LOGO VNBET
NHẬN THỨC MỘT SỐ NÉT
TRONG LỐI GIÁO DỤC CỦA PHẬT ĐÀ

 
          Từ đời sống cá nhân đến hoàn cảnh xã hội được đổi thay tốt xấu đều do vẫn đề giáo dục mà ra.
          Vậy giáo dục là sự đào luyện con người để hợp lý hóa sự sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất trong đời sống chung. Con người muốn tiến hóa hợp lý và siêu việt trên tất cả, cần phải có một sự giáo dục hoàn mỹ, nghĩa là chính nó có thể tiêu diệt, ngăn đón mầm mống xấu đang và sẽ xảy ra đối với xã hội và kiến tạo một xã hội tốt hơn cho mọi người.
          Xưa nay trong lịch sử vấn đề giáo dục đã có nhiều chủ trương sai khác, nhiều sự tranh chấp tai hại, như giáo dục quân quyền, giáo dục nhân quyền, giáo dục thần quyền, giáo dục vật quyền... Mỗi chủ trương lập luận tùy nhận thức của mình chứ ít ai đứng ra ngoài phạm vi cái Ta để nhìn lại, kiểm xét lập trường của mình cho rốt ráo.
          Vậy lối giáo dục của Phật là gì? Ngày xưa đức Phật Thích-ca không nói gì ngoài mục đích cứu khổ cho chúng sanh. Ngài chỉ nêu lên những giáo lý, khế lý (đúng sự thật khách quan), sống khế cơ (hợp tánh

* Trang 232 *
device

cá biệt) để giáo dục chúng sanh, khuyên bỏ đời sống mê mờ, chật hẹp để sống đời giác ngộ giải thoát. Trước ai hết, Ngài là một nhà đại giáo dục thế giới, chỉ chú trọng căn bản cuộc đời tốt xấu để đặt nguyên tắc giáo dục, đinh ninh chỉ rõ, cương quyết phá trừ những nguồn gốc của đen tối, phân rõ tham lam điên đảo, nghĩa là chú trọng cải tạo kết quả, mặc dù Phật thường dạy " đời là bể khổ", nhưng cốt để tìm nguyên nhân, tát cạn biển khổ của đời. Vì thế, đức Phật trở nên đáng Đạo sư của muôn loài muôn vật vậy.
          Trải gần ba ngàn năm lịch sử, cuộc diện nhân sinh đã mấy lần thay đổi, bản đồ thế giới đã mấy lần sửa lại xóa đi, nhưng tử tưởng hành động, giáo lý của đức Phật vẫn còn được tôn sùng, quy ngưỡng. Cận lai ông  Vĩ Nhĩ Tư, tác giả cuốn Thế giới sử cương có chép rằng: "Giáo nghĩa căn bản của đức Cù Đàm (Phật) đến nay nghiên cứu cùng tột gốc ngọn, mới biết là đơn giản rõ ràng, khế hợp quan niệm đời nay. Thật là một sự thành công của lý trí siêu việt, quán suốt xưa nay, không cần phải biện luận nữa". Chúng ta hãy tìm hiểu thêm sự thành công ấy như thế nào?
          I. Chứng minh chân lý
          Ở đây chúng tôi xin chứng minh về mặt chân lý để làm sáng tỏ vấn đề: Đức Phật Thích-ca khi chưa xuất gia và sau khi xuất gia năm năm, đã từng chịu sự

* Trang 233 *
device

giáo dục của đương thời, suy tìm kinh nghiệm, Ngài thấy còn nông cạn, sai lầm, chưa giải quyết được thực tướng của nhân sinh vũ trụ, bèn tự mình thực nghiệm, tĩnh tọa tham thiền dưới gốc cây Bồ-đề và đã chứng ngộ chân lý.
          1. Vũ trụ không thật, các pháp bình đẳng.
          Nếu chúng ta còn mê lầm cố chấp các pháp là thật hữu, thì ngược lại đức Phật đã chứng ngộ rõ ràng, thấy mỗi hiện tượng trong vũ trụ, chẳng qua là những huyễn tưởng của các nhân duyên biến chuyển thuận ứng hoặc phản ứng với nhau mà hiển bày. Đứng về mặt thời gian thì chỉ thấy thương tạo không ngừng từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại cho đến vị lai.
          Đứng về mặt không gian thì chỉ thấy phổ biến liên quan, từ trong ảnh hưởng ra, từ ngoài chi phối vào, một quan hệ tất cả,  tất cả quan hệ một. Nhỏ từ một việc trong nhân sự giới, một vật trong tự nhiên giới vậy, lớn ra toàn thể vũ trụ cũng như vậy, rốt ráo rỗng không, trung tâm chẳng có chỉ là cá tánh thật hữu, tuy vẫn tương quan tương duyên mà trình bày thiên hình vạn trạng. Đó là chơn lý bình đẳng của vũ trụ, trong kinh thường gọi là "pháp nhĩ như thị, vô thỉ vô chung" vậy.

* Trang 234 *
device

          2. Vạn hữu duyên khởi, nhân sinh tự do.
          Không một sự vật gì thật có sinh ra nếu không do sự quan hệ giữa không gian và thời gian tạm hiện, trong đó mối quan hệ chủ lực là tâm lực. Cho nên muốn thực hiện một thế giới cực lạc thì điều đáng chú ý nhất, cần làm trước hết là phải cải huấn tư tưởng, hành động nơi tâm lý con người. Tâm lực đã là chủ lực tất cả, nên tâm lý hành vi của người tốt lành thì nhân sinh sẽ được giải thoát. Như vậy con người có tự do, lại có năng lực tạo thành tự do cho mình, chứ không phải ỷ lại giao phó cho ai được.
          Người sở dĩ thành người, người cùng với người trên phương diện thời gian vẫn có tính cách tương tục, từ xưa đến nay, cũng có tính cách đặc biệt phổ biến cả bốn bể năm châu không khác với sự quan hệ thích ứng một pháp. Đó là quan hệ đỗ tương với nhau mà kinh Hoa Nghiêm gọi là pháp giới trùng trùng duyên khởi. Cho nên mỗi cá nhân đối với gia đình đoàn thể, xã hội, dân tộc cần phải lãnh lấy một trách nhiệm tương ứng hầu làm tròn thiên chức của mình và ngược lại. Đây đối với kia, kia đối với đây, hỗ trợ tương nhiếp như ánh sáng muôn ngọn đèn trong một gian nhà tuy dung hợp nhau mà đồng thời mỗi ngọn đèn có một cá thể riêng, không hề xâm loạn. Lý trí Phật Đà triệt chứng lẽ ấy, cũng thấy mọi người đồng

* Trang 235 *
device

có lý triệt chứng như Ngài, nên không những Ngài tự tin, Ngài còn làm chủ được vũ trụ. Ngài dạy: " Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đã có Phật tánh đều có thể thành Phật". Nếu ai nấy đồng có sức tự tin ấy, đồng một tâm đức ấy, tiến triển hợp lý thì thanh tịnh Phật quốc khó gì không hiện hữu giữa nhân gian.
          II. Quy mô giáo dục
          Đức Phật sau khi chứng ngộ chân lý rồi không an hưởng tịnh lạc một mình. Quốc độ uế trược này còn chứa đầy những chúng sanh đau khổ, thì công hạnh giác tha của ngài vẫn chưa được dừng nghỉ. Vì thế, ngài đã tuyên dương giáo pháp giải thoát, ánh minh quang tỏa đầy 10 phương đề cảm hóa người vô lượng vô biên.
          Tìm hiểu sâu vào sự giáo hóa ấy, chúng ta nhận thấy có mấy phương pháp sau đây:
          1. Trí thức giáo dục
          Chơn lý của đức Phật đã giác ngộ, đem giác ngộ cho mọi người cũng không ngoài ý muốn cho mọi người đồng giác ngộ chơn lý ấy. Tuy vậy, chơn lý là chơn lý, chỉ do tâm đắc chứ không do ngoại truyền; đức Phật dù Ngài có dùng ngôn ngữ khéo léo đến đâu cũng là lời nói nắm gió bắt mây, không sao chỉ

* Trang 236 *
device

ngay sự thật được, nên trong sự giáo dục của đức Phật, không nói ngay đến chân lý, mà dùng hai phương diện sau đây để giáo dục.
          phương diện giáo dục thì chữ "già" để ngăn đón, phương diện tích cực thì cũng chữ 'hiểu" để tượng trưng. Nếu người ta chấp nhận Muôn hữu thật thể luận, thì đức Phật phủ nhận khiến mọi người giác ngộ cái diệu lý "các pháp tánh không". Trái lại, khi người ta chủ trương Hư vô đoạn diệt luận, thì đức Phật tích cực khẳng định, bởi các pháp đều có tự thân làm nhân, mọi cái khác làm duyên, mà hiện tồn tại, khiến mọi người giác ngộ cái diệu lý "Muôn vật duyên khởi". Tóm lại, chấp không hay chấp có đều là bức màn ngăn cách giữa lý trí và chân lý, cho nên đức Phật không chủ trương theo hai lối đó để giáo dục người.
          2. Đạo đức giáo dục
          Đạo đức giáo dục phải căn cứ trên trí thức giáo dục mới có ý nghĩa. Phàm hành vi của con người nếu không thuộc về thiện, ắt thuộc về ác, do bao nhiêu hành vi ấy của nhân loại sẽ hình thành phong tục, tập quán, chế độ, pháp luật của xã hội: Nhiều hành vi ác hợp thành một xã hội mất cả tự do, đi xa lẽ phải;

* Trang 237 *
device

nhiều hành thiện hợp lại thành một xã hội an lạc tiếp cận với chân lý.
          Nhưng vấn đề đạo đức hiện nay lấy gì làm tiêu chuẩn. Cái mà thời xưa gọi là đạo đức thì nay không phải, có cái thời nay bảo là đạo đức thì xưa cho là không phải, vấn đề này đức Phật đã giải quyết rất rõ ràng. Ngài lấy hành vi con người phối hợp với chân lý như trên, nếu hành vi thuần lý là thiện, là đạo đức, trái lại nghịch lý là ác, là không đạo đức. Vũ trụ nhân sinh là một hợp thể, tuy đồng thời nhưng mỗi thứ có một cá tính đặc biệt, cho nên mỗi khi người ta phát động một hành vi gì, cũng phải có đủ năng lực tự giác và giác tha, để phát huy tự do an lạc cho các nhân và toàn thể, đưa đời sống nhân sinh đến gần với giác ngộ giải thoát, mới gọi là chơn đạo đức. Và có giáo dục đạo đức như vậy thì trí thức giáo dục ở trên mới khỏi bị chê là nói suông.
          3. Tinh thần giáo dục
          Tức là thực nghiệm tâm lý: Đây là trung tâm điểm của giáo dục Phật đà không thể xem thường được. Sở dĩ phương diện trí thức Phật đà đã triệt ngộ uyên thâm, cũng như phương diện đạo đức Phật đà đã đầy đủ biểu hiện, toàn bằng vào sức thể nghiệm của tinh thần và gầy dựng cả. Xưa nay trên thế giới các

* Trang 238 *
device

nhà giáo dục nếu không thiên về tâm để diễn thẳng, một lối giáo dục chủ qua duy tâm luận, thì thiên về vật để công bố một lối giáo dục khách quan Duy vật luận, khuynh về lối trước hay khuynh về lối sau đều gây nên một sự độc đoán sai lầm, tai hại, không phải đối với sự thật vũ trụ mà còn đối với hạnh phúc nhân sinh. Như vậy là đem tự do của mình chôn xuống vực sâu, đem tự do của chơn lý đóng khung vào tự ngã. Tinh thần giáo dục của Phật đà mới ngó qua in tuồng thiên về duy tâm, nhưng kỳ thật là một quá trình tu dưỡng mà mọi người cần phải trải qua. Nói cách khác tinh thần giáo dục là một sự thể nghiệm chơn lý bằng cách trực ngộ hóa, quảng đại hóa cá tính của mình để dung hợp đúng với chơn lý. Sau khi tinh thần trải qua sự đào luyện thể nghiệm rồi mới phát động ra những hành vi hợp lý. Xem thế, nếu không có tính thần giáo dục thì bên trong không thể nghiệm được chơn lý vũ trụ, mà bề ngoài cũng không thể hoàn thành hành vi đạo đức đối với nhân quần. Ông Vĩ Nhĩ Tư chắc cũng đã thấy rõ hai điểm chính là chứng minh chân lý, quy mô giáo dục của đức Phật, đồng thời cũng thấy rõ cái xu thế chung của lòng người nên mới không ngại ngùng viết ra mấy lời trong cuốn Lịch sử vĩ đại của ông. Nhưng xét kỹ lại, những lối giáo dục được phát triển gần đây cũng chỉ ăn hợp với từng bộ phận trong Phật giáo. Nếu tương lai nhân loại

* Trang 239 *
device

chung tiến trên con đường rộng rãi quang minh thì sẽ đến ngày gặp đặng đạo Phật trên một quan điểm chung là thực hiện một thế giới Cực lạc, trong đó mọi người đều đầy lòng từ bi không có sự hiềm khích ác hại. Đầy trí giác ngộ, không có sự thiên chấp, vọng tưởng./.
1942
*
*   *

* Trang 240 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo