LOGO VNBET
CẢM ỨNG ĐẠO GIAO

Trên đường giáo hóa của đức Phật, Ngài đã thuyết pháp cho nhiều hội chúng trong đó có hội Pháp Hoa. Kinh này đức Phật nói cho hàng đệ tử căn cơ cao và đã thuần thục, trong đó có kinh Phổ Môn. Trong kinh Phổ Môn, Ngài nói nhiều về hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Các Phật tử thường niệm danh hiệu: Nam mô đại từ đại bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn linh cảm Quán Thế Âm Bồ-tát, tức là niệm danh hiệu đã được chỉ dạy trong kinh Phổ Môn. Vì trong kinh đó đức Phật nói rằng: "Thiện nam tử,nhược hữu vô lượng bách thiên vạn ức chúng sanh thọ chư khổ não văn kỳ Quán Thế Âm Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát tức thời quán kỳ âm thanh giai đắc giải thoát". Nghĩa là: Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh đang lâm vào cảnh khổ não mà nghe niệm đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát thì Quán Thế Âm Bồ-tát liền nghe tiếng niệm đó mà hiện đến cứu khổ cho. Sự linh nghiệm khi niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ-tát mà từ trước tới nay, biết bao nhiêu người khi niệm danh hiệu Ngài, có sự linh nghiệm cảm ứng đạo giao. Nhiều người đã nhờ sức niệm danh hiệu Ngài mà có sự linh nghiệm như

* Trang 21 *
device

gặp lửa lửa không cháy, gặp nước nước không trôi, gặp tai nạn thì đều qua khỏi...
          Đức Phật Quán Thế Âm Bồ-tát đã có nhiều cách cứu vớt chúng sanh khác nhau. Ở tại Việt Nam ta xưa, có một lần Ngài hóa hiện làm công chúa Diệu Thiện, xưa, là công chúa thứ ba con của vua Diệu Trang Vương. Vua Diệu Trang Vương này có ba người con gái:người thứ nhất là Diệu Thanh, người thứ hai là Diệu Âm và người thứ ba là Diệu Thiện. Hai người con gái trước đều lấy chồng, một mực đòi đi tu cho được. Vua cha lấy làm khó chịu, bực tức lắm và dọa rằng: "Được, ngươi không lấy chồng thì ta cho mi đi tu, mi ra ngoài vườn mà tu". Ông sai lính làm một cái chòi cho cô tu một mình nơi chỗ hẻo lánh, cực khổ để cho cô thối chí. Nhưng Diệu Thiện không nản lòng. Kế đó không thành, vua bèn nghĩ kế thứ hai: một hôm ông sai đem Diệu Thiên tới nơi chùa Thanh Tước, giao cho các Ni tăng ở đó để cai quản và giám sát cô. Ông nén cơn giận mà lẩm bẩm: "Ưng tu thì ta cho tới đó mà tu!" ông dặn các Ni tăng ở chùa Thanh Tước rằng phải làm thế nào, hoặc là khuyên lơn, hoặc là hành hạ, hoặc là khủng bố để cho Diệu Thiện trở về lấy chồng. Nếu không làm được như vậy thì ông sẽ đốt chùa.

* Trang 22 *
device

          Khi Diệu Thiện đến ở đó, các vị Ni tăng khuyên răng hết lời, nói nhỏ nói to, nói ngọt nói ngào để cho Diệu Thiện trở về lấy chồng. Khuyên không được trở qua hành hạ đủ cách, bắt gánh nước suốt ngày, bắt nấu cơm phục dịch không hở, bắt tụng kinh liên tục để cho Diệu Thiện chán nản và thối chí mà quay trở về. Nhưng Diệu Thiện quyết tâm trì chí làm theo mọi việc chứ không chịu trở về. Khi vua cho người tới dò hỏi, các vị Ni tăng đã khuyên Diệu Thiện trở về được chưa? Nhưng họ thưa lại rằng không có kết quả gì hết, nên vua sai quân lính tới phóng hỏa để đốt chùa. Trong khi vừa ra lệnh phóng hỏa thì sấm sét ầm ầm nổi lên, mưa gió trút xuống ào ào nên chùa không đốt được. Ông sai bắt Diệu Thiện trở về để giết nàng. Khi đem ra giữa pháp trường hành hình, người đao thủ phủ vừa cất đao lên chém thì ông Hổ xuất hiện nhảy bổ vào và cắp Diệu Thiện mang đi mất. Hổ mang đến nơi chùa Hương tích bỏ công chúa ở đó cho cô tu. Chùa Hương tích ở miền Bắc có thờ tượng Quán Thế Âm một phần cũng là do tích này. Khi bị bỏ lại ở đây, cô quyết chí tu hành không xao lãng, ngày đêm kinh kệ, trong thời gian tu hành cô thực hành hạnh từ bi của đức Phật nên sau một thời gian thì đắc đạo.
          Lại nói chuyện vua cha ở nhà khi nàng vắng mặt, phụ vương nàng bị mặc bịnh nan y, ngứa ngáy khắp

* Trang 23 *
device

người không ai chữa khỏi. Diệu Thiện ở chùa tu hành đắc đạo nên quán thấy cha mình bị mắc bệnh trầm kha không ai cứu chữa được, liền hóa hiện một vị Hòa thượng để vào thăm vua. Khi vào thăm vua, Hòa thượng đó mách rằng: Bịnh này của Ngài chỉ có đôi mắt, đôi tay của người con hết sức chí hiếu mới có thể chữa được mà thôi. Vua liền hỏi: làm sao có được người con chí hiếu mà cho được con mắt, đôi tay để chữa khỏi bịnh được, tìm đâu cho ra. Trẫm chỉ có ba người con, hai đứa con ở nhà chả có chí hiếu gì cả, còn đứa con thứ ba xét ra nó có chí hiếu thật đó, nhưng bị Hổ cắp tha mất rồi, làm sao có được. Hòa thượng nói với vua rằng: Không, thưa đức vua, người con thứ ba tên là Diệu Thiện đó còn sống và đang tu ở động Hương tích, nếu ngài cho người đến đó mà tìm chắc chắn người đó sẽ hy sinh tính mạng, móc mắt, cắt tay để đem về chữa bệnh cho ngài thì bệnh ngài sẽ khỏi. Ông vua nghe vậy liền cùng với quan quân thân hành tới đó thì quả nhiên thấy Diệu Thiện bằng xương bằng thịt đang tu ở đây. Cha con gặp nhau thì mừng lắm, ân cần thăm hỏi và vua cũng tỏ ý hối hận về việc làm không đúng của mình với Diệu Thiện, đồng thời nói bịnh hiểm nghèo của mình đang mắc phải.
          Khi biết bịnh nan y của cha như vậy thì Diệu Thiện phát tâm móc mắt, cắt tay để chữa bịnh cho

* Trang 24 *
device

cha. Nhờ đó mà phụ thân của nàng lành bệnh. Khi vua cha đã lành bệnh rồi liền đi tới nơi đó để thăm con thì con đã thành đạo, tức đức Phật Quán Thế Âm, cho nên mới có câu rằng:
                    Chơn như đạo Phật nhiệm mầu
                   Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân.
                   Hiếu là độ được đấng thân
                   Nhân là vớt khỏi trầm luân mọi loài.
                   Thần thông nghìn mắt nghìn tay
                   Cũng trong một điểm linh đài mà ra.
                   Ngẫm trong bể nước Nam ta
                   Phổ môn có đức Phật ba Quan Âm
                   Niệm Ngài hưởng niệm pháp âm.
          Đó là câu thơ tả về đức Phật Quan Âm Diệu Thiện. Niệm ngài thường niệm tại tâm, tức là lời dặn dò cho chúng ta cầu khẩn tới ngài, mong ngài cứu chúng ta tai qua nạn khỏi.
          Niệm nơi miệng không bằng niệm nơi tâm là vì sao? Niệm nơi miệng vì miệng không làm chủ được bản thân mà tâm mới làm chủ được bản thân. Tâm bắt miệng niệm, tâm có thành thì miệng mới thành, tâm không thành thì miệng không thành. Cho nên tâm thành thì cảm ứng đạo giao mới đầy đủ, còn tâm không thành thì miệng niệm thì không có cảm ứng giao được. Thế thì khi niệm bằng tâm là niệm thế

* Trang 25 *
device

nào? Niệm bằng tâm là niệm một cách hồn nhiên, chứ không phải niệm có suy tính. Ví dụ bây giờ niệm: Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát, con niệm Ngài, Ngài cứu cho con với. Ngài cứu cho con bằng cách nọ hay cách kia. Khi niệm Ngài mà tính toán như vậy thì tâm không nhất, đó là niệm bằng trí thức chứ không phải niệm bằng tâm. Niệm bằng trí thức là sao? Ví dụ: ta gặp một em bé mà không phải con em của mình, nó té ngã giữa đường, mình muốn cứu vớt nó. Nhưng khi cứu thì nghĩ đi nghĩ lại, thôi đỡ nó lên kẻo tội, không biết con ai mà bị té như thế này. Hay có nhớ ra thì nói: Nó là con ông A nhà bên cạnh, thôi cố gắng đỡ nó dậy kẻo tội nghiệp. Trong khi đưa tay đỡ đứa bé dậy là đỡ với sự tính toán rằng: Nó là đứa con ông bạn nhà hàng xóm bên cạnh, đỡ dậy một chút kẻo tội. Đó là cách đỡ để làm phước, nhưng cái sự làm phước đó có sự tính toán bằng trí bằng thức. Còn nếu khi con mình bị té như vậy thì đưa tay đỡ liền, không tính toán gì cả. Khi té như vậy thì cha mẹ tự trong tâm chủ động đưa tay ra đỡ ngay, không tính toán gì cả. Cho nên nói: Niệm Ngài thường niệm tại tâm, tức niệm với một tâm hồn hồn nhiên, một tinh thần gắng bó chặt chẽ như tình thương của cha mẹ dành cho con.
          Khi chúng ta có một tâm hồn nhiên niệm Ngài như vậy thì Ngài cũng đem một sức từ bi hồn nhiên

* Trang 26 *
device

mà cứu vớt để độ chúng ta và muôn loài. Còn niệm theo cách tính toán thì không có tác dụng bao nhiêu, vì tính toán thì không nhất tâm. Trong khi niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát mà suy cách này tính cách kia như vậy thì trong tâm không thuần túy nên sự cảm ứng không đầy đủ. Nên người xưa đã khuyên: Niệm Ngài niệm ở tại tâm.
          Hôm nay là ngày kỷ niệm vía đức Quán Thế Âm Bồ-tát, chúng tôi xin nhắc lại hạnh nguyện của Ngài để cho các đức Phật biết và mong các Phật tử hãy hướng về đức Quán Thế Âm để niệm danh hiệu của Ngài. Ngoài ý nghĩa cứu khổ, đức Quán Thế Âm Bồ-tát còn có nghĩa là Đại Từ Bi. Ngài sở dĩ được gọi như vậy vì Ngài luôn luôn cứu độ chúng sinh tai qua nạn khỏi bằng tâm lực đại bi. Nếu không có đức từ bi thì Ngài không có cứu độ ai hết. Không từ bi thì không có sức cứu độ. Cho nên nhiều người gọi Quán Thế Âm Bồ-tát là Quán Từ bi. Cho nên niệm Ngài là niệm Đại Từ bi. Mà niệm Đại Từ bi thì tâm của chúng ta cũng đồng hành theo hạnh Đại từ bi đó, như nước có trong thì trăng mới hiện, nước không trong thì trăng không hiện. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát như mặt trăng, lòng chúng ta như hồ nước. Hồ nước có trong thì trăng mới hiện xuống, hồ nước không trong thì bóng trăng không hiển hiện. Nước lờ mờ thì trăng hiện lờ mờ, nước trong suốt như

* Trang 27 *
device

gương thì trăng hiện mới đẹp. Tâm của chúng ta là nước, bóng trăng là ngài. Tâm ta trong thì bóng ngài hiện ra một cách toàn diện. Đó là cảm ứng đạo giao. Như vậy là trăng không đi tới với nước mà trong nước vẫn có trăng.
          Đức Quán Thế Âm luôn luôn hiện ra cùng khắp, nơi nào Ngài cũng hiện hết, vì thế ở phương đông, phương tây, phương nam, phương bắc cùng một lúc niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát thì cũng cùng một lúc có được đức Quán Thế Âm Bồ-tát thần thông thị hiện khắp nơi, cho nên gọi là Phổ môn. Phổ là khắp, môn là pháp môn. Ngài dùng đủ pháp môn để độ cho tất cả chúng sanh. Phổ cũng có nghĩa khác là ngài đi đến gõ cữa khắp mọi nhà để độ chúng sanh, không kể lớn, không kể nhỏ, không kể trai hay gái, không kể chức quyền hay ngu dốt, hễ có niệm cầu là có sự ứng cảm của ngài, cho nên gọi là Phổ môn thị hiện. Ngài thị hiện đến độ cho chúng sanh, đó là công hạnh của đức Quán Thế Âm, và đó cũng là ý nghĩa niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm.
          Hôm nay là ngày lễ vía đức Quán Thế Âm, tôi xin nhắc lại sơ lược công hạnh của Ngài như vậy để mong các Phật tử luôn luôn chú tâm thành kính tưởng niệm ngài bất cứ lúc nào, chưa gặp nạn ta vẫn tưởng, khi gặp nạn rồi vần phải tưởng niệm nhiều

* Trang 28 *
device

hơn nữa để được cảm ứng đạo giao bất khả tư nghì. Trong kinh có dạy hễ có nhơn thì có quả, chúng ta có niệm Ngài thì sẽ cảm ứng được đạo giao nan tư ngì nơi Ngài.
          Nam-mô Tầm thanh cứu khổ Cứu nạn Linh cảm Quán Thế Âm Bồ-tát.
*
*    *

* Trang 29 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo