LOGO VNBET
   Na-tiên đáp: “Người học viết, học vẽ đều có ghi nhớ, do đó mới có thể dạy lại cho đệ tử sau này. Vậy nên biết là có trí nhớ.”
   Vua tán thán: “Hay thay!”

4. PHÁT KHỞI TRÍ NHỚ
   Vua lại hỏi Na-tiên: “Bạch đại đức, người ta do nơi những việc gì mà gợi nên trí nhớ?”
   Na-tiên đáp: “Người ta có mười sáu việc làm cho nhớ lại việc đã qua. Một là nhớ được những điều đã làm từ rất lâu xa. Hai là thấy người mới học nên nhớ. Ba là nhớ đến những việc lớn quan trọng. Bốn là nhờ nghĩ điều lành nên nhớ. Năm là nhớ đến những điều khổ sở. Sáu là thường suy nghĩ đến nên nhớ. Bảy là những điều thường làm khác nhau đều nhớ biết. Tám là nhờ người khác nhắc nhở mà nhớ. Chín là nhớ những việc tương tự, gần giống. Mười là nhớ những điều mình đã từng hay quên. Mười một là nhớ những điều mình hiểu rõ. Mười hai là nhớ những điều mình đã tính toán, học làm theo. Mười ba là mắc nợ nần nên nhớ. Mười bốn là nhờ chuyên tâm không tán loạn cho nên nhớ. Mười lăm là nhớ những điều đọc thấy trong sách vở. Mười sáu là nơi mình đã từng sống, nay nhìn thấy lại nên nhớ.”
   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ lại những điều đã làm từ rất lâu xa?”
   Na-tiên đáp: “Như ngài A-nan, đệ tử của Phật, và nữ cư sĩ Cưu-thù-đan-bãi, nhớ lại được những điều từ nhiều đời trước. Nhiều vị tu chứng khác nữa, cũng có khả năng nhớ lại được việc từ nhiều đời trước. Những người trong chúng tu học được như A-nan và vị nữ cư sĩ ấy nhiều lắm.

* Trang 106 *
device

    Khi nhớ được điều này lại có thể nhân đó nhớ được điều khác nữa.”(1)
    Vua hỏi: “Thế nào là thấy người mới học nên nhớ?”
    Na-tiên đáp: “Như người đã từng học hỏi, tính toán, làm được điều gì, sau quên mất. Nay nhìn thấy người khác học hỏi liền nhớ lại.” (2)
    Vua hỏi: “Thế nào là nhớ đến những việc lớn, quan trọng?”
    Na-tiên đáp: “Ví dụ như vị thái tử được lập lên làm vua, cho đó là việc lớn quan trọng, vì giúp mình được trở nên cao quý. Nghĩ như vậy nên ghi nhớ.” (3)
    Vua hỏi: “Thế nào là nhờ nghĩ điều lành nên nhớ?”
    Na-tiên đáp: “Ví dụ như người ta có ý tốt mời thỉnh người khác đến chiêu đãi, trong lòng tự nghĩ rằng: Ngày ấy, ta mời thỉnh người ấy với ý tốt muốn cung phụng, đãi ngộ. Do ý tốt ấy mà ghi nhớ.”(4)
___________________
(1) Như loại tri nhớ này thường chỉ những chĩ những bậc có tu tập chứng ngộ mới đạt được. Tuy rằng thỉnh thoảng cũng có một đôi  người thường có được năng lực tương tự, nhớ được những việc rất xấu xa từ đời trước, nhưng thường họ không thể hiểu được tại sao.
(2) Vì đã từng học hỏi, làm được nên trong trí đã sẵn nhớ việc ấy. Khi nhìn thấy những người mới học việc ấy thì gợi cho mình nhớ lại được như trước.
(3) Những việc đối với người là quan trọng thì khiến mình ghi nhớ. Như có hai học sinh cùng được nhận học bổng. Một người là con nhà giàu có, học giỏi nên được nhận. Người ấy không lấy làm quan tâm, nên sau có thể không nhớ kỹ việc ấy. Ngược lại, người kia là con nhà nghèo khó, nhờ học bổng ấy mà có thể tiếp tục việc học. Vì là quan trọng  đối với anh ta, nên có thể ghi nhớ mãi mãi về sau.
(4) Trí nhớ này sinh khởi từ thiện tâm. Như người phát tâm muốn cúng dường một vị cao tăng. Trong lòng có thành ý nên lúc nào cũng lo lắng, nghĩ nhớ việc làm sao cho chu đáo. Nhờ vậy mà ghi nhớ.

* Trang 107 *
device

   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ đến những điều khổ sở?”
   Na-tiên đáp: “Ví như người đã từng bị người khác giam hãm, tù đày khổ sở nên ghi nhớ.” (1)
   Vua hỏi: “Thế nào là thường nghĩ đến nên nhớ?”
   Na-tiên đáp: “Ví dụ như những điều người ta thường trông thấy, như người, vật quen thuộc trong gia đình, thường nghĩ đến nên đều ghi nhớ.”(2)
   Vua hỏi: “Thế nào là những điều thường làm khác nhau đều nhớ biết?”
   Na-tiên đáp: “Ví dụ như tên người, cảnh, vật khác biệt nhau, màu sắc, hương vị... mà người ta ghi nhớ.”(3)
   Vua hỏi: “Thế nào là nhờ người khác nhắc nhở mà nhớ?”
   Na-tiên đáp: “Ví như người ta tính hay quên. Những người bên cạnh lại có kẻ nhớ, người quên. Người quên nhờ người nhớ nhắc cho nên nhớ lại.” (4)
______________________
(1) Đây chỉ là nói đơn cử một ví dụ. Những trường hợp tương tự khác, như người bị thất tình, bị lường gạt, bị hỏa hoạn, mất cha, mất mẹ…nói chung là những điều gây đau khổ, đều do đó mà ghi nhớ rất lâu.
(2) Trí nhớ này là do sự quen thuộc. Sự suy nghĩ đến đối tượng có khi chỉ là hoàn toàn vô tình thôi. Như bạn học trong lớp, bạn cùng sở làm… nhiều khi không hề có quan hệ giao tiếp, nhưng do nhìn thấy hàng ngày mà nhớ, hoặc như người ta nhớ tên những phát thanh viên trên truyền hình chẳng hạn.
(3) Trí nhớ này chính là loại trí nhớ giúp người ta có được những kiến thức thường thức. Nó phát khởi là nhờ sự thực hiện hàng ngày, như gọi tên người, phân biệt sự vật…Những điều ấy dù không thuộc cùng một loại, nhưng đều là do thường dùng đến hàng ngày mà nhớ.
(4)Thật ra người quên trong trường hợp này chưa phải là quên hẳn, cho nên chỉ cần có người nhắc lại là nhớ ra. Như gặp lại người bạn cũ ngày xưa chẳng hạn. Có khi không nhớ ra tên người ấy, nhưng có người bên cạnh nhắc cho thì nhớ ngay.

* Trang 108 *
device

   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những việc tương tự, gần giống?”
   Na-tiên đáp: “Người ta cho đến trâu, ngựa... mỗi loài đều có những điểm giống nhau trong loài của mình. Người ta nhờ đó mà ghi nhớ.” (1)
   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình đã từng hay quên?”
   Na-tiên đáp: “Ví như có những việc mình hay quên mất, nhiều lần được người khác nhắc nhở nên tự mình luôn tâm niệm về việc ấy, nhờ vậy mà ghi nhớ.”(2)
   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình hiểu rõ?”
   Na-tiên đáp: “Ví như người học viết, chú ý tìm hiểu rõ về các con chữ nên ghi nhớ.” (3)
   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình đã tính toán, học làm theo?”
   Na-tiên đáp: “Ví như người vừa tính toán việc gì, lại vừa tự mình học làm theo được hoàn tất, có thể phân biệt
_____________________
(1) Đây là trí nhớ khái quát, theo chủng loại. Như đi sở thú nhìn thấy con chuột túi, liền ghi nhớ đặc điểm của nó. Nếu về sau tình cờ gặp lại ở đâu khác, liền nhận ra đó là con chuột túi. Nhưng thật khôn thể phân biệt được có phải là con mà mình đã gặp lần trước hay không, chỉ có thể biết là chúng cùng chủng loại mà thôi.
(2) Chính vì những điều mình hay quên, đã quên nhiều lần nên gợi sự quan tâm chú ý. Nhờ đó mà không quên nữa.Như học sinh làm bài, thường vấp phải một lỗi nào đó, nhiều lần bị thầy cô nhắc nhở, liền ghi nhớ. Về sau, có thể nhớ được điều ấy rõ hơn cả những điều khác nữa.
(3) Trí nhớ này có nhờ người ta hiểu biết cặn kẽ về sự việc. Như trong học tập thì nó khác biệt với lối nhớ do học thuộc lòng. Ví dụ như người học nghề, hiểu rõ được trình tự công việc thì mới ghi nhớ lâu dài được.

* Trang 109 *
device

 rất rõ ràng. Đó là nhờ có học hỏi, tính toán và làm theo mà nhớ.”(1)
   Vua hỏi: “Thế nào là mắc nợ nần nên nhớ?”
   Na-tiên đáp: “Ví như người có món nợ, lúc nào cũng nhớ nghĩ đến. Như vậy gọi là mắc nợ nần cho nên nhớ.”(2)
  Vua hỏi: “Thế nào là nhờ chuyên tâm không tán loạn cho nên nhớ.”
   Na-tiên đáp: “Ví như vị sa-môn nhờ tu tập có thể đạt đến chỗ nhất tâm, liền tự nhớ lại những việc từ ngàn vạn đời trước cho đến nay. Như vậy bần tăng gọi là nhờ chuyên tâm không tán loạn cho nên nhớ lại.” (3)
   Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều đọc thấy trong sách vở?”
   Na-tiên đáp: “Ví như các vị đế vương có những quyển sách rất cổ xưa. Nhờ đó biết được ngày trước có vị vua như thế, vào tháng năm như thế, đã ghi trong sách này... Như vậy là nhờ đọc sách mà nhớ biết việc trước kia.”(4)
_____________________
(1) Vì có để tâm học hỏi, làm theo được thành tựu cho nên ghi nhớ. Ví như người học đàn, chỉ ngồi nhìn thì không nhớ, khi tự tay mình có thể cầm đàn mà gẩy nên khúc nhạc thì ghi nhớ rất lâu.
(2) Ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng. Như người có lời hứa chưa thực hiện, hoặc có tâm nguyện chưa hoàn thành…đều luôn nhớ đến những sự việc ấy.
(3) Đối với những người chưa đạt đến chỗ nhất tâm, nhưng nếu chú ý vào việc gì cũng có thể phát khởi trí nhớ mạnh mẽ hơn. Như  người đầu bếp nếu tập trung được sự chú ý trong khi nấu ăn, sẽ không có sai sót. Ngược lại, nếu suy nghĩ điều gì khác làm phân tâm, sẽ có thể quên mất nhiều điều không đáng quên.
(4) Cách nhớ này có thể xem là gián tiếp ghi nhớ. Người ta áp dụng các hình thức như viết nhật ký, ghi sổ tay các cuộc hẹn, ghi sổ công tác…đều là vận dụng cách nhớ này. Bởi vì nhờ khi đọc các hình thức ghi chép đó, người ta nhớ lại được những điều cần nhớ.

* Trang 110 *
device

 
Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên