LOGO VNBET
RỪNG LỘC UYỂN

          Sau khi đức phật thành đạo bên cội Bồ-đề, ngài bước ra khỏi cội-Bồ đề đi đến với trần gian để giáo hóa chúng sinh. Trước tiên ngài bước đến rừng Lộc Uyển để hóa độ cho 5 vị Tỳ-kheo, đứng đầu là A-nhã Kiều-trần như. Rừng này gọi là vườn nai (Lộc uyển). như vậy lịch sử rừng Lộc uyển bắt đầu nổi tiếng từ khi đức phật đi tìm năm người đồng tu khổ lạnh. Chữ Lộc uyển hay Sarnath chính là chỗ ở của các loài nai. Người đời sau sau gọi tắt là thành Sarnath. Trong kinh tạng pafli thường dùng chữ Migadàya hay Isipatana, có khi dùng cả hai là Migadàya và Isipatana. Isipatana chữ Sanskrit nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ. Sau này ngài Pháp Hiển dịch là chỗ ở của các ngài ẩn sĩ tịnh tu. Theo sự tích thì ở đây còn có một chi tiết quan trọng là thời xưa có một số Bích-chi phât xuống( vườn nai) nhập diệt trên hư không, rồi thân thể rơi xuống miền đất này. Dầu thế nào, Isipatana cũng là một khu vực quan trọng, gồm cả Migadàya( vườn nai). Các vị tu sĩ thường ở đây để tu tập thiền quán. Con chữ Migadàya nghĩa là lộc uyển là chỗ vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Do đó chỗ này là chỗ

* Trang 30 *
device

lý tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị về đây tụ tập thiền quán.
          Trong kinh co một chuyện tiền thân rất hay gọi là Nigro-dhamiga, co liên quan đến chỗ này, và hàm nhiều ý nghĩa giáo dục, mà ngài Huyền Trang thuật lại như sau:
          Chính chỗ này, ở trong một khu vườn rộng, có một ngọn tháp uy nghi còn sót lại và là chỗ Đề-bà-đạt-đa cùng với Bồ tát trong một kiếp đều làm vua của loài nai. Lúc ấy giữa một khu rừng rất lớn, có hai bầy nai, mỗi bầy có 500 con và do hai con nai chúa nói trên chỉ huy. Một của tiền thân Bồ-tát( đức thich ca), và một đoàn khác do Đề-bà-đạt-đa cai quản. Vua trong nước Ba-la-nại thường hay đi săn bắn khắp nơi. Một hôm Bồ-tát( Lộc Vương) đến gặp đức vua và tâu rằng: Thưa Đại Vương, nếu Đại vương đốt cháy những khu vực săn bắn của Đại vương và bắn chết những thuộc hạ chúng tôi trong đêm tối. Chúng tôi sẽ chết thối chết ươn, trước khi mặt trời mọc và như thế thịt chúng tôi không thể dùng làm đồ ăn tươi tốt được. Vậy mong Đại vương để cho chúng tôi, mỗi ngày cung hiến một con nai để Dại vương dùng. Như vậy Đại vương luôn luôn có thịt tươi và chúng tôi có thể kéo dài sự sống. Nhà vua chấp thuận lời đề  nghị này, và bảo đánh xe trở về cung. Từ đó mỗi ngày một con

* Trang 31 *
device

Nai từ một bầy đi đến chỗ vua ở và chịu chết. Lần lược bầy này rồi đến bầy khác. Lúc bấy giờ trong bầy cúa Đề-bà-đạt-đa, một con có mang đến luocwj phải chịu chết. Con nai này đến trước nai chúa của mình tức Đề-bà-đạt-da mà tâu rằng : Dầu tôi bằng lòng chịu chết, nhưng chưa phải đến phiên con tôi trong bụng phải chịu chết, vậy ngài hãy cho một con khác thay tôi, khi nào con tôi lớn, chúng tôi sẽ đem hai thân thể chịu chết. Nai chúa tức giận quát rằng: Đây có ai mà chẳng biết quí mạng sống? con nai cái thở dài trả lời: Nhưng tâu bệ hạ, bệ hạ thật không nhân đạo tí nào, thiếu tình thương đòng loại, nếu bệ hạ giết những gì chưa sanh. Đề-bà-đạt-đa  vẫn nhất định không nghe. Con nai này liền đến tỏ cảnh ngộ khốn cùng của mình cho Bồ-tát( nai chúa của bầy kia). Bồ-tát nói với một giọng diệu hiền: Cao quí thay trái tim của người mẹ thương những gì chưa được sống. Hôm nay ta sẽ chịu chết thế cho ngươi. Vì ta không co quyền bắt buộc ai khác phải chịu số phận này...
          Rồi nai chúa đi đến cung vua và đặt đầu mình trên bàn đợi người đồ tể cắt cổ ! những người đi đường hay chuyện ấy, truyền tin cho nhau và bảo rằng: Nai chúa thật là kỳ kiệu. Dân chúng cùng các quan viên vội vã đến xem. Khi nghe tin này, vua không tin là sự thật. Nhưng đến khi người thị vệ vào tâu lại sự thật là thế, nhà vua mới tin. Đoạn vua hỏi nai chúa

* Trang 32 *
device

rằng : Tại sao ngươi lại đến đây ? Nai chúa tâu: Một con nai có mang đến lược phải chết, tôi không nỡ lòng nào để một con nai chưa sinh phải chịu chết oan, nên tôi đến thay thế cho con nai có mang ấy, vua nghe rồi thở dài nói rằng : Ta thật có một chân người, nhưng không giống như con nai, trái lại con nai này tuy mang thân nai nhưng có những điểm khác lạ hơn loài người. Nhà vua thương xót cảm động và tha cho nai chúa, không bắt buộc mỗi ngày phải nạp một con nai nữa. Vua để cả khu rừng cho loài nai và vì thế khu rừng này được gọi là khu rừng của loài nai( Lộc uyển).
          Do nguyên nhân đó mà đàn nai sống từ thế hệ này sang thế hệ khác đều tự do tự tại trong bầy đàn của nó ở trong rừng này. Và chính chỗ này, các vị tu hành năng đến đó để tu tập, cho nên rừng đó gọi là rừng nai. Rừng nai cắt nghĩa theo chữ Hán la rừng Lộc uyển. Uyển là rừng, Lộc là nai, tức rừng nai là vì lý do đó.
          Trước có 5 vị Tỳ-kheo cùng tu khổ hạnh với phật, sau thấy đức phật thọ thực họ nói rằng, đức phật đã thối chí rồi nên tách riêng đến đó để tu hành. Khi đức phật thành đạo, ngài đến đó trước tiên đế độ cho họ. Lần lượt từ đó trở đi trong 45 năm từ phương này đến xứ khác, từ nước nọ đến nước kia, cứ ngày đi đêm nghỉ, gặp cơ duyên nào thì tùy theo đó mà hóa độ cho

* Trang 33 *
device

chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử. Đó gọi là rừng nai.
          Câu chuyện trên cho ta rõ nguyên thủy tên gọi của chỗ này. Thật là xứng hợp. Từ đó khu rừng này trở thành một địa điểm tốt đẹp, an lành của loài nai, cho đến thời đức phật. Những tượng tả các sự tích trong đời sống đức phật đều có vẽ hai con nai hai bên, ở giữa là pháp luân. Hiện nay còn có một đàn nai ở sau chùa Mulagandhakuti.
          Như đã nói trên, đức phật an cư 3 tháng đầu tiên tại chỗ này, sau khi ngài đắc đạo, Sarnath hình như không phải là chỗ thường trú của đức phật và các đệ tử thân tín của ngài. Có thể ngài chỉ đến thăm hai hay ba lần sau khi chuyển pháp luân. Nhưng các đệ tử ngài thường đến tu hành tại chỗ này. Điều chắc chắn là cuối thế kỷ thứ IV trước T.L. Sarnath trở thành một nơi rất quan trọng. Khi vua A-dục lên ngôi, chỗ này trở thành một địa điểm rất thạnh hành của phật giáo. Vua A-dục có dựng nhiều trụ đá để kỷ niệm, nhưng tiếc hiện nay không tìm thấy, trừ trụ đá đã nói trên kia. Sau vua A-dục, chúng ta không được biết lịch sử nối tiếp của Sarnath. Chỉ khi ngài pháp Hiển đến thăm vào thế kỷ thứ V, chúng ta mới biết được thêm. Theo ngài pháp Hiển, Sarnath là một nơi phồn thịnh. Như vậy chắc một vài thế kỷ trước cuộc chiêm bái của ngài,

* Trang 34 *
device

chỗ đó nơi phồn thịnh, nhưng có lẽ thời kỳ phồn thịnh nhất là vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba và thứ bảy( 250 650 sau tây lịch) như những tượng đá và phần nhiều những đồ chạm khắc đều thuộc về thời đại trên. Hầu hết những tháp chưa được đáo lên đều chứng tỏ các vật dụng dùng làm chùa tháp cùng các bia ký tìm được cũng đều thuộc về thời đại này. Chỉ trừ cột trụ của vua A-dục là dựng lên vào năm 250 trước T.L và ngôi chùa của bà Kumara Devi là dựng lên vào năm 1192 sau T.L.
          Vào thế kỷ thứ sáu. Mihircula, giặc hung nổi lên, tàn phá chỗ này, nhưng theo ký sự của ngài Huyền Trang thì hình như vào thế kỷ thứ bảy, chỗ này được sửa sang lại tất cả, vì ngài không nói gì đến những dấu vết tàn phá. Những thế kỷ sau, cũng không có gì đáng kể, chắc chỗ ấy vẫn được thịnh vượng, dến thế kỷ thứ 10, Sarnath bắt đầu bị suy tàn, và dầu có nhiều Phật tử cố gắng phục hưng, nhưng không có ảnh hưởng mấy. Bà-la-môn càng ngày càng bành trướng mạnh, và đồ đệ Ba-la-môn giáo bắt đầu lập những đền thờ tại chỗ này. Đến thế kỷ thứ hai, lại bị vua Mahumud Gaznavi đến cướp phá và cuối cùng là bị ông Kutbubdin, một tướng của vua Mahmud Ghrori đến cướp phá tất cả những gì còn lại của sarnath. Từ đó sarnath hoàn toàn bị hoàn cảnh chi phối nên các Phật tử bỏ phế, các tháp chùa bị phá đổ, chỉ trừ hai

* Trang 35 *
device

tháp chính nói trên, từ thế kỷ ấy đến thế kỷ thứ 17, chúng ta không biết gì đến lịch sử Sarnath, chắc chỗ ấy hoàn toàn bị hoang phế,dân chúng không dám lai vãng. Năm này qua năm khác, những trận cuồng phong mang cát bụi đến chồng chất lên, bao phủ sarnath. Cây cối mọc lên  đến nỗi toàn cảnh bị chôn lấp dưới một lớp cỏ cây um tùm. Đến khi những nhà khảo cổ đến đào bới để tìm di tích, chúng ta mới được biết đến Sarnath. Đầu năm 1834, tướng Makenzie đến đào lại chỗ ấy gặp nhiều di tích. Rồi đến nhà khảo cổ Alexander Cunningham, người đã phải xuất tiền riêng để đào thọ cuộc tìm kiếm. Những vật ông ta tìm được cất tại viện báo tàng ở Calcutta. Nếu biết thời ấy cùng một số tượng cùng gạch đá ở sarnath đều đem về làm trường Queen College, cầu Ducan, và nhà ga Bennarès. Chỉ một cầu Ducan cũng đã dùng đến 48 tượng đá lắm rồi. Bắt đầu năm 1851, ông Kittoe đến đào, tìm lên được ngôi chùa và đặt tên là chùa Kittoe. Năm 1905, Viện Bác Cổ đào lên những di tích đa dược nói trên. Nhưng tất cả công nghiệp trên chỉ khiến cho một số học giả được biết đến Sarnath, còn dân chúng nhất là phật tử bốn phương, không một ai nghĩ đến phật tích quan trọng này. Phải đợi đến khi ngài Dharmapala đến tại chỗ này, vào năm 1891, mới có một cuộc phục hưng phật giáo thực sự. Khi ngài đến,Sarnath là một chỗ đầy

* Trang 36 *
device

những cây dại, và là chỗ nuôi súc vật, nhớp nhúa đến nỗi ngài không dám dặt chân vào. Ngài quyết định phục hưng lại chỗ này. Trước hết ngài mua một mảnh đất, do mẹ ngài bà Kakkika Hewavitarne Lamtani cúng tiền, để làm chỗ dựng chùa hiện tại, rồi ngài lại mua thêm một miếng nữa do vua Raja Bhinga cúng tiền. Ngài còn có ý định mở một lớp giáo dục tân tiến, kỹ nghệ hóa để chấn chỉnh nông nghiệp. Nhưng các sự nghiệp của ngài phần lớn bị thất bại, vì lúc bấy giờ dân chúng phản đối những gì mới mẻ do ngài chủ trương. Tuy nhiên ngày nay chúng ta thấy ngài đã dựng được ngôi chùa Mulàgandakuti, lập được nhiều trường học cho dân chúng, mở nhà thương thí v.v...Chính những công nghiệp này thức tỉnh các phật tử tự tích cực hoạt động mãi cho đến ngày nay và phuc hồi một phần nào những hưng thịnh ngày xưa. Ai nấy đều công nhận công trình đầu tiên của ngài Dhamapala thật lớn lao đối với cuộc phục hưng Phật giáo ở ấn Độ. Trên đây là những điều mà tôi và hòa thượng Minh Châu khi viếng thăm các Thánh tích phật giáo nổi tiếng ở ấn năm 1994 nghe kể lại.

* Trang 37 *
device

 
Hư Tâm Học Đạo