LOGO VNBET
Hòa thượng Thị Lạc–Hưng Từ, khai sơn chùa Pháp Hội v.v...
Cũng trong thời gian này, Hòa thượng Như Kỉnh–Giải Sâm–Thiện Hạnh(72) vào hoằng hóa tại khu vực thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, Bình Thuận. Nơi đây, Hòa thượng cũng đã đào tạo được một số các vị đệ tử kế thừa: Thị Hiền–Hạnh Lâm–Ngộ Tịnh (1897–1981) khai sơn chùa Thiên Tường; Thị Bích–Hạnh Quang–Ngộ Tú (1895–1963) khai sơn chùa Bửu Thắng; Thị Tường–Ngộ Thiện (1888–1946); Thị Huy–Ngộ Minh (1898–1940); Thị Diệu–Hạnh Đạo–Ngộ Thâm v.v... Từ đó, hàng đệ tử kế thừa truyền xuống đến chữ Đồng, chữ Chúc.
Phần lớn, những ngôi chùa truyền theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại tỉnh Bình Thuận đều mới phát triển vào đầu thế kỷ XX, đa phần bắt đầu từ chữ Như, tức thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh trở xuống.
II. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Như Quang–Giải Đạo–Hoằng Phúc
如 光 解 道 弘 覆 (1877–1945): Chùa Linh Long
Hòa thượng họ Trần, sinh năm Đinh Sửu (1877) tại làng Tiên Châu, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Sinh trưởng trong một gia đình “cư Nho mộ Thích” nên Ngài sớm có căn duyên với cửa Phật. Vào năm Nhâm Thìn (1892), Ngài đến chùa Châu Lâm xin thế độ với Hòa thượng Chơn Kim–Pháp Lâm. Tại đây, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho pháp danh Như Quang, tự Giải Đạo, hiệu Hoằng Phúc, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Tháng Giêng năm Bính Ngọ (1906), Ngài thọ Sa–di tại giới đàn chùa Linh Sơn, Phú Yên do Hòa thượng Pháp Hỷ làm Đàn đầu. Tháng 7 cùng năm, Hòa thượng Pháp Tạng khai đàn truyền

- Quang Lộc Đường Thượng Tứ Thập Thế Húy CHƠN QUỲNH thượng ĐẠO hạ CHÂU Hiệu DIỆU NGUYÊN Hòa thượng.
Tuy nhiên, ngài Diệu Nguyên chỉ trú trì Quang Lộc một thời gian ngắn, sau đó ra khai sơn chùa Lộc Viên tại quê nhà và thị tịch tại đây vào năm 1943.
(72) Theo lời ghi nhận của Thượng tọa Thích Đồng Bạch, trú trì chùa Pháp Bửu thì ngài Như Kỉnh-Thiện Hạnh xuất thân từ tỉnh Phú Yên. Ngài vào ngụ tại chùa Bửu Sơn (tức chùa Hang) tỉnh Phan Rang để hoằng hóa. Hạnh nguyện của Ngài là sống độc cư nơi núi rừng. Vì thế, cho đến nay vẫn chưa biết bổn sư của Ngài để xác lập lại biểu đồ truyền thừa.
 

* Trang 417 *
device

giới tại Tổ đình Sắc tứ Từ Quang, Ngài tiếp tục tấn đàn thọ Cụ túc giới. Từ đó, Ngài tinh chuyên tu học dưới sự hướng dẫn của các vị Danh tăng đương thời như: Hòa thượng Pháp Hỷ, Pháp Tạng, Pháp Ngữ v.v...
Năm Kỷ Dậu (1909), Ngài được ông Ngô Văn Mực mời vào trú trì chùa Linh Long. Vốn là người cùng quê hương Phú Yên, lại thêm đời sống đạo của Ngài chuẩn mực nên được tín đồ yêu mến. Từ đó, chùa Linh Long ngày càng phát triển.
Năm Kỷ Mùi (1919), Hòa thượng Tịnh Hạnh khai Đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm, Phan Thiết, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê để thí giới cho Tăng tín đồ tu học.
Hòa thượng viên tịch vào ngày 25 tháng Chạp năm Đinh Sửu (1937), hưởng thọ 61 tuổi. Đồ chúng lập tháp phụng thờ trong khuôn viên chùa. Đệ tử nối pháp của Ngài có các vị: Thị An–Thiện Lạc–Diệu Thọ (1898–1987) trú trì chùa Hải Quang và Thị Chi–Thiện Phước–Diệu Quả (1916–1983) trú trì chùa Linh Long.


Hòa thượng Quảng Hưng

2. Hòa thượng Như Tiến–Giải Hinh–Quảng Hưng
如 薦 解 馨 廣 興 (1893–1946):  Chùa Pháp Bảo
Hòa thượng thế danh Trang Văn Trí, sinh giờ Hợi ngày 24 tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), nhằm Thành Thái năm thứ 5 tại làng Cẩm Phổ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An). Thân phụ là cụ ông Trang Văn Lư pháp danh Chơn Hương và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chút pháp danh Chơn Xuân.
Năm Ất Tỵ (1905), khi vừa lên 13 tuổi, Ngài được phụ thân cho xuất gia, làm đệ tử
 

* Trang 418 *
device

của ngài Tăng cang Phước Trí tại chùa Tam Thai, được Bổn sư ban cho pháp danh Như Tiến, tự Giải Hinh, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Năm Bính Ngọ (1906), Ngài được Bổn sư cho thọ Sa–di tại giới đàn chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên do Hòa thượng Chơn Chánh–Pháp Tạng làm Đàn đầu truyền giới.
Năm Kỷ Dậu (1909), thân hào làng Hải Châu, Đà Nẵng thỉnh Ngài làm Tri sự chùa Sắc tứ Phước Hải. Sang năm sau, Canh Tuất (1910), vào tháng 4 Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm, Hội An, lúc bấy giờ Ngài mới 18 tuổi. Năm Tân Hợi (1911), Ngài được chư sơn thiền lữ cử làm trú trì chùa Thạch Châu, xã Thạch Thang.
Năm Quý Sửu (1913), Ngài cầu pháp nhân duyên với Hòa thượng Chơn Nhẫn–Phước Điền (trú trì chùa Ngự Kiến tại Vĩnh An, Duy Xuyên) với pháp hiệu Quảng Hưng. Cũng trong năm này, Ngài xin Bổn sư cho được du phương tham học với chư vị tôn túc ở các tỉnh thành miền Nam.
Năm Kỷ Mùi (1919), Khải Định năm thứ 5, Hòa thượng Tịnh Hạnh khai Đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm thuộc hạt Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Ngài được cung thỉnh làm Thống sự kiêm Thư ký tại giới đàn này. Sau khi giới đàn hoàn tất, Ngài đến chùa Linh Sơn cổ thạch nhập thất tịnh tu, mỗi ngày chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ.
Tháng 9 năm Tân Dậu (1921), Ngài vào tỉnh Gia Định làm đơn xin thành lập chùa Thiên Ân tại thôn Chí Hòa. Trong thời gian này, Hòa thượng Diệu Đại trú trì chùa Tịnh Độ tại thôn Tân Sơn Nhất khai Đại giới đàn đã cung thỉnh Ngài làm Đệ nhị tôn chứng sư.
Năm Nhâm Tuất (1922), Ngài trở về Quảng Nam kiến lập bảo tháp của Hòa thượng Phước Điền đã viên tịch trước đó. Trong thời gian này, Ngài làm đơn lên tòa tỉnh Đà Nẵng mua đất kiến tạo chùa Từ Vân tại xã Thạch Giáng.
Ngày mồng 3 tháng 4 năm Giáp Tý (1924), Ngài mua đất và tiến hành khai sơn chùa Từ Vân, đến tháng 10 thì khánh thành và đúc quả chuông nặng 112 cân. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 32 tuổi. Sau khi lễ khánh thành hoàn tất, Ngài cung thỉnh Hòa

* Trang 419 *
device

thượng Chơn Bổn–Phước Khánh trú trì chùa Từ Vân.
Vào ngày 15 tháng 2 năm Bính Dần (1926), Hòa thượng Phổ Tế trú trì chùa Tân Long tại ấp Cao Lãnh tỉnh Sa Đéc khai Đại giới đàn nên đã cung thỉnh Ngài làm Đệ nhất tôn chứng sư.
Đạo hạnh và uy tín của Ngài ảnh hưởng rất lớn không những đối với Phật giáo mà còn đối với Nam triều cũng như chính phủ bảo hộ Pháp, nên vào ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Mão (1927), chùa Từ Vân được ban biển ngạch Sắc tứ. Cũng trong năm này, Hòa thượng khai kỳ kết hạ an cư đầu tiên. Vào ngày 18 tháng 2 năm Mậu Thìn (1928), Ngài đưa đơn lên tòa Tổng đốc Quảng Nam xin mở trường Hương. Sau đó, Ngài tổ chức Đại giới đàn tại chùa Từ Vân và được thỉnh làm Hóa chủ. Giới đàn này đã cung thỉnh Hòa thượng Phước Trí chùa Tam Thai làm Đàn đầu và vị giới tử xuất sắc nhất là Hòa thượng Thích Trí Thủ, một vị Cao tăng cận đại của Phật giáo Việt Nam.
Năm Quý Dậu (1933), vào ngày mồng 9 tháng 11 Ngài được triều đình Sắc tứ Tăng cang, ban cho Giới đao Độ điệp, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 41 tuổi.
Ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (1938), chùa Phước Long tại thôn Tân Lý, ấp Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho khai Đại giới đàn, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Đến ngày 15 tháng 2, chùa Phước Hựu tại tổng Hòa Đồng Trung tỉnh Gò Công khai đàn giới, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Tháng 4, chùa Linh Bảo tại thôn Tân Thái cùng tỉnh khai đàn truyền giới, Ngài lại được cung thỉnh làm Tuyên luật sư tại đàn giới này.
Đến ngày mồng 9 tháng 9 năm Mậu Dần (1938), Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Chánh chủ kỳ tại giới đàn chùa Thiền Lâm, Phan Thiết. Sau khi giới đàn hoàn mãn, Ngài đến phường Lạc Đạo khai sơn chùa Pháp Bảo và trụ tại đây.
Ngày 22 tháng Giêng năm Kỷ Mão (1939), chùa Linh Sơn Trường Thọ tại huyện Hàm Tân khai Đại giới đàn, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chánh chủ kỳ. Đến ngày mồng 9 tháng 2, chùa Long Thạnh tại thôn Bình Điền, tỉnh Mỹ Tho khai Đại giới đàn, Hòa thượng lại được cung thỉnh làm Chánh chủ sự.
Ngài tịch ngày 17 tháng 12 năm Bính Tuất (1946), hưởng

* Trang 420 *
device

dương 54 tuổi. Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được kiến lập tại chùa Pháp Bảo, Phan Thiết.
Hòa thượng Thích Quảng Hưng là một trong những vị Tăng tiêu biểu xuất sắc của Quảng Nam trong những năm đầu và giữa thế kỷ XX. Hòa thượng là người mang tư tưởng canh tân, cổ xúy việc học và phiên dịch kinh điển sang quốc ngữ. Điều này đã được Hòa thượng khẳng định qua việc trả lời phỏng vấn tờ báo Đông Pháp số 455 ra ngày 17/12/1927 như sau:
1. Làm trường học tại chùa, rước thầy giáo đến dạy các đạo nhỏ, trước phải học hai buổi công phu, hôm khuya và bốn cuốn luật của nhà chùa. Sự học này toàn bằng chữ quốc ngữ cả.
2. Nuôi kẻ nghèo khổ ăn học cho biết hai thứ chữ Tàu và chữ quốc ngữ.
3. Dịch kinh Phật ra quốc ngữ. Trước đây phải tìm kiếm các thơ ca truyện giảng trong nhà Phật của các bậc tiền bối để lại, đem dịch ra quốc văn, cho bá tánh biết tích lớp mà tu hành. Sau sẽ thỉnh các vị Cao tăng bác học để dịch Đại Tạng chư kinh, để truyền bá cho kẻ hữu tâm, rõ nghĩa “Từ bi vô thượng” của đức Phật Như Lai.
Cuộc đời hành đạo của Ngài trải dài khắp các tỉnh thành từ miền Trung cho đến miền Nam. Đi đến đâu Ngài cũng lập chùa để hoằng dương chánh pháp, cùng với chư sơn khai đàn giới tiếp dẫn hậu lai và tại các đàn giới Ngài được thỉnh cử vào những chức vụ quan trọng.
3. Hòa thượng Thị Lạc–Hành Thiện–Hưng Từ
是 樂 行 善 興 慈 (1911–1991): Chùa Pháp Hội
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mồng 1 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Bùi Thế Vĩ pháp danh Như Chơn và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu pháp danh Thị Bửu.
Duyên lành đã đến, ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1918), khi vừa 8 tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia đầu sư với Hòa thượng Thích Hòa Phước trú trì chùa Thiên Long, được Bổn sư ban cho pháp danh Thị Lạc, tự Hành Thiện thuộc đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 421 *
device



Hòa thượng Hưng Từ

Nhờ túc duyên, Ngài rất thông minh đĩnh đạc. Tuy còn nhỏ, nhưng từ hai thời công phu, bốn quyển luật Tỳ Ni cho đến các bộ kinh Địa Tạng, Thủy Sám, Ngài đều thuộc lòng. Ngoài sự dạy dỗ của Bổn sư, Ngài còn được tham học giáo điển với các vị Cao tăng như Hòa thượng Từ Pháp chùa Thiên Tôn.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài thọ Tam đàn Cụ túc tại Đại giới đàn chùa Linh Sơn, do Đại lão Hòa thượng Thích Hoằng Hóa làm Đàn đầu thí giới và được phú pháp hiệu Hưng Từ. Sau khi thọ giới Cụ túc xong, Ngài tiếp
tục học khoa Du–già Mật tông với Hòa thượng Linh Quang và được Hòa thượng truyền trao pháp ấn.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài được chư tôn túc trong hội Địa Tạng Phổ lúc bấy giờ, giới thiệu và gởi học Tam Tạng giáo điển 3 năm tại Phật học đường Tây Thiên, Huế (1934–1937). Nhờ tâm cầu học vững bền, chẳng những Ngài uyên thâm kinh điển mà còn thấu triệt lẽ tánh diệu dụng của khoa Du–già Chẩn tế.
Sau khi tham học với các bậc Cao tăng ở Huế và Phú Yên xong, nhằm lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang dấy lên mạnh mẽ trên khắp ba miền đất nước, Ngài nhận thấy đây là một cơ duyên thuận lợi để phục hưng chánh pháp, nên vào năm Đinh Sửu (1937), Ngài vận động Tăng tín đồ mở các Tăng học đường tại các chùa Cổ Lâm, Liên Trì (Tuy An), Thiên Tứ (Ninh Hòa) để đào tạo Tăng tài. Đặc biệt tại chùa Cổ Lâm có nhiều vị đến nghe giảng kinh Pháp Hoa như: Hòa thượng Quảng Đức, Ngài Vĩnh Thọ, Nhơn Thị, Nhơn Duệ... do Ngài làm chủ giảng.
Năm Kỷ Mão (1939), vì ảnh hưởng chiến tranh nên các Tăng học đường này tạm thời đóng cửa, nhưng Ngài luôn tìm mọi cách tổ chức các lớp tu học, giảng kinh luật dưới hình thức an cư kết hạ,

* Trang 422 *
device

mở Đại giới đàn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Tuy để đào tạo các bậc Cao tăng hữu ích cho đạo sau này như các Hòa thượng Ấn Tâm, Viên Quang, Đồng Huy... và giảng dạy khoa Du–già Chẩn tế cho chư Tăng ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận...
Ngoài việc giảng dạy, đào tạo Tăng ni, Ngài còn đem hết sức mình khai sơn và trùng tu rất nhiều ngôi chùa để có nơi tu học cho Tăng ni và sớm hôm lễ bái của Phật tử gần xa như: chùa Thiên Long ở Phú Yên (1938); Tổ đình Minh Sơn (1957); Linh Đài và Thiên Tứ ở Ninh Hòa (1959). Đồng thời khai sơn Linh Sơn Tự ở Lạc Tánh, Tánh Linh (1961) và chùa Pháp Hội ở Hàm Tân, Bình Thuận (1967).
Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo, Ngài không từ nan bất cứ một nhiệm vụ nào khi được chư Tăng và Giáo hội giao phó cũng như Phật tử cần đến. Đối với dân tộc, Ngài luôn đem hết sức mình góp phần vào công cuộc bảo vệ quê hương.
Năm Ất Dậu (1945), trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Ngài được Tăng tín đồ đề cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Phú Yên.
Năm Ất Mùi (1955), Ngài đảm nhận Trị sự trưởng Giáo hội Tăng Già tỉnh Khánh Hòa liên tiếp hai nhiệm kỳ.
Năm Quý Mão (1963), Ngài lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ Phật giáo và dân tộc tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân).
Từ năm 1964 đến năm 1978, Ngài được Hội đồng Viện hóa đạo GHPGVNTN suy tôn vào Hội đồng Trưởng lão Viện tăng thống.
Từ năm 1982 cho đến ngày viên tịch, Ngài được suy tôn Cố vấn chứng minh kiêm Ủy viên tăng sự Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thuận Hải (cũ) và Bình Thuận sau này.
Ngài đã dịch bộ kinh Thập Lục Quán và trước tác quyển Lịch Sử Tổ Hữu Đức (Tổ Linh Sơn Trường Thọ núi Tà Cú) và chư hậu Tổ.
Cuộc đời tu hành và hóa đạo của Ngài là tấm gương hy sinh tận tụy, không từ nan bất cứ một việc gì dù nhỏ, đem hết sức mình để giáo dục, đào tạo Tăng ni tiếp dẫn hậu lai hoằng truyền chánh pháp.

 

* Trang 423 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh