LOGO VNBET
      “Ví như có trận mưa rất lớn trên núi cao, nên dòng nước dưới chân núi dâng cao mênh mông. Những người ở hai bên bờ nước đều không biết mức sâu cạn thế nào, nên sợ chẳng dám lội qua.
     “Bấy giờ có người từ xa đến, nhìn dòng nước biết được mức rộng hẹp, sâu cạn, rồi tự lượng sức mình, liền lội xuống nước mà vượt qua. Những người ở hai bên bờ nước liền bắt chước theo người ấy, đều lội qua được dòng nước.
     “Hàng đệ tử Phật cũng giống như vậy, phát khởi tâm thành tín vì thấy những người đi trước được tâm thanh tịnh, đắc các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, đều là nhờ nơi có thiện tâm với sức tinh tấn.
     “Kinh Phật dạy rằng: Người có tâm thành tín, có thể vượt ra khỏi thế tục. Người tu hành trước phải kiềm chế, ngăn chặn được năm mối tham dục, tự biết thân này là khổ, sau mới có thể cứu độ cho người khác. Hết thảy đều là nhờ nơi trí tuệ mà thành tựu đạo đức vậy.”
Vua tán thán rằng: “Hay thay! Hay thay!”

4. HIẾU THUẬN
      Vua lại hỏi: “Bạch đại đức, những gì được gọi là hiếu thuận?”(1)
      Na-tiên đáp: “Tất cả các điều lành đều là hiếu thuận. Phàm ba mươi bảy pháp trợ đạo đều do nơi hiếu thuận làm gốc.”
­­­­­­­­­­­­_______________________
(1) Khái niệm hiếu thuận ở đây được mở rộng hơn cách hiểu thông thường chỉ liên quan đến ông bàm cha mẹ hiện thế...Có người cho rằng có sự lệch về cách dùng từ ở đây, nhưng chúng tôi vẫn giữ nguyên, vì quan điểm mở rộng chữ “hiếu” còn được thấy ở nhiều kinh điển khác, không riêng gì ở đây.

* Trang 35 *
device

     Vua hỏi: “Những gì là ba mươi bảy pháp trợ đạo?”
      Na-tiên đáp: “Đó là Bốn pháp dừng ý, Bốn pháp đoạn ý, Bốn pháp thần túc, Năm căn, Năm sức, Bảy giác ý và Tám chánh đạo.”
     “Những gì gọi là Bốn pháp dừng ý?”
     “Phật dạy rằng, một là quán thân thì thân dừng, hai là quán bệnh khổ thì bệnh khổ dừng, ba là quán ý thì ý dừng, bốn là quán pháp thì pháp dừng. Như vậy gọi là Bốn pháp dừng ý.”(2)
      Vua lại hỏi: “Những gì là Bốn pháp đoạn ý?”
      “Khi đã phân biệt được Bốn pháp dừng ý nói trên, không còn khởi niệm trở lại nữa, gọi là Bốn pháp đoạn ý. Đã được Bốn pháp đoạn ý, trong ý niệm liền tự nhiên được Bốn thần túc.”
      “Những gì là Bốn thần túc trong ý niệm?”
      “Một là mắt có thể nhìn thấu khắp nơi, hai là tai có thể nghe thấu khắp nơi, ba là có thể biết được chỗ suy nghĩ trong tâm người khác, bốn là có thể bay đi trên không. Đó là Bốn thần túc trong ý niệm.”
      Vua hỏi: “Còn những gì gọi là Năm căn?”
      Na-tiên đáp: “Một là mắt thấy các hình sắc đẹp đẽ hay xấu xí, trong ý đều không tham đắm. Hai là tai nghe các âm thanh êm dịu hay lời nhục mạ, trong ý đều không tham đắm. Ba là mũi ngửi mùi hương thơm tho hay khó ngửi, trong ý đều không tham đắm. Bốn là lưỡi nếm các
__________________
(1) Bản Hán văn gọi là Tam thập thất phẩm kinh, chính cách gọi phổ biến ngày nay là Tam thập thất phẩm trợ đạo, tức là ba mươi bảy pháp giúp đạt đến quả vị Bồ-đề.
(2) Về bốn pháp này, các kinh khác ghi là Tứ niệm xứ, là bốn pháp quán niệm căn bản, bao gồm thân, thụ, tâ, và pháp.

* Trang 36 *
device

 mùi vị ngon ngọt hay cay đắng, trong ý đều không tham đắm. Năm là thân thể xúc chạm êm dịu, trong ý cũng không vui thích; thân thể xúc chạm thô cứng, trong ý cũng không khó chịu. Như vậy gọi là Năm căn.”(1)
       Vua lại hỏi: “Còn những gì gọi là Năm sức?”
       Na-tiên đáp: “Một là chế ngự được mắt, hai là chế ngự được tai, ba là chế ngự được mũi, bốn là chế ngự được lưỡi, năm là chế ngự được thân. Nhờ đủ sức chế ngự được năm giác quan ấy nên tâm ý không bị sa đọa, như vậy gọi là Năm sức.”
       Vua hỏi: “Những gì là Bảy giác ý?”
       Na-tiên đáp: “Một là Ý giác ý, hai là Phân biệt giác ý, ba là Tinh tấn giác ý, bốn là Khả giác ý, năm là Ỷ giác ý, sáu là Định giác ý, bảy là Hộ giác ý. Đó là Bảy giác ý.”(2)
       Vua hỏi: “Những gì gọi là Tám món đạo hạnh?”(3)
       Đáp: “Một là chỗ thấy biết chân chánh, hai là suy nghĩ chân chánh, ba là lời nói chân chánh, bốn là việc làm chân chánh, năm là đời sống chân chánh, sáu là tinh tấn chân chánh, bảy là chỗ nhớ nghĩ chân chánh, tám là định ý chân chánh. Đó gọi là Tám món đạo hạnh.(4)
_________________
(1) Căn ở đây được hiểu là căn bản, nghĩa là những điều quan trọng, phải dựa vào đó làm gốc.
(2) Các kinh khác ghi là Bảy giác chi, gồm có Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Khinh an giác chi, Hỷ giác chi, Niệm giác chi, Định giác chi và Xả giác chi.
(3) Bát chuẩn đạo hạnh, tức là Tám chánh đạo.
(4) Bản Hán văn dùng chữ trực, thay vì chữ chánh, như hiện nay. Chúng tôi cho rằng chỉ là khác biệt về cách chọn dùng từ, vì nội dung này vẫn phù hợp với Bát chánh đạo. Cũng như tất cả những chỗ chỉ dùng đến vị giác trong bản ki8nh này, đều dùng chữ khẩu, thay vì chính xác hơn là chữ thiệt.

 

* Trang 37 *
device

 
Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên