LOGO VNBET
Tìm hiểu sơ lược về
 
I. PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
 

          Ánh sáng Phật giáo bắt đầu soi đến nhân gian từ khi giáo chủ Thích Ca thành đạo ở gốc cây Bồ-đề.
          Sau khi thành lập Ngài liền tìm hóa độ năm vị Tỳ-kheo thường tùy tùng Ngài và vô số Tăng Ni cùng tín đồ khác. Với một tinh thần bình đẳng từ bi khác Bà-la-môn giáo, đức Phật đã nhiếp hóa người rất dễ dàng, Từ vua chí dân, từ nghèo đến giàu, từ hạng biên tộc đến quý tộc, không một hạng nào Ngài bỏ rơi mà không nhiếp hóa. Bởi vậy trong giáo đoàn của Ngài đủ mặt các tầng lớp xuất gia tu học. Uy danh của Ngài và đệ tử mỗi ngày mỗi lan rộng, nên bên trong đã làm cho những kẻ hiếu danh như ông Đề-bà-đạt-đa mưu phản nghịch, nên ngoài đã làm cho hạng Bà-la-môn tìm kế chống đối, song rốt cuộc họ đều phải nhượng bộ, vì giáo lý viên dung và nhân cách cao thượng của Ngài. Ngài vẫn thản nhiên, trải qua 45 năm không biết nhàm mỏi. Cho đến ngày cuối cùng trong

* Trang 372 *
device

rừng Ta-la, Ngài còn ân cần răng dạy và độ cho ông Tu-bạt-đà-la xuất gia.
          Trong thời gian truyền bá này có nhiều đệ tử đã tỏ ra hy sinh để truyền bá chánh pháp. Như Tôn giả Tỳ-kheo Purna đến xin Phật một mình đến xứ Du-lô-na lạ lùng, có tiếng hung dữ, để truyền bá, hoặc như tôn giả Mục-kiều-liên đã bị ngoại đạo ám hại trên đường hóa đạo trở về v.v...
          Nhờ giáo pháp cao thâm cũng như sự tận tâm cố gắng đó nên măc dầu bị gốc rễ ngoại đạo cản trở, trong thời gian non nửa thế kỷ, đạo Phật đã gầy dựng trên khắp lưu vực sông Hằng, sông A-cách-la (phía Bắc đến Tuyết-sơn-ly, Nam đến xứ Ma-dà-đà, Đông đến Thiện Bạch Champa, và Tây đến Câu-diệm-di (Kosambi) một cơ sở đồ sộ ).
          Sau khi Phật Niết-bàn, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (Ma-ha Kasspa) thay Phật thống nhất Tăng chúng. Đa số hàng vô học theo Phật mà nhập Niết-bàn, còn hàng hữu học thì buồn bã, đến đỗi các Tăng chúng trong 18 ngôi chùa lớn tại thành Vương-xá tự phá chùa rồi bỏ đi. (Sau vua A-xà-thế trùng tu trong một tháng xong cả). Ngược lại có những vị si Tỳ-kheo thì vui mừng. như ông Tu-bạt-đà-la đã nói: Đại Sa-môn còn thì ta cứ bị ràng buộc theo những điều tịnh, bất tịnh, nên làm, không nên làm, nay Đại Sa-môn mất

* Trang 373 *
device

thì ta được tự do, muốn làm thì làm, không muốn thì đi nghỉ". Nhân đó Tôn giả Ca-diếp liền họp 500 Thánh chúng tại Tịnh-xá Thất-diệp-khốt ở thành Vương-xá (do A-xà-thô lập) kiết tập đạo lý của Phật dạy trong vòng bảy tháng, kể từ đầu hạ An-cư tiếp theo năm Phật Niết-bàn. Đồng thời ở chỗ khác, Tôn giả Ba-sư-ca (gaspa) cũng chiêu tập hàng vạn Tăng chúng kiết tập Pháp tạng. Nhân đó manh nha chia thành hai bộ phái: Thượng tọa và Đại chúng, để sau này biệt lập hẳn.
          Sau Phật nhập diệt độ 100 năm, Ngài trưởng lão Da-xá qua nước Tỳ-xá-ly, nhân nghe phái Tỷ-kheo xứ Bạt-kỳ xướng ra 10 điều luật mới (mà về sau phái Thượng tọa cho đó là mười điều phi pháp), nên mở hội thảo luận cùng nhau ráo riết, rốt cuộc 10 điều đó cũng được phái Bạt-kỳ khư khư bảo thủ, lại được nước Ma-kiệt-đà là Ca-la A-dục binh vực. Ngài Da-xá trước sự tình ấy, liền họp 700 Tăng chúng tuyên bố 10 điều kia là phi pháp và kiết tập pháp tạng lần thứ hai. Do đây là hai bộ phái hình thành rõ rệt, rồi mỗi ngày vì càng xa cách Phật, vì nhân tâm biến đổi, địa thế bất đồng, ở trong cơn loạn lạc đó, đoàn quân của Á-lịch-sơn đại tế từ Ai Cập tràn vào Ấn Độ, nên hai bộ phái lại lần lần chia thêm ra mười tám bộ nữa, cộng với hai bộ gốc thành ra 20 bộ. Đây là sự

* Trang 374 *
device

biến đổi lần thứ nhất trong lịch sử Ấn Độ. Trong thời gian 100 năm này, bên trong thì có Mục-kiều-liên tử-đế-tu và Pháp sư Ưu-ba-cúc-đa, tận lực truyền trì luật pháp, bên ngoài sau khi đoàn quân của A-lịch-sơn đại đế tuy rút đi, nhưng sự liên lạc giữa người Ấn với người Ai Cập, Hy Lạp vẫn còn, nên Phật giáo chịu ảnh hưởng nền nghệ thuật Hy Lạp mà tạo thành nền nghệ thuật riêng cho mình và gieo rắc Phật pháp vào hai nước kia. Phật giáo thời này như vậy kể ra có phần phát triển, song vì còn giữ tính cách bảo thủ nên sự lưu truyền vẫn còn ở các địa hạt như xưa.
          Đến thời A-dục vương triểu Khổng Tước, nghĩa là sau khi nhập diệt trên 200 năm, trong Phật giáo lại biến đổi lần thứ hai. Khác với lần biến đổi trước thuộc phạm vi tranh cãi về giáo lý. Đâu đâu cũng nghe tứ chúng cãi về năm sự  (sự sở dụ, vô tri, do dự, tha linh nhập, đạo nhân sanh cố khởi) của ông Đại thiên Tỷ-kheo. Phái Đa Văn thì tôn ông là bậc Đại thừa Bồ tát và công nhận năm sự kia. Kết quả lần tiếp cận thứ ba được triệu tập tại thành Hoa Trị xứ Trung Ấn (kinh đô của đế quốc Ấn Độ) trong sự ủng hộ triệt để của vua A-dục.
          A-dục là một ông vua rất có công to trong lịch sử truyền bá Phật giáo, hơn nữa là một vĩ nhân trong

* Trang 375 *
device

lịch sử nhân văn của thế giới. Trước khi đầu Phật ông là một ông vua thông minh đởm lược, hợp với tánh tàn bạo độc đoán (vì ác nên người sau gọi là Chiên-đà-la A-dục), nên đã nối nghiệp ông nội và Phụ hoàng, mở rộng đế quốc Ma-kiệt-đà, thống nhất lãnh thổ Ấn Độ đến các tiểu quốc vương Ấn về dưới sự cai trị của mình, làm cho các lâng bang thấy vậy khiếp sợ. Nhưng sau nhờ gặp Tỳ-kheo Ni-cù-đà giáo hóa cho liền hối hận tội lỗi đã giết hàng triệu sanh linh, nên quy đầu về Phật, hóa thành một ông vua nhân từ, không còn dùng uy thế để sát hại, mà lại dùng uy thế ấy để truyền bá Phật pháp trong nhân dân (vì vậy người sau gọi Đa-ra A-dục). Ông thường ban hành các sắc dụ khuyên nhân dân thực hành Phật pháp, khắc lời Phật dạy vào các trụ đá để kỷ niệm các nơi Phật tích và dựng khắp nơi để truyền bá cho dân chúng. Xây 8.400 Bửu tháp để tôn thờ Xá-lợi, lại cho em ruột là Tỳ-đại-du-ca, con trai là Ma-hê-đà (Mahinda), con gái là Tăng-già-mật (Sangghanitta) xuất gia để góp sức vào việc truyền bá Chánh pháp. Đồng thời với sự truyền bá mãnh liệt và có phương pháp ấy, lại có những vị cao tăng như Đàm Vô Đức, Mục-kiều-liên tử-đế-tu tu chỉnh nội bộ, nên Phật giáo thời này cực thịnh, gây được ảnh hưởng cả bề sâu lẫn bề rộng trong dân chúng. Phật giáo về trước lưu hành chung quanh lưu vực

* Trang 376 *
device

sông Hằng và Kha Cách La, nay vượt biên cương truyền khắp lãnh thổ Ấn Độ và lan đến các nước ngoài trị quyền nhà vua.
          Sau khi vua A-dục qua đời, phương Nam có Ma-hê-đà truyền Phật giáo đến nước Sư Tử, (tức Tích Lan ngày nay), được quốc dân sùng bái nhiệt liệt, nên thêm một lần kiến tập đã được tổ chức tại nước này và dùng văn Pafli để chép Tam Tạng, làm nơi căn cứ của hệ thống Phật giáo Nam phương sau này.
          Phương Bắc Tôn giả Mạt-xiển-đề truyền Phật giáo vào hai nước Ca-thấp-di và Kiền-sà-ra, cảm hóa hàng vạn triệu người theo Phật. Tôn giả Đại-lặc-khí truyền vào Du-na thế giới (Yonava) thuộc A Phú Hãn. Thời ấy giảng kinh Ca-ta-ra-ma(Kata-karama-sutta) khiến cho cư dân ở đó đều thấm nhuần Phật giáo, về sau vùng này có vị vua Mạch-mạn-đặt-nhi (Milindia) rất thâm tín và ủng hộ Phật giáo. Những đạo lý thảo luận giữa ông và Tỳ-kheo na-tiên đã tạo thành cuốn kinh Na-tiên Tỳ-kheo sau này (tên Pàli là Milindia Panhà Sutta).
          Thời gian này kéo dài đến 600 năm sau Phật nhập diệt tức là lúc các bộ phái cùng nhau ly hiệp biến hóa đến cực điểm, lại là lúc đế quốc Ma-kiệt-đà đã bị vua Ấn Đạt-la ở Nam Ấn lật đổ, lập nên A-đạt-la vương triều, Bà-la-môn thừa cơ hoạt động, lấn át

* Trang 377 *
device

Phật giáo, nên đa số Tăng đồ phía Bắc đi qua nước Đại-nhục-chi gặp Ca-nị-sắc-la (Kaniska) là một ông vua rất ủng hộ Phật giáo không kém vua A-dục, chiêu tập 500 vị Đại đức kiết tập Pháp tạng lần thứ tư tại nước Ca-thấp-di-la (nếu kể lần kiết tập tại Tích Lan vị chi 5 lần) để dung hòa các mối kiến giải dị đồng của bộ phái. Lần này có một tác phẩm vĩ đại mới luật Tỳ-bà-sa 200 cuốn, xuất hiện gồm thâu hết thảy kiến giải xuất sắc vào trong ấy. Do đó, trung tâm Phật giáo nay lại đổi sang Tây Bắc Ấn chứ không phải Trung Nam Ấn như trước nữa.
          Trải qua thời kì 600 năm sau khi Phật nhập diệt. Phật giáo có 4 kỳ kiến tập như trên. Nhưng hai kỳ đầu chỉ nhóm chúng tụng tại lời Phật dạy cho nhớ mà thôi. Mãi đến kỳ kiết tập sau mới dùng văn tự chép thành kinh điển. Kết quả thành hai lối văn: Pàli và Phạn văn. Nhờ đó Phật giáo còn lưu truyền đến ngày nay hầu khắp thế giới và trong hai kỳ kiết tập đầu, thiên về giới luật mà hai kỳ kiết tập sau lại thiên về giáo lý, nhờ vậy thánh điển truyền đến ngày nay đầy đủ cả hai phần luật và đạo lý.
          Tóm lại, trong khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt là thời gian Tiểu thừa Phật giáo chiếm quyền ưu tiên tại Ấn Độ. Ta có thể chia thời gian này làm 3 thời kỳ như sau:

* Trang 378 *
device

          1. Thời kỳ thứ nhất, khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt. Thời gian này ảnh hưởng cảm hóa Phật còn mạnh, các đệ tử một mặt tuân thuần Phật chế, chưa có điều gì xảy ra. Ấy là thời kỳ thuần túy.
          2. Thời kỳ thứ hai, khoảng từ 100 năm đến 400 năm sau Phật nhập diệt. Trong thời gian này bộ phái phân chia rất ráo riết, tuy đồng một tín ngưỡng đồng tôn thờ một Giáo chủ. Nguyên do chính yếu nhất của sự phân chia là giáo bảo thủ thì trọng thật hành còn phái lý luận thì chủ tư biện. Phái bảo thủ chủ tâm giữ tròn quy luật, còn phái lý luận thì thấy triết lý của Áo nghĩa thư vẫn còn ảnh hưởng trong giới trí thức Ấn Độ, thêm vào đó Bà-la-môn bắt đầu xen vào Phật giáo, học giáo lý để mượn về chú giải Áo nghĩa thư làm cho chánh tà hỗn tạp, nên phái này chú ý đến đạo lý nhiều hơn. Cả hai phái thành biệt lập, không thể hòa hợp lại. Ấy là thời kỳ phân chia bộ phái.
          3. Thời kỳ thứ ba, khoảng từ 400 năm đến 600 năm sau Phật nhập diệt, vì lẽ không hợp nhau nên mỗi bên đều cật lực phát huy những điều sáng lạn, phát huy những tư tưởng Đại thừa mấy lâu tiềm ẩn để tạo nên Phật giáo Đại thừa, thay địa vị Tiểu thừa tại Ấn Độ mà Tiểu thừa từ đây lặn xuống. Mãi đến 700 năm sau

* Trang 379 *
device

Phật nhập diệt, có Ngài Ha-lê-bạt-ma (Harimarman) ở Bắc Ấn làm luận Thành Thật, phát huy đạo lý Chân không, Pháp không, có ý tổng hợp Giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa giáo tại Ấn Độ. Ấy là thời kỳ hết phân chia, cùng kết Tiểu thừa.
          Riêng về Đại thừa, thì kể ra có triệu chứng phục hưng từ lần kiết tập thứ ba để ấn định năm sự của ông Đại Thiên. Nhưng mãi đến khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt, Tôn giả Mã Minh đã sinh ra đời ở Bắc Ấn, làm luận Khởi Tín, vua Ca-nị-sắc-ca ủng hộ tuyên truyền, tiếp đó 100 năm sau lại có Bồ-tát Long Thọ ra đời ở Nam Ấn (xứ Serar) làm luận Trung Quán, luận Thập Nhị Môn, luận Trí Độ, phát xuất Không tôn và Chân Ngôn tôn, rồi truyền cho đệ tử là Long Trí và Đề Bà, nối nghiệp giảng luận tạo ra Bách luận, tồi tà hiển chánh, nên Đại thừa được phát dương mạnh mẽ (Phật giáo truyền vào nước Việt Nam ta thời này).
          Sau Bồ-tát Long Thọ 200 năm, có Bồ-tát Vô Trước sanh từ Bắc Ấn sau đến Trung Ấn, xướng lý Đại thừa Duy Thức và em Bồ-tát Thế Thân, trước theo Tiểu thừa làm luận Câu xá, sau trở theo Đại thừa cùng với Anh cực lực phát huy lý Duy Thức. Do đó, Đại thừa phát đạt. Khoảng 1000 năm sau Phật nhập diệt có nhiều vị Đại đức, vị luận sư ra đời, tuyên truyền giáo lý. Đến đây Ấn Độ gồm đủ Không tôn và

* Trang 380 *
device

Hữu tôn, khiến Bà-la-môn khó bề thực hiện cái mộng phục hưng của họ.
          Nếu tiếp theo hai lần biến đổi trước, thì lần thứ ba vào thời kiết tập thứ tư, luận Tỳ-bà-sa xuất hiện, lần thứ tư vào thời Mã Minh, Long Thọ và lần thứ năm vào thời Bồ-tát Vô Trước, Thế Thân ra đời. Trong sự biến này,  hai lần trước có tính cách phân chia bộ phái, lần thứ ba có tích cách thống nhất bộ phái và chấm dứt sự phân tách Tiểu thừa lần thứ tư và Đại thừa Không tôn xuất hiện qua lần thứ năm Đại thừa Hữu tôn ra đời. Phật giáo thời này là thời cực thạnh nhất.
          Những mãi đến khoảng 1500 năm sau Phập nhập diệt, bên trong vì nghĩa học kém suy, đa số Tăng đồ chỉ chuộng Mật tôn về hình thức, bên ngoài Bà-la-môn được cơ hội phục hưng, bài xích phật giáo lại có Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turquie) xâm nhập Ấn Độ (1018 sau Tl), dùng thủ đoạn khốc liệt gia hại Phật giáo, đập phá chùa Tháp, áp bức Tăng Ni nên Phật giáo phải bị suy vi hầu gần tuyệt tích. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ tuy chấm hết nơi đây, song cùng trong lúc Ấn Độ bắt đầu suy tàn thì các nước khác lại hưng thịnh, chẳng hạn Phật giáo ở Trung Hoa nhằm thời thạnh Đường rực rỡ biết bao!

* Trang 381 *
device

          Thời gian trôi qua, ngoại trừ mấy ngôi cổ tháp Phật tích, Phật giáo bắt đầu lưu hành trên đất Ấn Độ. Mãi đến thế kỷ 19, nước Anh cai trị Ấn Độ. Do đó, người Châu Âu tới lui nghiên cứu văn hóa Ấn Độ mà trong đó có Phật giáo, họ đã tìm thấy giá trị cao quý của Phật giáo đối với hạnh phúc nhân loại nên xôn xao khen ngợi làm cho người Ấn sực tỉnh lại"của Quý"của dân tộc mà họ vô  tình đã chôn lấp, thì lại liền hô hào: Phục hưng Phật giáo.
          Rayendrachilala tiên sinh là một học giả phật giáo đầu tiên, sản xuất giữa phong trào nghiên cứu văn hóa Ấn Độ của người Âu Tây. Ông căn cứ về 144 loại kinh về Phạn bản về Népal, làm ra cuốn "Népal Phật giáo Phạn bổn" (The Litasanakrit Buddhist Lituature of Népal) và xuất bản cuốn "Tiểu phẩm Bát nhã" vào năm 1888. Ông là người có công đối với sự nghiên cứu Phật giáo.
          Năm 1893, Sarat Chaudradas tiên sinh lại đề xướng lên hội "Nghiên cứu Thánh điển Phật giáo Ấn Độ và nhân loại học thuật". Người Ấn càng bị kích thích thêm về vấn đề nghiên cứu Phật giáo.
          Năm 1891 hội Đại Bồ-đề được thành lập. Hội này có thế lực trong việc vận động phục hưng Phật giáo Ấn Độ hiện thời. Có chi bộ đặt tại Nữu Ước,

* Trang 382 *
device

Luân Đôn v.v.. Xuất bản Nguyệt san "The Maha-Boudhism" để truyền bá Phật giáo khắp Âu Mỹ. Rồi đến "Toàn Tích Lan Phật giáo đại hội" (1928) trước sau thành lập dựa trên một mục đích "chấn hưng Phật giáo".
          Gần đây xứ sản sinh Phật đã trỗi dậy mạnh mẽ trở lại, để lãnh đạo Phật giáo khắp toàn cầu. Hội "Phật giáo thế giới" thành lập tại Tích Lan, mở Đại hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ nhất vào năm 1950, gồm 500 đại diện và thông tín viên của 25 quốc gia Phật giáo đến dự, tất cả các nước này hóa thành chi hội của Hội. Sau đó ông Hội trưởng của Hội là Bác sĩ Halalaselera đã lần lượt đi thăm các chi bộ. Hội nghị của Hội mở lần thứ hai tại Nhật Bản năm 1953, và ắt sẽ có hội nghị như vậy nhiều lần nữa. Hội đã xuất bản hai tờ báo: New Letter và The Buddhist Word chuyên tải các tin tức và giáo lý phát hành khắp các nước.
          Hiện nay (khoảng 1942), nhân dân Ấn khoảng 400 triệu người, đã có 1.157 vạn tín đồ Phật giáo. Đấy là một vinh quang lớn lao của Phật giáo khắp thế giới vậy.
*

* Trang 383 *
device

I. PHẬT GIÁO TRUNG HOA

          Theo lời đức Khổng Tử trong sách Liệt tử dẫn "Khâu này nghe phương Tây có bậc thánh nhân, không trị mà không loạn, không nói mà mọi người đều tin" thì có lẽ Phật giáo đã vang dội đến Trung Hoa khi Phật còn tại thế. Nhưng đến đời Đông Hán, vua Minh Đế mới chính thức du nhập, do tôn giả Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Hai vị này theo lời mời qua Trung Hoa ở đất Lạc Dương, chùa Bạch Mã dịch kinh đầu tiên, gồm có 5 bộ: Tứ Thập Nhị Chương, Thập nhị đoạn kiết, Pháp hải tuế v.v... Lần nữa, các vị cao tăng như An Thế Cao v.v... lục tục đến truyền bá Đời Tần Hán, Tôn giả Phật Đồ Trừng sang thuyết pháp, tiếp đó nhờ có Tôn giả Đạo An và La Thập mà Phật giáo hằng truyền mạnh mẽ một thời. Đến đời Nam Bắc triều (khoảng thế kỷ 5, 6) có Tôn giả Nam Nhạc xướng tông Thiên Thai. Phật giáo Trung Hoa lại càng có thêm sắc thái mới. Thế rồi thế kỷ thứ 6, Phật giáo bị ách Thái Võ Đế nhà Hầu Ngụy. Cách đời Tuyên Võ, Phật giáo cực thịnh trở lại bị ách Võ Đô Bắc Chu phá hủy lần thứ hai. Mãi đến đời Đường (Cao Tổ, Thái Tôn Lý Thế Dân) có tôn giả Huyền Trang du học Ấn Độ về truyền bá, cùng các Cao

* Trang 384 *
device

Tăng khác đã làm Phật giáo một thời thạnh nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa trước sau. Nhưng từ cuối Đường dân nhà Mãn Thanh, Phật giáo chỉ còn tính cách duy trì, lại gặp phải ách Võ Tôn, Thái Tôn hủy diệt, nên Phật giáo cơ hồi bị suy vi hẳn. Đến đời Dân Quốc (1911) Phật giáo bắt đầu phục hưng. Trụ cột của sự trùng hưng này là các cao tăng Đỗ Nhàn, Thái Hư, Âu Dương, Kỉnh Vô. Nhiều Phật học viện được tổ chức, các báo chí Đại Âm, Hải Triều Âm, Vi Diệu Thanh v.v... ra đời, đã gây ảnh hưởng lớn cho Phật giáo Trung Hoa và lan qua các nước.
          Phật giáo đã cung cấp cho nền văn hóa Trung Hoa rất nhiều. Chẳng hạn như nhà Học giả Lương Khải Siêu viết trong bộ Ấm Năng Nhất: "Văn bạch thoại có ra nhờ nguồn gốc của lối văn dịch trong nhà Phật". Tuy nhiên, từ ngày xảy ra Trung Nhật chiến tranh, Phật giáo ở đó hầu như trở lại cái thời hoang vu loạn lạc của Tam Võ, Nhất Tôn xưa kia...
II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM
          Phật giáo Việt Nam bước đầu không phải hoàn toàn do Trung Hoa truyền vào mà do Ấn Độ. Lý do vì đường giao thông bằng đường thủy giữa Ấn Độ và Trung Hoa phải đi qua Việt Nam. Ngay thế kỷ

* Trang 385 *
device

đầu, Phật giáo Việt Nam đã có, do sự ghé lại của đoàn người buôn Ấn Độ có tín ngưỡng Phật. Rồi đến cuối thế kỷ II và đầu thế kỷ thứ III Phật gióa mới du nhập chính thức do bốn nhân vật trước đây, trước sau truyền vào:
          1. Ma-ha-kỳ-vực.
          2. Khương Tăng Hội.
          3. Chi Cương Lương (đều người Ấn).
          4. Mâu Bác (người Trung Hoa).
          Sau đại đức Tỳ-ni-đa-lưu-chi, người Nam Ấn, năm 574 qua Trung Hoa gặp nạn Châu Võ bèn đến đất Hồ Nam gặp Tam tổ Tăng Xán, được Tổ truyền tâm ấn và vâng lời Tổ nên năm 580 Ngài qua Việt Nam ở chùa Pháp Vân, tỉnh Hà Đông giáo hóa rồi lập ra phái Thiền tông thứ nhất. Ngài Pháp Hiền là người thứ nhất Việt Nam được truyền tâm ấn. Từ đó pháp hệ của Ngài được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
          Lịch sử truyền bá Phật giáo Việt Nam còn chép lại có ba đoàn truyền bá Phật giáo Việt Nam:
          - Đoàn thứ nhất có ba vị: Minh Viễn, Tuệ Hạnh, Vô Hành.
          - Đoaàn thứ hai có ba vị: Đàm Nhuận, Trí Hành, Tăng-già-bặc-ma.

* Trang 386 *
device

          - Đoàn thứ ba có sau vị: Vân Kỳ, Mộc Đoa, Khuy Sung, Tuệ Diệm, Trí Hành và Đại Thăng Đăng.
          Trong ba đoàn ấy, ta thấy hai đoàn người Trung Hoa chỉ có ngài Tăng-già-bạc-ma là người Trung Á, đoàn thứ ba chú ý hơn vì toàn người Việt cả, các Ngài đã qua Trung Hoa, qua Ấn Độ cầu pháp và dịch Kinh. Dân Trung Hoa bấy giờ không dám khinh người Việt nữa, chỉ nhờ tài uyên bác của các vị Cao Tăng ấy. SAu đó các ngài Nhật Nam, Vô Ngại v.v... đã khai thác cho nền văn hóa quốc gia và giáo hóa cho dân tộc rất nhiều.
          Khoảng năm 786-836 cũng trong thời thuộc Đường có ngài Vô Ngôn Thông Thiền sư, từ Trung Hoa sang ở chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh) lập ra phái Thiền tôn thứ II và truyền pháp lại cho ngài Cảm Thành.
          Tóm lại, Phật giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc lần thứ hai qua thời đại Hậu Lý Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ ba, tuy cũng có lúc ngưng nhưng phần nhiều được phát triển thịnh hành.
          Xuống đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, bên trong Tu sĩ có các Ngài: Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Trần Nhân Tôn, Đa Bảo, Viên Chiếu, Minh Không, Pháp Loa, Huyền Quang v.v... là những bậc đạo cao đức trọn, đứng ra phò vua giúp nước

* Trang 387 *
device

Pháp sư Ngô Chân Lưu đã được nhà Đinh phong cho chức Khuông Việt Quốc sư, Sư Vạn Hạnh Triều Lý (1010-1225) đã gây thanh thế cho nền văn hóa dân tộc. (Lê Văn Siêu trong cuốn "nền văn minh Việt Nam" đã quyết chắc người có sáng kiến dựng thành Thăng Long là Sư Vạn Hạnh).
          Bên Phật tử có Ngài: Lý Thái Tôn, Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tôn v.v... là những người có thâm hiểu Phật giáo và làm vẻ vang cho Phật giáo và đất nước. Chẳng hạn như Lý Thái Tôn sau khi đánh thắng Chiêm Thành đã phong tước Quốc sư cho vị sư Trung Hoa ở Chiêm Thành bị bắt về và lập ra phái Thiền tôn lần thứ III.
          Và vua Trần Nhân Tôn, một vị đại anh hùng của dân tộc đã xuất gia tu hành lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử với sắc thái Việt Nam, làm kéo dài hưng thịnh Phật giáo.
          Tóm lại, Phật giáo các triều này rất thạnh, rất có công lớn trong việc xây dựng cho nền Văn hóa dân tộc lưu truyền đến ngày nay.
          Vào thời Nam Bắc phân tranh, Phật giáo chỉ có khuyếch trương môn phái, chẳng có gì vẻ vang, nước sang triều Nguyền và Pháp thuộc cũng chỉ duy trì chừng đỗi ấy thôi. Sau khi Nguyễn Phúc Ánh viện

* Trang 388 *
device

quân Pháp dẹp Tây Sơn lập ra triều Nguyễn, từ Gia Long đến Bảo Đại, vua nào cũng có tin Phật, danh Tăng có các ngài: An Tịnh, An Thiền, Nhất Điện, Diệu Giác hết sức hoằng dương Phật pháp, song chẳng tiến được đến đâu. Phần đông Tăng đồ thời này ít học, chỉ được uế lợi ô danh lấy chùa làm gia đình riêng, chuyên việc mưu sinh chứ không có tinh thần tín ngưỡng chân chánh.
          Năm 1930, bước suy vong hầu như qua khỏi bờ tối tăm. Ở Bắc có Hòa thượng Vĩnh Nghiêm, Hòa thượng Tố Cát, Hòa thượng Hoằng Sơ và Sư Trí Hải vận động lập ra Hội Phật giáo Bắc Việt, xuất bản Tạp chí Đuốc Tuệ. Ở Trung kỳ lập ra An Nam Phật học Hội năm 1932. Hội quán đặt tại Huế, Hội do các vị Cao Tăng như: Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp (Bình Định), Hòa thượng Giác Tiên, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Tịnh Hạnh, Hòa thượng Tịnh khiết v.v... và các cư sĩ Nguyễn Khoa Tân, Nguyễn Đình Hòe, Ưng Bàng, đặc biệt có bác sĩ Lê Đình Thám, Bác sĩ Trương Xướng, Họa sĩ Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Hữu Tuân, Cao Xuân Huy... là sáng lập viên của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, ra tạp chí Từ Bi Âm, Duy Tâm và lập Học đường ở Lưỡng

* Trang 389 *
device

Xuyên. Cho đến nay dầu trải qua thời gian chiến tranh loạn lạc, phật giáo vẫn phát triển không ngừng. Hội Việt Nam Phật học tại Trung Việt càng bành trướng cả bề rộng lẫn bề sâu. Hội Phật học Nam Việt thành lập, thay cho các Hội trước và xuất bản tạp chí Từ Quang năm 1949. Về cơ quan đào tạo Tăng Ni hiện tại thì ngoài mấy vị học tăng du học ngoại quốc trong nước ở trường Ấn Quang, Dược Sư tại Nam Việt, trường Tăng Học Đường tại Nha Trang, trường Báo Quốc, Trường Diệu Đức tại Huế, và các trường tư thục trung học, tiểu học mở khắp các nơi để nâng cao trình độ văn hóa cho dân chúng. "Tổng Hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc" được thành lập năm 1952, cũng như giáo hội Tăng già Trung, Nam, Bắc đều được chỉnh đốn. Những tổ chức mới này tuy chưa tiến triển được khả quan song cũng được phát đạt rực rỡ sau này. Đó là điều hy vọng lớn lao mà Phật tử chân chính đang chờ mong và cố gắng phát triển.
*
*    *

* Trang 390 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo