LOGO VNBET
VÔ THỈ

 
          Trong  Kinh thường nói đến hai chữ Vô thỉ; như kinh Lăng-Nghiêm nói: "Vô thỉ sanh tử căn bổn, tức là tam phan duyên hiện tiền của ông; Vô Thỉ Bồ-đề Niết-bàn, tức là thức tĩnh nguyên minh hiện tiền của ông". Và trong Khởi Tín luận nói: "Chúng sanh từ bô thỉ đến nay niệm niệm nối nhau, chưa tằng ly niệm, nên gọi là vô minh". Cùng nhiều chỗ khác cũng thường nói đến hai chữ ấy, như vậy há lại không ý nghĩa gì mầu nhiệm hay sao?
          Phật ra đời mục đích là phá chấp trừ nghi, tồi tà hiển chánh; nên cũng theo chấp mà phá, theo tà mà tồi, không khác nào vị y vương kia tùy từng bệnh mà cho thuốc, điều trị từng bệnh nên thuốc nào cũng là thuốc cả, nhưng cũng vì bệnh lành nên món nào cũng không phải thuốc; Phật pháp cũng thế đó mà thôi; vì chữa đặng bệnh mê chấp của chúng sanh nên lời nào chữ nào cũng đều là Phật pháp, song vì bệnh hết nên lời nào chữ nào cũng chỉ là quyền thị mà thôi chứ không phải thiệt pháp, nên trong kinh Kim Cang nói: "Phật pháp tức phi Phật pháp, thị danh Phật pháp".
          Song chúng sanh hiện đang mang đầy sự mê lầm không ngằn mé, chưa có chơn huệ nhận thấy thật

* Trang 246 *
device

tướng của một chúng sanh, của một pháp giới, nên Phật pháp vẫn còn là phương pháp không thể bỏ, là phương pháp có công năng phá sự mê chấp và phát minh lý chơn thật Vô thỉ.
          Vô thỉ: Vô là không, Thỉ là đầu, trước hiệp lại là không có đầu; chẳng những nghiệp hoặc của chúng sanh không có đầu, mà chúng sanh cũng không đầu, chẳng những chúng sanh không đầu mà thế giới, vạn sự vạn vật đều cũng không có đầu. Vì có những ý nghĩa sau này:
          1. Vì nhơn quả tương tục nên không có đầu. Nhơn và quả không khi nào rời xa, nghĩa là không khi nào có nhơn mà không có quả, hay có quả không có nhơn, in như trồng cây lúa, thì hột lúa là nhơn mà cây lúa là quả, song cũng từ quả mà có nhơn nên cây lúa lại sanh thành hột lúa, xét đến thân phận và tâm niệm của chúng sanh hiện nay cũng từ nhơn nghiệp ngày trước, nghiệp nhơn trước tuy làm nhơn cho thân này mà chính nó cũng phải do thân trước gây nên, thân gây ra nghiệp, nghiệp cảm lấy thân, nào nhơn nào quả, nào quả nào nhơn, lưu chuyển tương tục, không thể chỉ đâu là đâu được. Ấy là Vô thỉ.
          2. Thế giới chúng sanh từ "Mê" mà có, nên không có đầu. Trong Kinh nói: "Bởi tâm sanh nên các pháp sanh, bởi tâm diệt nên các pháp diệt". Hoặc nói: "Vì

* Trang 247 *
device

không rõ các pháp thật tướng nên hữu tình sanh tử tương tục". Tâm có sanh có diệt ấy là vọng không rõ các pháp thật tướng ấy là mê. Bởi vì tâm mê vọng đó nên mới có thật cảnh thật tâm, thật người và thật vật, cho đến mảy lông sợi tóc, cảnh khổ cảnh vui v.v... đều không ngoài mê vọng ấy mà có, vậy nên trước mê vọng không chi đáng là thỉ, sau mê vọng không gì đáng kêu là chung. Nên gọi là Vô thỉ. (Nên nói ví dụ chiêm bao để chỉ rõ).
          3. Chơn vọng không hai thể, nên không có đầu. Chơn và vọng cứ nơi dụng vẫn thấy có hai, nhưng cứ thế thì không bao giờ sai khác. Hàng phàm phu chỉ một mặt đăm đăm theo vọng tưởng giả cảnh, trong hàng ngày sống trong chơn như mà không tự biết, cứ xoay theo tướng phân biệt của vọng tâm, phải chết phải sanh mà không biết tâm ấy là vọng; đến hàng Nhị thừa thì nhận thấy sự sanh tử khổ não hoàn toàn do vô minh, hoặc nghiệp (vọng tâm) đồng thời cũng nhận có tâm chơn thật, quyết chí tu hành dứt vô minh hoặc nghiệp để ngăn trừ sự già đau sống chết về tương lai và nguyện chứng Niết-bàn là nơi chơn thật cứu cánh. Song chơn nào phải ngoài vọng mà có, vọng đâu phải ngoài chơn mà thành; tùy theo duyên mà vọng hiện ra đủ cảnh giới ô trược xấu xa, vô thường đau khổ, chơn thì hiện ra chánh y trang nghiêm, an vui tự tại, nhưng chơn và vọng không phải hai thể, hễ nói chơn ấy là thể của

* Trang 248 *
device

vọng, nói vọng ấy là thể của chơn, in như sóng với nước vẫn đồng một tánh. Cho nên chơn đã Vô thỉ thì vọng cũng Vô thỉ vậy. Lại cứ niệm hiện tiền của chúng ta đây cũng tức chơn tức vọng. Khi chánh quán hiện tiền ấy là chơn, khi tham, sân phát hiện ấy là vọng, đã duyên nhau nương nhau, chơn Vô thỉ thì vọng cũng Vô thỉ vậy.
          4. Các pháp duyên khởi như huyễn, nên không có đầu; Không luận thế giới hay một vi trần, chúng sanh hay quốc độ đều là pháp duyên khởi như huyễn cả, nghĩa là không một món nào gọi là pháp tự đứng riêng một mình mà có được, cần phải tương duyên mới có, có đó không phải thật có, chỉ là cái bóng giả hợp của các duyên nên gọi là như huyễn. Vì tương duyên như thế nên một mảy bụi cũng đủ sức làm duyên cho thế giới, mà thế giới cũng làm duyên thành hạt bụi. Không một món thì không tất cả, trái lại một món có thì có tất cả, nên trong Kinh thường nói: "Thử hữu cố bỉ hữu, bỉ hữu cố thỉ hữu, thử vô cố bỉ vô, bỉ vô cố thử vô", chính chỉ bàn lý ấy. Các pháp đã duyên nhau thì không một pháp ra ngoài làm nguyên nhân đầu tiên cho các pháp khác, các pháp như huyễn thì đồng không hoa và mộng cảnh, nói: "thật có còn là kẻ rờ voi, huống chi chấp "có đầu" thì khác nào như người tìm sừng thở! Nói Vô thỉ mà ý trùm cả vô chung, song Vô thỉ Vô chung cũng đều là quyền thuyết, nên trong Luận Trí Độ ngài Long Thọ

* Trang 249 *
device

nói: "Hữu thỉ vô thỉ câu vi tà kiến,nhi Phật đa phá Hữu thỉ minh ư Vô thỉ".
          Phật dạy hai chữ Vô thỉ gồm nhiều ý nghĩa sâu xa như vậy, nên đối với lối chấp lầm của chúng sanh, ngoại đạo thành ra một phương pháp Vô thượng.
          Đem tình chấp nhỏ hẹp, chổ kiến giải đảo điên thì dầu nói Hữu thỉ hay Vô thỉ, hữu biên hay vô biên cũng đều là hỷ luận, đều thành một câu hỏi mà khi Phật còn tại thế thường dùng lối "Trí đáp" để đón trừ. Tuy vậy mà Phật thường dạy Vô thỉ vì có những lợi ích sau này:
          1. Phá chấp về thời gian; thời gian không thật có, chỉ là sự liên cấu của sắc tâm, chúng phàm phu cố chấp cho là thật, có thời xưa, thời nay, ngày mai, vì vậy nên trên tâm niệm mê lầm lại phú thêm một lần đen tối. Phật dạy: Vô thỉ tức là không đầu, không đầu thì không quá khứ cho đến không cả hiện tại và tương lai.
          2. Pháp chấp "Có đầu" chấp "Có đầu" là một bệnh chung cho cả phàm phu và ngoại đạo, khi chưa thấy được chánh đạo, biết thân là giả dối vô ngã thì chưa dễ phá trừ chấp ấy, chỉ chấp chặc thân là thực có, thật sanh, thật tử, khi sanh ra là có đầu, khi chết là không là chung. Đến những kẻ ngoại đạo cho mình sơ là đầu của vạn pháp, tự tạo thiên là ông chủ sơ khai v.v... Vì

* Trang 250 *
device

kiến giải đã sai lầm, thì dầu cố gắng khổ hạnh, quyết chí cầu trời, cũng chỉ kết thêm hoặc nghiệp, theo những hành vi hữu lậu cảm lấy sự sanh tử đời đời, hiểu Vô thỉ thì mê lầm ấy không còn.
          3. Cốt để khuyến hàng Nhị thừa hằng ngày quán sát sự sanh tử vô biên, khổ não vô lượng, sanh tâm nhàm lìa, tìm đường giải thoát. 
          Tóm lại, trong một lời Phật dạy mà có ý nghĩa sâu xa, như hai chữ "Vô thỉ" đây, nếu suy tìm cho thấu đáo, thì cũng có thể dứt hết mê lầm, chứng được thật tướng, lại khỏi phải cái tệ chấp ngón tay quyên bóng nguyệt, tránh nạn lửa lại sa vào hầm nước vậy.
 
(Phật lịch 2507 ngày 22 tháng 9 năm 1944)
*
*    *

* Trang 251 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo