LOGO VNBET
CHƯƠNG II
THIỀN SƯ MINH HẢI PHÁP BẢO VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
 
I. BỐI CẢNH XÃ HỘI QUẢNG NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XVII
1. Khái quát quá trình hình thành tỉnh Quảng Nam
Kể từ độ cha ông mang gươm đi mở nước với chủ trương Nam tiến, cánh chim Lạc đã sải cánh bay mãi vào phương Nam cho đến tận Hà Tiên, Rạch Giá. Một trong những vùng đất đầu tiên sáp nhập vào bản đồ Đại Việt chính là miền Thuận Quảng, trong đó có tỉnh Quảng Nam ngày nay. Mảnh đất “Chưa mưa đã thấm” đã ghi lại những dấu chân đầu tiên của người dân Việt trong suốt thời gian mở mang bờ cõi.
Sau cuộc hôn nhân của Huyền Trân công chúa với vua Chiêm là Chế Mân vào năm Mậu Thân (1308), lãnh thổ Đại Việt mở rộng đến Quảng Bình và Quảng Trị (Châu Ô, Châu Lý). Đến thời nhà Hồ (1400–1407), sau khi thương thảo thì vua Chiêm nộp thêm đất Chiêm Động và Cổ Lũy, tức là Quảng Nam ngày nay. Hồ Quý Ly chia đất này thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa rồi đặt lộ Thăng Hoa thống lãnh bốn châu ấy. Đồng thời, nhà Hồ cho di dân từ Nghệ An, Thanh Hóa vào khai khẩn định cư tại vùng đất mới này. Đến thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 2 đã tổ chức lại hành chánh tại các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt làm đạo Thừa Tuyên Quảng Nam. Danh từ Quảng Nam bắt đầu có tên trên bản đồ Đại Việt từ đó.
Vào thế kỷ XV, đạo Thừa Tuyên Quảng Nam có diện tích từ phía nam Thuận Hóa vào đến núi Thạch Bi ở Phú Yên bao gồm 4 phủ, 14 huyện. Sau đó, vào năm Canh Tuất (1490) đổi lại là xứ Quảng Nam, năm Canh Thìn (1520) gọi là trấn Quảng Nam và đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm 2 xứ Thuận–Quảng thì đổi lại là dinh Quảng Nam. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đổi lại là Trực lệ Quảng Nam thuộc kinh sư và đến năm Nhâm Thìn (1832) đời vua Minh Mạng thứ 13 đổi thành tỉnh Quảng Nam. Sau Cách mạng tháng Tám–1945 và đến năm Ất

* Trang 97 *
device

Mão (1975) thì Quảng Nam–Đà Nẵng có 12 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố. Đến năm Đinh Sửu (1997) tách tỉnh Quảng Nam–Đà Nẵng thành 2 đơn vị: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Hiện nay tỉnh Quảng Nam gồm 12 huyện và 2 thành phố.
Như vậy, kể từ khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và có tên gọi Quảng Nam, tính đến nay tỉnh Quảng Nam đã có trên 500 năm lịch sử. Trải qua bao sự hưng phế, thịnh suy của các triều đại cũng như các chính thể và tùy theo sự phân chia địa lý hành chính mà diện tích tỉnh Quảng Nam có khi rộng, khi hẹp. Tuy vậy, Quảng Nam vẫn lại là Quảng Nam chứ không thay đổi một tên nào khác và mảnh đất này có một vị trí rất đặc biệt trong tiến trình mở nước của lịch sử dân tộc.
Ngày hôm nay, Quảng Nam được coi như là vùng đất trung tâm của hai đầu đất nước. Bởi đoạn đường từ Quảng Nam vào đến Sài–gòn cũng như ra Hà Nội có độ dài tương đương nhau. Nhưng cách đây khoảng 3 thế kỷ, vùng đất này là biên giới phía nam của Đại Việt. Một vùng đất mà mỗi khi nghe nhắc đến thì người dân tại các đạo Thừa Tuyên Thanh Hóa, Nghệ An thường than thở:
“Dậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra”.
                                          (Ca dao)
Như vậy, Quảng Nam là mảnh đất “đầu sóng ngọn gió” trong những năm đầu thế kỷ XVII và suốt cả cục diện Đàng Ngoài–Đàng Trong. Về địa hình, Quảng Nam có bờ biển chạy dài từ cực Bắc đến cực Nam. Sau lưng là dãy Trường Sơn sừng sững án ngữ suốt cả một vùng biên giới Việt–Lào. Do Quảng Nam có một vị trí quan trọng nên được các chúa Nguyễn quan tâm lưu ý. Dưới thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam được coi như là kinh đô thứ 2 sau Thuận Hóa. Vì thế, các chúa Nguyễn đều cho các Thế tử vô trấn nhậm Quảng Nam một thời gian trước khi chính thức kế nhiệm ngôi Chúa. Về chính trị, Quảng Nam là một trung tâm hành chánh nối liền phủ Chúa đến các tỉnh mới lập ở phía Nam cũng như giao lưu quốc tế. Về quân sự, Quảng Nam có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong việc phòng thủ chính dinh Thuận Hóa (Kinh đô Phú Xuân sau này) cũng như mở mang bờ

* Trang 98 *
device

cõi. Thời bấy giờ, dinh trấn Thanh Chiêm–Quảng Nam là căn cứ quân sự thủy lục hùng mạnh nhất của các chúa Nguyễn. Từ căn cứ này, thủy quân dễ dàng tiếp cứu Quảng Bình khi có quân Trịnh xâm lấn. Từ Thanh Chiêm, thủy quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Thế tử Dũng Lễ Hầu (tức chúa Hiền sau này) đã đánh thắng sự xâm lược của người Hà Lan vào năm 1644. Cũng từ nơi đây, bộ quân đã 2 lần xuất phát vào năm 1611 và 1629, bình định Chiêm Thành, sáp nhập vĩnh viễn miền đất Phú Yên vào bản đồ Đại Việt. Về phương diện ngoại giao, kinh tế, văn hóa thì hải cảng Hội An thuộc dinh Quảng Nam là một trong những thương cảng phồn thịnh bậc nhất Đàng Trong thời bấy giờ. Đây là nơi giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trong vùng, và sau này với các nước phương Tây. Nơi đây đã ghi lại những dấu chân của các đoàn ngoại giao nước ngoài đến trú để tiếp tục ra Thuận Hóa gặp nhà Chúa. Các nhà văn hóa lớn của nước ngoài có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam như Hòa thượng Thạch Liêm (1633–1704), học giả Chu Thuấn Thủy (1600–1682), giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1593–1660) v.v... đều đến ngụ Hội An, Quảng Nam một thời gian và đánh giá vùng đất này có tiềm năng về mọi mặt, là cửa ngõ quan trọng của Đại Việt.
2. Bối cảnh xã hội Quảng Nam nửa cuối thế kỷ XVII
Sau cái chết của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng lo sợ cho số phận của mình nên đến vấn kế Trạng Trình–Nguyễn Bỉnh Khiêm. Với tám chữ ngắn gọn “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Trạng Trình đã mở cho Nguyễn Hoàng một con đường sống, không những vậy mà còn tạo dựng nên một cơ nghiệp lâu dài về sau.
Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông phong tước Đoan quận công và cử vào trấn nhậm đất Thuận Hóa. Đến năm Canh Ngọ (1570), ông được nhà vua cho kiêm lãnh trấn thủ Quảng Nam. Từ đó, Nguyễn Hoàng ra sức chiêu hiền đãi sĩ, mộ phu khai hoang vùng đất mới này. Với những chính sách đối nội và đối ngoại khôn khéo, chúa Tiên–Nguyễn Hoàng đã dần dần biến hai xứ Thuận–Quảng thành một vùng đất trù phú. Ông được sử sách ca ngợi như sau: “Đoan quận công vũ trị vài mươi năm, chính trị khoan hòa, thường ra ân huệ,

* Trang 99 *
device

dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm trấp kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm mến ân đức, dời đổi phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi người đều cố gắng, vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp” (3).
Kế nghiệp chúa Tiên–Nguyễn Hoàng (1558–1613), các vị chúa anh minh của họ Nguyễn như: chúa Sãi–Nguyễn Phúc Nguyên (1613–1635); chúa Thượng–Nguyễn Phúc Lan (1635–1648); chúa Hiền–Nguyễn Phúc Tần (1648–1687) v.v... đã củng cố thế lực của mình, dần dần tạo thành cục diện đối lập với thế lực họ Trịnh ở phương Bắc mà lịch sử gọi là Đàng Ngoài–Đàng Trong. Với chủ trương nhất quán “Nam tiến, Bắc cự”, các chúa Nguyễn đã khiến cho họ Trịnh phải lấy sông Gianh làm mốc phân chia biên giới, đồng thời lãnh thổ Đàng Trong được mở rộng vào vùng đất phương Nam.
So với Đàng Ngoài, tình hình chính trị xã hội tại Đàng Trong tương đối ổn định hơn. Ở vùng đất mới này, với chính sách khoan dung của chúa Nguyễn nên xã hội không có sự phân tầng rõ rệt như của họ Trịnh. Sự khôn khéo trong chính trị đã đưa lại một kết quả khả quan là lãnh thổ vẫn mở rộng vào miền Nam nhưng không có một cuộc xung đột nào đáng kể. Các cuộc nổi loạn của Nhân quận công Nguyễn Phước Anh vào năm Ất Hợi (1635) hay của một người lái buôn tên Linh tại Quảng Ngãi năm Ất Hợi (1695) v.v... cũng không có tác động đáng kể đối với đời sống xã hội.
Với chính sách mở rộng, thông thoáng trong ngoại giao, các chúa Nguyễn đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các thương gia nước ngoài vào Đàng Trong buôn bán. Thương cảng Hội An là một trong những trung tâm kinh tế thương mại phồn thịnh thời bấy giờ. Nơi đây, có thể được coi là con đường tơ lụa trên biển nối liền Đại Việt với các nước trong khu vực cũng như các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v.v... ở Châu Âu. Sự phồn thịnh của thương cảng Hội An được ghi nhận như sau: “Nhân dân đông
 

(3) Phan Khoang, Việt Sử Xứ Đàng Trong, NXB Văn Học, 2001, trang 115-116.
 

* Trang 100 *
device

đúc, cá tôm rau quả tập hợp mua bán suốt ngày. Thuốc Bắc hay các món hàng khác, tìm mua ở Thuận Hóa không có thì người mua vào mua ở đây” (4)).
Về nông nghiệp, các chúa Nguyễn cho quan lại đứng ra chiêu mộ dân đi khai khẩn cũng như dùng quân đội đồn trú để khai hoang. Điều này đã được đánh giá như sau: “Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, các chúa Nguyễn đã biến nhiều vùng đất hoang thành ruộng đồng tươi tốt, thành xóm làng trù mật và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân” (5).
Lúc bấy giờ tại Trung Quốc, bộ tộc Mãn Châu từ phương bắc tràn xuống đánh chiếm Trung Nguyên, lật đổ nhà Minh lập ra vương triều Mãn Thanh. Các cựu thần nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh nên đã bỏ nước ra đi. Mảnh đất Đại Việt trở thành điểm đến của những người Trung Hoa vong quốc. Tại Đàng Ngoài, các chúa Trịnh dè dặt trong vấn đề cho người Hoa cư ngụ. Trái lại, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại ưu đãi để người Hoa định cư và cho họ thành lập từng làng sống theo cộng đồng. Vì thế, các làng Minh Hương được thành lập nhiều nơi như ở Huế, Hội An, Gia Định v.v... và những người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế cũng như mở mang bờ cõi. Cụ thể như các tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình lập ra Cù Lao Phố; Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến lập ra Mỹ Tho Đại Phố; Mạc Cửu cũng đã đem đất Hà Tiên sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt dưới sự cai trị của chúa Nguyễn.
Tóm lại, trong giai đoạn từ khi mới thành lập cho đến những năm cuối thế kỷ XVII, tình hình chính trị Đàng Trong tương đối ổn định. Lãnh thổ mở rộng về phương Nam, kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải thiện. Sự ổn định đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo phát triển, trong đó Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tư tưởng, tinh thần của người dân ở Đàng Trong.
 

(4) Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, Viện Đại học Huế, 1963, trang 154.
(5) Nguyễn Khắc Thuần, Lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2002, trang 286.
 

* Trang 101 *
device

3. Thái độ của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo
Kể từ khi vào trấn nhậm hai xứ Thuận–Quảng, chúa Tiên–Nguyễn Hoàng cũng như các chúa về sau đều là những người sùng mộ Phật pháp. Dưới sự hộ trì của nhà Chúa, Phật giáo tại Đàng Trong phát triển rất mạnh. Tuy các Chúa không lấy Phật giáo làm quốc giáo như thời Lý, Trần, nhưng lại lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho chính sách trị quốc an dân. Vì sao các chúa Nguyễn lại để tâm đến việc phát triển Phật giáo? Sau đây là hai nhận xét của các nhà nghiên cứu sử sẽ cho chúng ta thấy được phần nào của vấn đề: “Quá trình tạo lập xứ Đàng Trong cũng là quá trình liên tục tổ chức khẩn hoang. Lực lượng khẩn hoang đông đảo nhất chính là những người nông dân nghèo khổ. Họ không có điều kiện để cho con em tới trường, và với số ít ỏi có điều kiện thì đạo thánh hiền mà Nho gia rất mực tôn kính, trong họ cũng đã dần dần bớt thiêng. Họ tìm đến những gì phù hợp hơn, thiết thực vỗ về và an ủi họ khi đối mặt với vùng đất mới bao la và dữ dội. Họ cần trước hết là những bài học về đức làm người, cụ thể, giản dị và sinh động chứ không phải là (bởi vì cũng khó có thể là) sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô số những triết lý cao siêu. Và, Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành giàu nhiệt huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng đáp ứng được điều này. Ở đâu có đất mới được mở ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái đối với một xã hội lầm lũi” (6).
Nhà Việt Nam học Li Tana cũng đã nhận xét như sau: “Trong tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn cảm thấy cần phải đưa ra một cái gì đó khác với tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các di dân người Việt về mặt tinh thần và tâm lý. Không thể sử dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình. Tuy nhiên, họ Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền thống của người Việt ở
 

(6) Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam tập II, NXB Giáo Dục, 2001, trang 156.
 

* Trang 102 *
device

phía bắc. Trong những hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ Nguyễn. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và mặt khác làm lắng động các mối lo âu của người di dân mà không đặt lại vấn đề về tính hợp pháp của những người cai trị” (7).
Trở lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta thấy những điều mà các chúa Nguyễn làm là hoàn toàn phù hợp với tình hình chính trị thực tại. Trong giai đoạn đầu của cuộc Nam tiến, những người Việt di cư sống lẫn lộn với người Chăm. Lúc ấy, văn hóa của người Chăm vẫn còn nhiều và đôi lúc ảnh hưởng đến người Việt. Vì lẽ đó, người Việt phải tìm về với cội nguồn văn hóa của mình để an ủi trong những lúc xa xứ. Lúc này, nếu đem Nho gia ra áp dụng thì không phù hợp. Bởi lẽ, những người dân Việt đã chán ngán Nho gia với tư tưởng hủ lậu làm khổ đau họ bao đời. Vả lại Nho gia hoàn toàn xa lạ với văn hóa người Chăm nên dễ đưa đến sự xung đột tôn giáo, ảnh hưởng đến sự cai trị của nhà Chúa. Chỉ có Phật giáo Đại thừa mới thỏa mãn được nhu cầu của cả hai bên. Vì Phật giáo Đại thừa với tư tưởng khoáng đạt không chấp nê sự chính thống hay phản nghịch của chúa Nguyễn. Các nhà sư Phật giáo với sự nhập thế tích cực đã đem lại niềm an ủi cho những người Việt di cư. Thêm vào đó, Phật giáo Đại thừa có những sự tương đồng trong việc thờ tự của người Chăm nên họ không cảm thấy bỡ ngỡ khi tiếp cận. Qua đây, ta thấy các chúa Nguyễn dựa vào tinh thần của Phật giáo để trị nước là hoàn toàn phù hợp.
Xuất phát từ nguyên nhân trên, cộng với tâm đạo của mình, các chúa Nguyễn đã trùng kiến và xây dựng rất nhiều chùa trên hai xứ Thuận–Quảng. Năm Tân Sửu (1601), chúa Tiên–Nguyễn Hoàng cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ. Năm Nhâm Dần (1602), trong khi đi lạc thành chùa Thiên Mụ, chúa lại phát nguyện trùng tu chùa Sùng Hóa. Tiếp đến năm Đinh Mùi (1607), Chúa lập chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu, Quảng Nam. Năm Quý Dậu (1609), Chúa lại lập chùa Kính Thiên ở xã Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình.
Năm Ất Tỵ (1665), chúa Hiền–Nguyễn Phúc Tần trùng tu chùa
 

(7) Li Tana, Xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Trẻ, 1999, trang 194.
 

* Trang 103 *
device

Thiên Mụ; năm Đinh Mùi (1667), lại cho xây dựng chùa Vĩnh Hòa ở cửa biển Tư Dung. Tại lễ khánh thành này, Chúa cho mở pháp hội Du–già bảy ngày đêm để tạ ơn Tam bảo và siêu độ vong linh.
Năm Mậu Thìn (1688), Chúa Nghĩa–Nguyễn Phúc Trăn cho trùng tu chùa Vĩnh Hòa. Đồng thời, chúa còn nhờ thiền sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh Cao tăng, pháp tượng, pháp khí sang hoằng hóa tại Đàng Trong.
Năm Giáp Tuất (1694), Quốc chúa–Nguyễn Phúc Chu thỉnh Hòa thượng Thạch Liêm–Thích Đại Sán sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa. Quốc chúa quy y với Hòa thượng Thạch Liêm và được đặt pháp danh Hưng Long, hiệu là Thiên Túng đạo nhân.
Qua những sự kiện trên, chúng ta thấy rằng, ngoài chủ trương vận dụng tư tưởng Phật giáo để trị nước, các chúa Nguyễn thực sự là những người sùng mộ đạo Phật, tôn trọng chư Tăng, làm chùa, tạo tượng, đúc chuông v.v... Chính vì lẽ đó mà các thiền sư từ Trung Hoa đã đến Đàng Trong hoằng hóa. Phật giáo nơi đây thật sự hưng thịnh, đặc biệt là dòng Lâm Tế phát triển rất mạnh tại vùng đất mới này.
4. Sự thành lập đô thị cổ Hội An và làng Minh Hương
Vào năm Giáp Thân (1644), bộ tộc Mãn Châu từ phương Bắc tràn xuống Trung Nguyên, lật đổ triều Minh, lập nhà Đại Thanh. Một số trung thần nhà Minh đã rời nước ra đi, tìm phương lánh nạn. Và đất Đại Việt là điểm đến lý tưởng trong những khi Trung Hoa loạn lạc. Lúc bấy giờ, Hội An là thương cảng trù phú, thuận tiện đường biển từ Quảng Đông qua nên phần lớn người Hoa sang định cư theo hai dạng: tỵ nạn chính trị và buôn bán thương mại. Vì thế, làng Minh Hương có mặt tại phố Hội để có chỗ người Hoa cư ngụ giữ gìn nếp sống của tổ tiên trong những tháng năm xa xứ.
Làng Minh Hương được thành lập vào những năm đầu thế kỷ XVI, XVII bên cửa biển Đại Chiêm năm xưa. Trải qua nhiều thế hệ, làng được các thế hệ tô bồi thành một khu phố nhỏ bên dòng

* Trang 104 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh