rô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà đà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá, na ma bà dà. Ma phạt đặc nậu. Đát diệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca

* Trang 161 *
device

ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê tị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắc ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Bà đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra da, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án, tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.                    
*
          Đại từ đại bi thương chúng sanh
          Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
          Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
          Đệ tử chí tâm qui mạng lễ.
          Nam mô Thập phương Thường trú Tam bảo (3 lần).

* Trang 162 *
device

          Hôm nay có các đệ tử phát tâm quy y Tam bảo, tức là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng. Trước khi quy y các Phật tử hãy trang nghiêm, chí thành chí kính hướng lên ngôi Tam bảo để lãnh thọ phép Tam qui Ngũ giới.
          Phật dạy hàng cư sĩ đầu tiên nhập đạo là cần phải quy y Tam bảo và thọ trì 5 giới, có như vậy mới trở thành một người Phật tử, xứng đáng đi theo con đường chánh đạo mà Phật chỉ dạy.
          Vậy qui y Tam bảo là gì? Qui y Tam bảo là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng. Nói chung là Tam qui: Phật là Phật bảo, Pháp là Pháp bảo, Tăng là Tăng bảo. Chữ bảo có nghĩa là quí báu.
          Người ta ở đời thường lấy vàng bạc, lấy tiền của, lấy châu ngọc làm quí báu. Và có người lấy tích phước,lấy ruộng đất làm quí báu, và cũng có người lấy con cháu làm quí báu. Tùy theo trình độ, tùy theo sự nhận thức của mỗi người mà lựa chọn từng loại báu cho riêng mình. Có trường hợp người thì cho thứ này là quí báu, kẻ cho thứ khác là quí báu. Nhưng các thứ báu đó đều là cái báu của thế gian, cái báu đó chỉ giúp cho ta nuôi sống xác thân, giúp cho ta sống an lành trong hiện tại. Ví dụ: vàng là vật quí báu ai cũng ham cũng thích cả, nhưng vàng chưa chắc đã đem lại an vui và hạnh phúc cho

* Trang 163 *
device

ta. Hằng ngày chúng ta mong mỏi có được vàng đã là khổ, khi có được vàng rồi giữ cho khỏi bị mất cũng khổ, khi vàng mất đi lại càng khổ hơn, huống chi khi đi giữa một bãi tha ma, nếu họ biết mình có vàng thì hãy coi chừng, có khi mất mạng như chơi. Đó là một sự nguy hiểm ghê gớm, lỡ nếu bị một tên cướp nào đó quyết lấy thì nó giết mạng mình liền để cướp vàng.
          Lại có những lúc ở những nơi đói kém không kiếm ra được một bát gạo, bấy giờ đem một lượng vàng đổi lấy một lon gạo hay một lon bắp chưa chắc họ đã đổi, thì vàng khi ấy không có giá trị bằng một bát gạo hay một lon bắp. Vì vàng lúc ấy không thể ăn được, không thể nuôi sống được, không thể làm cho no bụng được mà chỉ có gạo, chỉ có bắp mới có thể nuôi sống được. Vậy cho biết vàng khi thì quí khi thì không và cái quí đó không chắc chắn lắm. Cho nên vàng bạc châu báu tuy là quí, nhưng không chắc chắn, không phải lúc nào cùng đem lại an vui lợi lạc cho mình cả. Có trường hợp vì tranh giành vàng bạc mà đâm nhau gây án mạng, như vậy vì vàng mà gây ra tai họa chứ không phải vàng hoàn toàn đem lại an vui.
          Khi đức Phật còn tại thế, có một lần Ngài cùng A-nan đi khất thực về, đi ngang qua một cánh đồng, Ngài thấy trong bụi có một cục vàng rất to và Ngài

* Trang 164 *
device

quay lại nói với A-nan : Rắn độc đó A-nan. Tôn giả A-nan nhìn vào thấy cục vàng và thưa: dạ bạch Thế tôn đó là rắn độc. Có một anh nông phu đi theo sau lưng Thế Tôn không biết rắn độc như thế nào, mà hai thầy trò đức Phật, thầy đi trước ngó vào trong bụi nói rắn độc, trò đi sau cũng nhìn vào trong bụi nói rắn độc, mình phải tới đó coi thử rắn độc như thế nào? Anh ta tới lấy một cục vàng rất lớn nằm một bên gốc cây và nghĩ rằng: chắc ngoài cục vàng còn có một con rắn độc nằm trong đó nữa. Anh ta lấy cây tới rình, anh soi, anh đâm, anh chạy bên này bên kia xem xét cũng thấy không có con rắn độc nào cả, mà chỉ thấy một cục vàng thôi. Nhưng tại sao thầy trò ông Phật nói có rắn độc. Khi đó anh nghĩ: À, té ra hai ông này đi tu nên không biết chi cả, vàng ta sờ sờ ra đó mà nói là rắn độc, mấy ông thầy tu u mê quá, vàng mà nói rắn độc, và anh ta lượm đem về.
          nhưng nếu đem về ban ngày thì sợ thiên hạ thấy, họ dị nghị nên anh phải chờ đến tối mới đem về. Đến tối bà vợ ở nhà nấu cơm đợi sẵn mà chưa thấy chồng về cũng hơi nóng ruột, đến khi thấy chồng về mừng quá mới mắn yêu chồng: Chà, sao ông bây giờ mới về, bị ai bắt chắc! Ông chồng nói với vợ: Chỉ có vàng mới bắt tôi được chứ ai mà bắt được. Thế là anh đem vàng vào, hai vợ chồng vui mừng kêu lên: Lớn quá, lớn quá, sung sướng quá. Hai vợ chồng tối đó quên ăn

* Trang 165 *
device

quên ngủ, không ăn đã no, không uống cũng thấy đã khát, không cần ngủ mà vẫn không thấy mệt, cứ tính toán: Mấy lâu nay không có vàng thì làm lụng cực khổ, nay có vàng thì nên đổi đời một chút. Lâu nay không có vàng đi bộ mệt quá, nay có vàng nên mua một chiếc xe mà đi, mua một cái nhà mới để ở. Hai vợ chồng cứ tính đi tính lại mãi và sáng hôm sau hai vợ chồng đi quanh xóm coi có ai bán nhà, bán xe để mua. Trong xóm lấy làm lạ, sao bữa nay hai vợ chồng không đi làm mà sáng sớm đã đi  hỏi mua nhà mua xe, chiều cũng lại đi  hỏi mua xe mua nhà! Họ lấy làm lại vì nhà anh ta từ trước tới nay đầu tắt mặt tối, ăn bữa no bữa đói, thiếu thốn như vậy mà cả tuần nay không đi làm mà cứ đi hỏi mua xe mua nhà là có vấn đề chi đây.
          Họ đi báo quan, quan cho lính về bắt lên huyện để tra hỏi, và sai lính đến nhà xét. Khi khám thì thấy trong nhà anh ta có một cục vàng rất lớn nên quan đã bắt anh ta giam lại. Nằm trong lao vừa lạnh vừa đói, anh mới hồi tưởng lại, lẽ ra được vàng rồi thì ở nhà lầu sung sướng, có vàng rồi thì ăn no mặc đẹp, ai ngờ được cục vàng thì lại ăn cơm hẩm cá thiu, nằm nhà lao như thế này!
          Mà nhớ lại lời đức Phật và A-nan nói mấy bữa trước và thấy cảm phục quá và anh ta la lớn: "Rắn độc Thế Tôn, rắn độc A-nan". Anh cai ngục lấy làm

* Trang 166 *
device

lạ, không biết Thế Tôn và A-nan có thù oán gì với anh ta mà anh nói Thế tôn là rắn độc, A-nan là rắn độc.    
          Quan cho đòi lên tra hỏi và anh ta mới thuật lại câu chuyện A-nan và Thế Tôn nói với nhau như vậy. Và anh nói tiếp: Giờ đây tôi mới tin và ngộ câu nói của Phật và A-nan. Ngài đi ngang thấy cục vàng nói rắn độc, đệ tử Ngài là A-nan cũng nói rắn độc mà tôi không tin, tôi nói đó là vàng chứ đâu phải rắn độc. Giờ nằm trong tù tôi mới thấy đó là rắn độc. Tôi ở nhà dù có cực một chúc cũng có cơm ăn áo mặc, bây giờ nằm trong lao lạnh lẽo cực khổ như thế này tôi mới thấy thật là rắn độc, tôi mới tỉnh ngộ cái lời dạy của đức Phật.
          Như thế cho biết vàng đâu phải lúc nào cũng đem lại an lạc cho cuộc sống, vàng là báu nhưng chưa thật là báu. Ngoài vàng ra, có một thứ đem lại an lạc cho ta còn hơn cả báu nữa chính là lời dạy của đức Phật. Lời dạy của Ngài đem lại cho mọi người an lạc, đó mới là vật báu.
          Giáo pháp của Phật mở mắt mở lòng cho ta để ta thấy rõ đâu là thiện, đâu là ác, để cùng nhau xây dựng hạnh phúc an lạc cho mình và cho người, đó mới là vật báu. Các vị xuất gia Chơn Tăng tu hành truyền bá Chánh pháp của Phật cho chúng ta nghe đó mới

* Trang 167 *
device

thật là vật báu. Cho nên Phật gọi là Phật bảo, Pháp gọi là Pháp  bảo, Tăng gọi là Tăng bảo. Vì là báu nên chúng ta bây giờ cũng muốn nương theo ba ngôi báu đó để tu tập, để được an lành, cho nên mới phát nguyện qui y Phật, phát nguyện qui y Pháp, phát nguyện qui y Tăng.
          Vậy qui y là gì? Qui là trở về, Y là nương tựa, tức trở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng chứ không  nương tựa đâu nữa. Trước đây nhiều khi cảm thấy bất an, đi đâu ta cũng phải ra gốc cây ta vái, hay khi bị đau ta đi tìm ông nọ bà kia để xin keo, sai đồng sai phan để trị cho ta mau lành. Trước kia cái tâm ta hay sầu não không biết đi tìm ai để giải thoát phiền não, bây giờ đã qui y, hễ có điều gì bất trắc, hễ có điều gì phiền não thì ta hướng về đức Phật để nương tựa, tu theo giáo lý của Ngài mà giải thoát. Thế thì chúng ta theo Phật là theo một cách sáng suốt, chứ không phải theo một cách mù quáng. Thế gọi là qui y.
          Như vậy các Phật tử đã nghe rõ, qui y Phật là thế nào, qui y Pháp là thế nào, và qui y Tăng là thế nào.
          Bây giờ trước khi qui y Tam bảo, ta cần phải sám hối để cho thân, khẩu, ý của chúng ta được thanh tịnh hầu thọ lãnh giới Tam qui cho được viên mãn. Để cho được thanh tịnh, các Phật tử hãy chắp tay đọc lời cầu xin sám hối trước đức Phật:

* Trang 168 *
device

          Các Phật tử. (Dạ!) Trước khi muốn qui y Tam bảo, các người phải phát lồ sám hối. Chỉ có pháp sám hối thâm tâm các người mới  được thanh tịnh, các người mới có thể đón nhận giới pháp cao cả của chư Phật. Vậy các người hãy vận hết tâm thành sám hối để dứt trừ tất cả tội chứng từ vô thỉ đến nay, làm cho các người trôi lăn mãi trong sáu đường ác, chịu luân hồi quả báo. Vậy các người hãy nói theo tôi:
          Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp,
          Đều do vô thỉ tham, sân, si
          Từ thân, miệng, ý phát sanh ra
          Đệ tử chí thành xin sám hối. (3 lần)
          Sau khi sám hối xong, bây giờ các đệ tử hãy chấp tay ngang ngực, chí thành chí kính nói theo lời tôi hướng dẫn từng câu một để qui y Tam bảo:
          1.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Phát nguyện
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật
          2.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Phát nguyện

* Trang 169 *
device

                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
          3.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Phát nguyện
                   Xin trọn đời qui y Tăng
          4.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật
          5.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
          6.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Tăng
          7.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật

* Trang 170 *
device

8.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
          9.       Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Tăng
          10.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật
                   Là đấng Giác ngộ hoàn toàn
                   Từ bi viên mãn
                   Cứu độ chúng sinh
                   Thoát vòng đau khổ.
          11.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
                   Lời dạy cao cả
                   Giải thoát của đức Phật.
          12.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành

* Trang 171 *
device

                   Xin trọn đời
                   Qui y Tăng
                   Là các bậc Bồ-tát, La-hán
                   Các bậc Thánh tăng
                   Tu hành theo Phật.
          13.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật
                   Là đấng Giác ngộ hoàn toàn
                   Từ bi viên mãn
                   Cứu độ chúng sinh
                   Thoát vòng đau khổ.
          14.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
                   Lời dạy cao cả
                   Giải thoát của đức Phật.
          15.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Tăng

* Trang 172 *
device

                   Là các bậc Bồ-tát, La-hán
                   Các bậc Thánh Tăng
                   Tu hành theo Phật.
          16.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Phật
                   Là đấng Giác ngộ hoàn toàn
                   Từ bi viên mãn
                   Cứu độ chúng sinh
                   Thoát vòng đau khổ.
          17.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Pháp
                   Lời dạy cao cả
                   Giải thoát của đức Phật.
          18.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Qui y Tăng
                   Là các bậc Bồ-tát, La-hán
                   Các bậc Thánh Tăng
                   Tu hành theo Phật.

* Trang 173 *
device

          19.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Phật rồi,
          20.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Pháp rồi,
          21.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Tăng rồi,
          22.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Phật rồi,
          23.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Pháp rồi,
          24.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành

* Trang 174 *
device

                   Xin trọn đời
                    Phát nguyện qui y Tăng rồi,
          25.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Phật rồi,
          26.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Pháp rồi,
          27.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Phát nguyện qui y Tăng rồi,
          28.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Đã qui y Phật rồi
                   Đời đời kiếp kiếp
                   Không qui y trời thần quỉ vật.
          29.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành

* Trang 175 *
device

                   Xin trọn đời
                   Đã qui y Pháp rồi
                   Nguyện đời đời kiếp kiếp
                   Không qui y ngoại đạo tà giáo.
          30.     Đệ tử chúng con
                   Hôm nay chí thành
                   Xin trọn đời
                   Đã qui y Tăng rồi,
                   Nguyện đời đời kiếp kiếp
                   Không qui y thầy tà bạn ác.
*
          Nam-mô Chứng Minh sư Bồ-tát. (3 lần)
          Nhất tâm đảnh lễ thập phương thường trú Tam bảo tam bái (3 lạy)
          Hồ quì hiệp chưởng. (Quì xuống)
          Các Phật tử! (Mô Phật)
          Như vậy là các Phật tử đã qui y Tam bảo rồi, chính thức làm người con của đức Phật, từ nay là người con chính thức trong gia đình của Phật, luôn luôn nhớ đến Tam bảo, Phật Pháp Tăng mình đã qui y suốt đời, chứ không phải chỉ qui y trong ngày này ngày khác, không phải qui y ở tại đây mà ở tại chỗ khác không. Một lần qui y Phật là thành đệ tử Phật

* Trang 176 *
device

suốt đời, cũng như cha mẹ mình sinh mình ra tức là sinh ra suốt đời. Thành một đời chỉ có cha mẹ sinh ra một lần chứ không có nhiều cha mẹ sinh. Khi làm đệ tử đã qui y với Phật cũng chỉ có Tam bảo là cha mẹ suốt đời của mình, chứ không có nhiều cha mẹ khác. Giữ cho được Tam qui như vậy tức là giữ lòng chánh tín đối với Tam bảo, có một lòng tin thẳng thắn, đứng đắn. Sau khi qui y đức Phật còn dạy hàng Phật tử tại gia thọ trì năm điều răn cấm. Năm điều răn cấm này là cơ bản của đời sống đạo đức. Dầu là người tại gia, người xuất gia, người theo Phật, người không theo Phật cũng cần sống có đạo đức. Không sống có đạo đức thì không còn nhân phẩm, không còn là người, cho nên sống đạo đức là một điều hết sức cần thiết. Mà đẹ tử của Phật sống đạo đức là cơ bản có trong điều răn cấm.
          Trước hết là không sát sinh, vì sao Phật chế ra giới nầy? Bởi vì đức Phật dạy rằng: Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ chết, vậy lấy lòng mình suy lòng người chớ giết, chớ bảo giết. Vì tâm từ bi thương yêu, thương yêu cái sự sống của tất cả mọi người mà phát cái tâm từ bi, không giết hại trước hết là đồng loại, cố gắng giữ gìn không đem tâm độc ác, mưu mô hung dữ, để mà giết hại mạng sống của kẻ khác. Tội sát sanh là tội lớn hơn bất cứ tội gì khác, bởi tội khác chỉ làm cho người ta đau khổ, chứ tội giết làm cho

* Trang 177 *
device

người ta mất mạng luôn. Do đó điều răn cấm trước tiên là cấm sát sinh. Đối với mọi người phải sống một cuộc sống hiền hòa, không đem tâm mưu hiểm mong cho họ chết để cho mình sống. Đó là không sát sinh. Đối với hàng cư sĩ thì 1 tháng 2 ngày chay hay 4, 6 ngày... đó cũng là một cách thể hiện cái tâm từ bi không sát sinh.
          Với giới không sát sinh, các người có giữ được không? (Mô Phật, giữ được.)
          Thứ hai là không trộm cắp. Trộm cắp là lấy của người khác làm của mình. Ai có của cải cũng mong giữ cho toàn, chứ không ai muốn mất mát. Mình không muốn mất mát thì người khác cũng không muốn mất mát, thế mà đem cái tâm gian tham lấy của người ta là có tội. Nên cần phải giữ cái giới không trộm cắp.
          Với giới không trộm cắp, các người có giữ được không? (Mô Phật, giữ được.)
          Thứ ba là không tà dâm. Đối với hàng cư sĩ thì còn có lập gia đình, nhưng lập gia đình phải theo phép tắc, luật lệ của xứ sở đó, không được trái với luật lệ. Làm trái với luật lệ là phạm vào tội tà dâm. Đó là điều cấm kỵ, điều  xấu không nên làm. Cho nên người Phật tử cố gắng giữ.

* Trang 178 *
device

          Với giới không tà dâm, các người có giữ được không? (Mô Phật, giữ được.)
          Thứ tư là không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc, không nói vu khống, không nói hung dữ. Cái miệng của mình nói ra rất dễ, nhưng nói cho tử tế, cho hiền lành rất khó. Tục ngữ có câu:
                    Lời nói chẳng mất tiền mua
                   Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
          Cũng vì lẽ đó, giới không tu sẽ ác miệng, sẽ nói hung ác, sẽ nói thêu dệt, sẽ nói đâm thọc, sẽ nói vu khống, những lời nói ấy chỉ đem lại sự đau khổ cho người khác. Khi đã đem lại sự đau khổ cho người khác, chính mình cũng sẽ mang lại cái quả báo đau khổ đó, không chạy đi đường nào hết. Cho nên không nói dối, nói thêu dệt, đâm thọc, vu khống, hung dữ mà tập nói hòa thuận, thương yêu, dịu ngọt, hiền lành, đứng đắn, đó cũng là một cách tu. Tu cái khẩu nghiệp của mình cho được thanh tịnh.
          Với giới không nói dối, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc, không nói vu khống, không nói hung dữ, các người có giữ được không? (Mô Phật, giữ được.)
          Thứ năm là không được say sưa rượu chè. Xã hội ngày nay bị cái nạ xì ke ma túy nó làm điên đảo, nó

* Trang 179 *
device

làm sai hại, làm khốn đốn bao nhiêu gia đình. Nếu một người Phật tử sa vào cái cảnh say sưa rượu chè xì ke ma túy thì tư cách, nhân phẩm của mình không còn nữa thì làm sao bình tĩnh nhận ra cái điều lành mà theo, điều dữ mà tránh. Cho nên đức Phật dạy giới thứ năm là không được say sưa rượu chè. Nếu ở đời còn vì cái xã giao, cái tập quán, cái lễ nghĩa thì cũng phải hạn chế hết sức, không để cho rượu chè làm điên đảo tâm tư.
          Với giới không say sưa rượu chè, các người có giữ được không? (Mô Phật, giữ được.)
          Đối với năm cấm giới này, các Phật tử hãy cố gắng phát nguyện đối trước Tam bảo để thọ trì để giữ gìn để tập luyện. Thọ trì giữ gìn 5 điều cấm giới thì sẽ sống được một đời sống có đạo đức, có nhân phẩm, tức là sống lợi mình, lợi người, tự giác giác tha như đức Phật đã từng dạy.
          Bấy nhiêu lời các Phật tử hãy ghi nhớ!
          Y giáo phụng hành (Phật tử đồng thanh nói).
          Chí thành đảnh lễ tam bái. (3 lạy)
                   Đệ tử kính lạy
                   Đức Phật Thích-ca,
                   Phật A-di-đà,
                   Thập phương chư Phật,

* Trang 180 *
device

                   Vô thượng Phật pháp
                   Cùng thánh hiền Tăng,
                   Đệ tử lâu đời lâu kiếp,
                   Nghiệp chướng nặng nề,
                   Tham giận kiêu căng,
                   Si mê lầm lạc.
                   Ngày nay nhờ Phật,
                   Biết sự lỗi lầm,
                   Thành tâm sám hối,
                   Thề tránh điều dữ,
                    Nguyện làm việc lành,
                   Ngửa trông ơn Phật,
                   Từ bi gia hộ,
                   Thân không bệnh tật,
                   Tâm không phiền não;
                   Hằng ngày an vui tu tập,
                   Pháp Phật nhiệm mầu,
                   Để mau ra khỏi luân hồi,
                   Minh tâm kiến tánh,
                   Trí tuệ sáng suốt,
                   Thần thông tự tại
                   Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng;
                   Cha mẹ, anh em,
                   Thân bằng quyến thuộc,

* Trang 181 *
device

                   Cũng tất cả chúng sinh,
                   Đều trọn thành Phật đạo.
*
          KINH LÒNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
          Bồ-tát quán tự tại khi đi vào trí tuệ cùng tột sâu thẳm, soi thấy năm uẩn đều không vượt mọi khổ ách.
          Này Xá-lợi tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
          Này Xá-lợi tử, tướng không của các pháp không sinh không diệt, không sạch không nhơ, không thêm không bớt. Cho nên trong tánh không, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, tiếng, mùi, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có vô minh hết; cho đến không có già chết cũng không có già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo, không trí cũng không đắc, vì không sở đắc.
          Bồ-tát nương trí tuệ cùng tột nên tâm không ngăn ngại; vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo Niết-bàn.

* Trang 182 *
device

          Chư Phật ba đời nương trí tuệ cùng tột nên chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
          Thế nên biết trí tuệ cùng tột là thần chú lớn, là thần chú sáng lớn, là thần chú vô thượng, là thần chú không gì sánh bằng, dứt trừ hết thảy khổ ách, chơn thật không hư, cho nên nói câu thần chú trí tuệ cùng tột; liền nói thần chú rằng: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề sa bà ha.
*
THẦN CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI
          Li bà li bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha ra đế, tì lê nễ đế, ma ha dà đế, chân lăng càn đế, sa bà ha.
*
          Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng.
          Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.
          Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
                    Nguyện đem công đức này
                   Hướng về khắp tất cả
                   Đệ tử và chúng sanh
                   Đều trọn thành Phật đạo.

* Trang 183 *
device

IV. Qui Y

(áp dụng cho trường hợp đặc biệt bất chợt khi có một vài Phật tử đến xin qui y)
          Nam mô thập phương thường trú Tam bảo tác đại chứng minh.
          Hôm nay có các thiện nam tín nữ xin tôi qui y, thành tâm đến quỳ trước đài sen Tam bảo, đảnh lễ cúng dường, phát nguyện thọ Tam qui, Ngũ giới để thành người đệ tử Phật. Thiết nghĩ các thiện nam tín nữ này thân tuy giữa đời, nhưng có tâm hướng về đạo. Những sự lòng trần mê muội, chẳng rõ thế sự như phù vân, tranh ngã tranh nhân tạo ra bao điều tội lỗi, lại e trí mọn tối tăm, lầm tưởng vinh hoa như thiết thạch, tham danh tham lợi, gây nên nhiều việc đảo điên. Bể nghiệp mênh mông, bờ chơn mờ mịt. Vì vậy, hôm nay xin chí thành qui đầu Tam bảo, thọ trì năm giới, cầu mong một niệm hồi quang, muôn lành trọn đủ, sống theo hạnh người từ bi, trau dồi trí tuệ, gọt bỏ lòng trần, vun bồi cội phúc, hiện tại thân tâm an lạc, tương lai thoát khỏi u đồ, phước tuệ trang nghiêm, trước độ được thân mình, sau đền báo được bốn ân, lợi lạc ba cõi. Các thiện nam tín nữ này sau khi qui y ghi dấu ngày qui y như sau: tên... ... ... Pháp danh ... ... ...

* Trang 184 *
device

          Ngưỡng cầu Tam bảo từ bi chứng giám, gia hộ các đệ tử thiện nguyện viên thành,  đạo tâm tăng tấn.
*
          Hôm nay chúng con tên... ...
          Đã được qui y Phật, thề trọn đời không qui y trời thần quỉ vật.
          Đã qui y Pháp, thề trọn đời không qui y ngoại đạo tà giáo.
          Đã qui y Tăng, thề trọn đời không qui y thầy tà bạn ác.
          Đệ tử chúng con đã qui y Tam bảo Phật pháp tăng, xin nguyện suốt đời noi theo đức Phật, dưỡng tánh tu tâm, tránh dữ làm lành, trau dồi đức hạnh, mở mang trí tuệ. Điều ác độc phi nghĩa không nói, việc ác độc phi nghĩa không làm, mở rộng lòng từ, thương người giúp vật. Tu tập 5 điều giới cấm là không sát sanh, không tà hạnh trong các dục, không nói dối, nói độc ác, nói vu khống, không say đắm rượu chè. Thành tâm ủng hộ Phật pháp đem lại ích lợi an vui cho mọi người mọi vật.
          Ngưỡng cầu Tam bảo chứng minh từ bi gia hộ cho chúng con, soi sáng cho chúng con, dắt chúng con từ chỗ tối tới chỗ sáng, dắt chúng con từ chỗ mê mờ

* Trang 185 *
device

đến chỗ ngộ đạo, từ chỗ khổ đến chỗ vui. Bao nhiêu tai chướng đều tiêu trừ, hết thảy căn lành được thành tựu.
          Ngưỡng mong mười phương chư Phật chứng minh gia hộ cho chúng con.
*
*   *

* Trang 186 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo