LOGO VNBET
BỒ ĐỀ HẠNH

 
          Khi nghe nói đến Phật, tất chúng ta nhớ ngay đến các vị Bồ-tát là những bậc tận tâm trờ hóa của chư Phật, tinh thần cao thâm của Phật pháp đều phú thác ở Bồ-tát, Phật pháp thiện hiện không, ở đời lâu dài hay không cũng đều từ nơi Bồ-tát mà ra cả. Như vậy thì chúng ta muốn nhớ đến ơn sâu rộng của Bồ-tát, muốn tự độ lấy mình một cách triệt để, muốn giáo hóa mọi người để báo đáp Phật ân thì không thể không biết đến công hạnh lớn lao của chư vị Bồ-tát mà ta thường nhắc đến tên hoài.
          Nhưng nói đến công hạnh của Bồ-tát thì ba hạnh giáo pháp cũng duy ghi chép bấy nhiêu việc đó. Vậy trước khi nói đến một vài yếu hạnh của Bồ-tát sau này, có thể nói một câu bao quát mà sâu xa rằng: "Tất cả công việc lợi ích lớn lao cho mọi người, mọi loài, dù về quá khứ, hoặc hiện tại và tương lai; dù ở nơi các bậc Thánh nhơn, thiên, nhơn, đàn ông, đàn bà, cho đến ở nơi các loại côn trùng cũng thế, công việc ấy chính là công hạnh của Bồ-tát "làm" vậy. Như vậy thì đem hết tài trí thông minh, thần thông diệu lực mà suy tính cũng không sao hết được, nên nay muốn nói đến hạnh của Bồ-tát thì chỉ là nói qua cái hạnh có rõ rệt

* Trang 252 *
device

hơn trong các hạnh khác và bao trùm hơn trong các hạnh khác mà thôi.
          Bồ-tát khi ra làm một việc, hay tu một hạnh gì cũng đều vì hai ý nghĩa:
          1. Là hoằng pháp để báo chúng sanh ân.
          2. Là giáo hóa chúng sanh để báo đáp Phật ân.
          Không bị mê man theo ngã chấp, ích kỷ, các Bồ-tát đủ trí sáng suốt, tâm lượng rộng rãi ra ngoài một thân giả, quốc độ giả, sống loài giả, ngộ nhận vạn vật dữ ngã đồng nguyên, chúng sanh dữ ngã đồng tánh, không nỡ nào bỏ qua mà không ra tay tế độ, huống gì nhiều đời nhiều kiếp nương nhau mà sống, nhờ nhau mà còn, cho đến Bồ-tát làm được một công đức bằng mảy lông sợi tóc cũng đều nhờ ở chúng sanh, cũng như ông Đề-bà-đạt-đa là thiện trí của đức Phật Thích-ca hay cho đến tất cả chúng sanh là thiện tri thức của các vị thành Phật sau này vậy. Cho nên Bồ-tát bao giờ cũng nhớ đến ơn chúng sanh, vui đồng hưởng, họa đồng ưu, mà ra công truyền trì Phật pháp để báo ơn chúng sanh bằng cách hóa đạo chúng sanh đồng nhập Phật pháp. Vả chăng đem Phật pháp mà hóa độ chúng sanh là công việc chánh của Bồ-tát làm, vì chư Phật thường đinh ning dạy bảo và phú chúc các vị Bồ-tát rằng: "Có các chúng sanh đầu thai sanh hay hóa sanh, dầu thấp sanh cho đến noãn sanh, tôi đều hóa độ cho

* Trang 253 *
device

đồng nhập Vô dư niết-bàn". Các Bồ-tát có thực hành theo lời phó chúc đó, đem hết thâm tâm mà dắt dẫn chúng sanh đồng được giải thoát, mới gọi là báo Phật ơn trong muôn một.
          Trên thì mang ơn chư Phật, dưới thì chịu ơn chúng sanh, nên Bồ-tát không khi nào mang tâm giải đãi, để thực hành theo những pháp hạnh lợi tha sau này:
          Bố thí: Bố thí là công hạnh đầu tiên của Bồ-tát làm; mở rộng tấm lòng ra, xả tất cả tâm bỏn xẻn mà bố thí cứu giúp cho tất cả chúng sanh bị thiếu thốn hơn mình về mọi phương diện, hoặc tài của, đạo pháp hoặc là vô úy; quên tất cả sự nguy hiểm, điều thiếu thốn nơi thân phận bà con mình để ngó đến kẻ khác mà thí giúp cho họ, người thiếu áo thì đem áo thí cho, kẻ thiếu cơm thì đem cơm giúp đỡ, đến những đồ cần dùng trong nhật dụng nếu có kẻ xin,  Bồ-tát liền vui lòng xả thí; lâm thời của hết cơm không, thì hy sinh thân mạng để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi cơn đói nghèo vất vả... Đó là chưa nói đến quên cả cực nhọc thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, bởi chúng sanh khổ không những chỉ vì thiếu áo che thân, thiếu cơm nuôi mạng, mà chỉ khổ vì hoặc chướng sai lầm, ở trong biển hiện mờ mờ, không biết đến con đường sáng để thoát thân, nên đã vùi lấp tâm linh thanh tịnh, luống chịu khổ sanh tử rất là oan uổng đáng thương! Bởi vậy các vị Bồ-tát không

* Trang 254 *
device

nài gì chỗ trọc, không ham đến cảnh vô vi, thường thường theo đợi chúng sanh mà nói pháp giáo hóa, tùy theo trình độ mà thí pháp không bỏ một ai, gặp kẻ nhiều tánh tham thì thuận tánh tham, nói pháp hóa độ; gặp người nhiều giận, nhiều ngu si, thì thuận với tánh giận, tánh ngu si, thuyết pháp hóa độ, ham nghe nhiều thì nói nhiều, ưa nghe ít thì nói ít, không biết nhàm mỏi. Khi thấy người hiểu được chánh pháp, làm được một đôi hạnh lành gì, thì đem lòng mừng rõ, dùng lời tùy hỷ khuyên lơn, còn khi thấy ai lâm phải cảnh hoạn nạn, lo sợ thì thương xót, nói năng khuyên giải, đem hết tài năng dõng mãnh cứu vớt, không luận thân sơ, hèn, quý; Cho nên chúng sanh tuy còn là chúng sanh, khổ vẫn chưa hết khổ, song cũng được nhờ ân vô úy thí của Bồ-tát, ỷ y nơi Bồ-tát mà bớt lòng lo sợ được an lạc đôi phần trong đường sanh tử, và hầu mong một ngày kia đồng lên bờ giác.
          Trì giới: giới vẫn có ba là Nhiếp luật nghi giới, để ngăn trừ điều ác; Nhiếp thiện pháp giới, để tu hành việc thiện; Nhiêu ích hữu tình giới, để lợi ích chúng hữu tình. Song lòng đại bi của Bồ-tát thường thường nhớ đến chúng sanh hơn nhớ đến phận mình, hễ thấy còn một chúng sanh bị khổ là thề chưa vội chứng Bồ-đề, nên tuy nói ba giới là cốt thâu về nơi một giới là Nhiêu ích hữu tình. Bồ-tát phát tâm học hành tu tập đều

* Trang 255 *
device

vì lợi ích chúng sanh, hằng giữ tâm nguyện ấy cho đến ngày chứng quả, không khi nào sai, hễ sai chạy tâm niệm lợi tha là phạm lỗi, không hoàn toàn một vị Bồ-tát chơn chánh, nên cũng gọi là giới; Chăm chăm giữ gìn Nhiêu ích hữu tình giới, thì dầu giữ Nhiếp luận nghi giới, cũng cốt thành tựu tư cách khả quan có dung nghi đứng đắn để phát khởi lòng ham mộ cho chúng sanh trong khi thọ còn giữ Nhiếp thiện pháp hữu giới là cốt gây cho mình đầy đủ phước đức, để phòng những lúc làm Phật sự lợi ích chúng sanh, còn vô tâm sanh lời nói ác, gây ra nghiệp ác; không lo ngại, không thối thất, thì Nhiêu ích hữu tình giới kia dầu tột ngằn mé vị lai cũng chỉ được tăng tấn chớ không bị khuy khuyết.
          Vậy, nên Bồ-tát giữ giới không bao giờ cùng, không những một đời một thân, dầu cho trải qua vô lượng đời, thọ vô lượng thân cũng vẫn giữ giới, khi nào Nhiêu ích hữu tình giới hoàn toàn Bồ-tát mới không còn giữ giới. Và lại giữ giới rất cần mật, rất e dè, lúc đi lúc đứng, khi nằm khi ngồi, trước quần chúng hay ở một mình đều giữ gìn thanh tịnh cho đến một ý nghĩ cũng thanh tinh như công việc làm, trong ngoài một mực, trước sau không hai, trong như tuyết và sạch như băng vậy.
          Nhẫn nhục: Nhẫn là an nhẫn, nhục là nhục nhã. Trước nói Giới nói Thí, đây nói Nhẫn. Kiếp xưa Nhẫn

* Trang 256 *
device

nhục Tiên nhơn ở tu trên núi, nhơn một ngày quốc vương dẫn các cung nga thị tỳ vào núi dạo chơi, nhơn lòng nghi kỵ Tiên nhơn trong lúc thuyết pháp dạy các thị tỳ của các vị quốc vương, mà Tiên nhơn bị cắt tay cắt mũi; tuy vậy mà tâm tu an nhẫn của Tiên nhơn không có chút gì là hờn giận, lại còn phát nguyện độ vị quốc vương ấy trước khi thành đạo quả. Đó  là hạnh nhẫn nhục của Bồ-tát.
          Lại, ngày xưa có vị đệ tử Phật, xin Phật để đi giáo hóa vào một xứ nọ, Phật sợ ông không đủ sức nhẫn nại bao nhiệu việc đắng cay độc ác của dân xứ ấy, mới bảo rằng: Dân nhơn xứ ấy rất dữ, bản tánh canh cường khó bề giáo hóa:
          * Như một ngày kia người đến đó dạy bảo, họ không nghe lời, còn trở lại chưởi mắng ngươi, thì ngươi nghĩ sao?
          Ấy là họ thương tôi, chỉ mắng tôi bằng lời chớ không đánh tôi bằng dao gậy.
          * Như họ đánh ngươi bằng roi thì nghĩ sao?
          Ấy là họ thương tôi, nên chỉ đánh tôi bằng roi, chớ không hại tôi bằng sỏi đá.
          * Như họ không hại ngươi bằng sỏi đá, mà họ đâm ngươi bằng gươm dao thì nghĩ sao?
          Ấy là họ thương tôi, chỉ đâm tôi bằng dao chớ không giết tôi chết hẳn.

* Trang 257 *
device

          * Như họ giết ngươi chết hẳn thì nghĩ sao?
          Ấy là họ thương tôi, làm cho tôi thoát báo thân khổ não mà hưởng sự an vui sau nầy"... Đó là hạnh nhẫn nhục của Bồ-tát.
          Bồ-tát khi đã nhìn thấy nguyên nhân của sự nhục, người làm nhục, kẻ thọ nhục, như hoa đốm giữa hư không, như bóng trăng lòng đáy nước, nhất tâm sáng suốt, cứng nhắc, đối với các cảnh thuận nghịch ở ngoài đưa đến, xem như trò hý thuật của bọn huyễn sư, dầu nghịch cảnh không sanh tâm sân giận báp thù, gặp thuận cảnh cũng không cho là sung sướng, sẵn lòng tha thứ những điều nhục nhã của chúng sanh, lại kham an trong tất cả hoàn cảnh, hoặc nóng hoặc lạnh, hay là đói, hay là khát v.v... cùng tất điều chướng ngại, các kiết hoặc trong đường tu hành, đều vững tâm an chịu, bình tĩnh mà tu theo cháp pháp đối trị; song cũng không lấy đó làm điều để khoe khoang trước công chúng; dầu chở toàn cõi đại địa mà không bị nao núng, để một mảy lông cũng chẳng nhẹ chút nào... Nhẫn nhục như vậy ngoài các bậc Bồ-tát, thì không ai làm nổi, nên Phật thường than là "Nan nhẫn năng nhẫn".
          Tinh tấn: Cứ tinh thuần mà tấn vậy.
          Trách nhiệm của vị Bồ-tát rất lớn lao: "Hộ trì Phật giáo, giáo hóa chúng sanh". Không thể một ngày một kiếp mà phải trải qua va vô số kiếp mới mong hoàn

* Trang 258 *
device

toàn mỹ mãn. Bởi vậy khi phát tâm Bồ-đề lại phải sắm sẵn tinh thần tinh tấn, bước qua tất cả sự chướng ngại, nan giải đãi, đeo đuổi tham học các pháp môn nội minh, nhơn minh, thanh minh, công sảo minh và y phương minh, có một lời rất cạn cợt, hay một pháp gì tuy là thấp thỏi song là một pháp có thể lợi ích cho mình và người trong muôn vạn phần thì tinh tấn cầu học, học cho biết để đem dạy bảo quần sanh, nên không chán mỏi, biết được điều là siêng năng học một điều, tu được một hạnh rồi thì siêng năng tu thêm hạnh khác; cúng Phật, nghe Pháp nói Kinh v.v... đều quên sự lao khổ, tinh tấn thực hành, cho nên ba vô số kiếp đối với chúng ta, đối với hàng Thanh-văn là dài mà đối với Bồ-tát chỉ coi bằng nháy mắt, huống gì trong 7 ngày dở chơn ngưỡng tán đức Phật Để-sa thì đối với tâm linh tấn vô biên của Bồ-tát còn là ý nghĩa gì. Như vậy thì chắc chắn đến quả vị Bồ-đề, nên cũng có thể cắt nghĩa hai chứ tinh tấn của Bồ-tát là thẳng tới chỗ tinh thuận tuyệt đối.
          Thiền định: Tư duy quán sát là thiền duyên. Chú tâm vào một cảnh là Định. Đây cũng là một hạnh rất hệ trọng của Bồ-tát vậy; trong lúc tu hành hóa tha muốn cho đạt mục đích thì cần có thiền định.
          Một: là vì các tập khí lâu đời không dễ đốn trừ được, tuy Bồ-tát các phát tâm mạnh mẽ tu giới tu nhẫn. Song

* Trang 259 *
device

thiếu định tâm thì những chủng tử phiền não kia nối nhau sanh khởi.
          Hai: là khi giáo hóa quần sanh nếu không định thì không thể quán biết căn cơ mà nói pháp cho xứng đáng; lại có chúng sanh không thể dùng mà hóa được lại cần phải thần thông diệu dụng để hàng phục trong lúc sơ cơ, thần thông là tác dụng của thiền định. Xem thế thì muốn có định lực, có thần thông lực để lợi tha không quên thiền định được vậy.
          Song thiền định của Bồ-tát không phải hẹp hòi và ngắn ngủi như các thiền định khác, mà là Đại thừa quang minh định (hay phát trí quang minh mà chiếu liễu giáo lý hạnh quả của Đại thừa). Tập phước vương định (tự tại nhóm góp vô biên phước đức). Hiền thủ định (hay giữ gìn tất cả pháp hiền thiện thế và xuất thế). Kiến hành định (Kiến lập pháp hành dạy bảo chúng sanh), và Thủ Lăng Nghiêm định (tất cả thế giới chúng sanh đều y vào đây mà an lập tồn tại, tất cả định đều từ đó mà xuất sanh). Bởi trí huệ của Bồ-tát sáng suốt, soi thấu các pháp đều đồng một tâm, tâm đồng một tánh, đối với sự vật bặt hết các tướng, cũng tức hết các tướng, thường vắng lặng mà thường sáng soi, thường chơn không mà tùy duyên huyễn có, nên tâm thường tự tại, trí thường tự tại không bị một món gì hệ phược làm cho lay động, cũng có thể tự hiện thần thông để làm Phật sự, lợi ích chúng sanh... lúc nào cũng như

* Trang 260 *
device

lúc nào  và chỗ nào cũng như chỗ nấy, không đổi không thay, không xuất không nhập, nên Kinh có câu: Na-già thường tại định, vô hữu bất định thời" cũng là chỉ cho đại định của Bồ-tát vậy.
          Trí tuệ: Dẫu cũng chỉ ba món văn huệ, tư huệ và tu huệ. Song trí huệ của Bồ-tát thường  nghe các pháp đại thừa thực tướng, suy nghĩ pháp Đại thừa thật tướng và quán sát chứng ngộ các pháp Đại thừa thật tướng như trong kinh Kim Cang nói "Ngã đại linh nhập Vô dư niết-bàn, như vô chúng sanh đắc diệt độ giả" đó là do sức đại trí quán thấy các pháp một cách thấu đáo, thì chỉ toàn là không vô tự tánh mà thôi, chứ không có tướng gì đáng gọi là chúng sanh, không tướng gì là diệt độ dầu đại địa hay một mảy lông của chúng sanh cũng đồng "Không tướng" ấy mà thôi, bình đẳng không hai. Đã không tướng bình đẳng thì còn gì đáng chấp, nên Bồ-tát tu hành đầy đủ muôn hạnh muôn đức mà không chấp trước với một hạnh nào hay một đức nào cả. Không bị sở tri chướng ngại, nên công hạnh càng lớn, công hạnh lớn nên phước đức vô biên vô lượng.
          Nói tóm lại, tất cả pháp môn không thể kể xiết, nhưng chỉ tóm trong ba món giới định và huệ, mà sáu món này thì giới, nhẫn thuộc về giới, định là định, huệ là huệ, còn tinh tấn thì trùm cả ba, cho nên tất cả các vị Bồ-tát đều lấy đó làm phương châm, gắng bó tu trì, tu một món là tròn nên cả 6 món, tu chỉ 6 món mà đầy đủ

* Trang 261 *
device

tất cả các hạnh khác và công đức khác. Tuy vậy, mà 6 món này tuy lợi tha mà còn gồm tự lợi, nếu pháp hoàn toàn tự lợi tha ứng dụng thì có 4 món Nhiếp pháp là:
          1. Bố thí: Muốn dạy chúng sanh biết chánh pháp, giải khổ về đường vô minh thì trước phải bố thí cướp giúp chúng sanh đỡ khổ về xác thịt, về đường sanh nhai sau mới hiệu quả, nên món bố thí hơn thiên về tài thí hẹp hơn món Bố thí trước.
          2. Ái ngữ: Nói lời hòa diệu ngọt ngào...
          3. Lợi hành: Làm các việc lợi ích
          4. Đồng sự: Đồng với chúng sanh một hạnh nghiệp, một công việc làm để dễ giáo hóa.
          Và 4 món Vô lượng tâm:
          1. Từ: Thương xót, ban cho chúng sanh đều vui.
          2. Bi: Cứu vớt chúng sanh thoát khổ.
          3. Hỷ: Vui mừng mình khi làm lợi ích chúng sanh, và mừng chúng sanh khi theo con đường thiện.
          4. Xả: Tâm thường theo lẽ bình thường, không thái quá, không bất cập, không quá từ bi mà không hỷ, không quá hỷ mà không từ bi; và lại dầu đã thực hành Từ, Bi, Hỷ, song không trụ trước nơi một công đức nào hay chúng sanh nào cả.
          Công hạnh Bồ-tát ước lược là như thế, nếu rộng ra và tỉ mỉ thì không khi nào nói cho cùng. Tuy vậy, mà

* Trang 262 *
device

chúng ta nhận thấy chí nguyện lớn lao, tâm trí cương quyết của Bồ-tát khi thực hành 6 độ, hoặc 4 Nhiếp hay 4 món Vô lượng tâm v.v... trải trần sa kiếp cũng không sờn bỏ, lắm lúc hiện làm vua để thực hành hạnh lợi tha, hiện làm tướng để thực hành môn háo độ, làm thỏ bạch để cúng dường thân cho vị đạo sĩ, làm con nai vàng cứu kẻ chết trôi, làm gái chèo đò, làm ông mang bị vải trăm ngàn vạn thân hiện ra đều vì các chúng sanh chưa tự độ mà phương tiện dắt dìu; vậy thì Bồ-tát đối với chúng sanh có công ơn biết là dường nào, không thể không ghi nhớ, mà muốn ghi nhớ một cách có lý thú và chánh đáng thì không thể quên các pháp hạnh của Bồ-tát làm mà không tập tánh theo được.
1944
*
*    *

* Trang 263 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo