LOGO VNBET
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1. Tổ đình Chúc Thánh
Vào năm Ất Hợi (1695), Hòa thượng Minh Hải–Pháp Bảo theo phái đoàn ngài Thạch Liêm sang tham dự giới đàn Thiền Lâm, Huế. Sau khi đàn giới hoàn mãn, Ngài vào Hội An đến làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là phường Tân An, thành phố Hội An) trác tích khai sơn chùa Chúc Thánh. Đồng thời, Ngài xuất kệ truyền pháp lập tông, dần dần dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh ngày càng phát triển cho đến hôm nay.
            
Tổ đình Chúc Thánh (trùng tu từ năm 2004-2008)
 
Vào ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), Tổ sư Minh Hải viên tịch sau 49 năm hoằng hóa tại đất Quảng. Kế thế trú trì chùa Chúc Thánh là ngài Thiệt Diệu–Chánh Hiền. Từ đó về sau, các đời trú trì tiếp tục tô bồi trùng kiến xây dựng Chúc Thánh trở thành một ngôi phạm vũ trang nghiêm tồn tại cho đến ngày nay.

* Trang 139 *
device

                  
Tam quan cũ Tổ đình Chúc Thánh
Trải qua 300 năm truyền thừa, chùa trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Minh Hải–Đắc Trí–Pháp Bảo
1670–1746
1696–1746
02.
Thiệt Diệu–Chánh Hiền
….?–….?
….?–1809
03.
Pháp Diễn–Bảo Tràng
….?–….?
….?–….?
04.
Toàn Đăng–Bảo Nguyên
….?–….?
….?–….?
05.
Toàn Nhâm–Vi Ý–Quán Thông
1798–1883
….?–1883
06.
Chương Đạo–Tuyên Tùng–Quảng Viên
1851–1893
1883–1893
07.
Chương Khoáng–Tuyên Điền–Chứng Đạo
1833–1903
1893–1901
08.
Ấn Bính–Tổ Thuận–Phổ Bảo
1865–1914
1901–1914
09.
Chơn Chứng–Đạo Tâm–Thiện Quả
1881–1962
1914–1962
10.
Chơn Nhật–Đạo Chiếu–Quang Minh(21)
1879–1977
1934–…?
11.
Như Truyện–Giải Lệ–Trí Nhãn
1909–2004
1962–2001
12.
Đồng Mẫn–Thông Niệm–Huệ Từ
 
2001 đến nay
 

(21) Vào năm Quý Dậu (1933), Hòa thượng Thiện Quả được triều đình Sắc phong Tăng cang Tổ đình Chúc Thánh và ngài Chơn Nhật-Quang Minh được bổ làm trú trì Chúc Thánh. Thời gian trú trì Chúc Thánh, Ngài vận động khắc in bản kinh Phổ Môn Phẩm Xuất Tượng” rất có giá trị nghệ thuật điêu khắc. Về sau, Ngài vào Nam hành đạo, lập chùa Chúc Diên tại xóm Thuốc, quận Gò Vấp. Năm 1950, người Pháp lập sân bay Tân Sơn Nhất nên cả hai ngôi chùa bị tháo dỡ. Từ đó, Ngài ngụ tại các chùa do chư tăng Quảng Nam vào lập tại Sài-gòn và viên tịch tháng Chạp năm 1977, hài cốt được an trí tại chùa Bửu Đà. Vì thế, chúng ta không biết rõ niên đại Ngài trú trì chùa Chúc Thánh từ năm 1934 đến năm nào?
 

* Trang 140 *
device

                       
Vườn tháp Tổ tại Tổ đình Chúc Thánh
 
Chùa Chúc Thánh xoay mặt về hướng tây nam, cách trung tâm phố Hội khoảng 1km về phía bắc. Khuôn viên chùa được bao bọc bởi một lớp hàng rào bằng cây dày độ khoảng 3m. Vì thế, Chúc Thánh vẫn còn giữ được không khí u tĩnh của một ngôi cổ tự mặc dù bên ngoài đang nhộn nhịp dưới đà đô thị hóa. Trong vườn chùa có khoảng vài chục ngôi tháp lưu giữ nhục thân của Tổ khai sơn cũng như chư Tăng trong môn phái.
Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu: tổ Quán Thông trùng tu

(21) Vào năm Quý Dậu (1933), Hòa Thượng Thiện Quả được triều đình sắc phong Tăng  cang Tổ đình Chúc Thánh và Ngài Chơn Nhật- Quang Minh được bổ làm trú trì Chúc Thánh. Thời gian trú trì Chúc Thánh, ngài vận động khắc in bản kinh " Phổ Môn Phẩm Xuất Tượng" rất có giá trị nghệ thuật điêu khắc. Về sau, ngài vào Nam hành đạo, lập chùa Chúc Diên tại xóm thuốc, quận Gò Vấp. Năm 1950, người Pháp lập sân bay Tân Sơn Nhất nên cả hai ngôi chùa bị tháo dỡ. Từ đó, ngài ngụ tại các chùa do chư tăng Quảng Nam vào lập tại Sài - gòn và viên tịch tháng chạp năm 1977, hài cốt được an trí tại chùa Bửu Đà. Vì thế, chúng ta không biết rõ niên đại ngài trú trì chùa Chúc Thánh từ năm 1934 đến năm nào?

* Trang 141 *
device

vào năm Ất Mùi (1845), kiến tạo tiền đường vào năm Kỷ Dậu (1849). Năm Nhâm Thìn (1892), tổ Quảng Viên trùng tu tiền đường quy mô hơn. Năm Giáp Ngọ (1894), tổ Chứng Đạo cùng phó trú trì hiệu Quảng Đạt xây dựng hậu Tổ. Năm Ất Hợi (1911), tổ Phổ Bảo trùng tu chánh điện, xây thêm Đông đường Tây đường. Năm Ất Mão (1915) và các năm về sau, tổ Thiện Quả
 
trùng kiến lại khang trang cho đến lần trùng tu mới đây vào năm 2004 và hoàn thành cuối năm 2008. Đặc biệt, năm 1991 chư Tăng môn phái Chúc Thánh đã trùng kiến ngôi tháp tổ Minh Hải cao 7 tầng nguy nga hùng vĩ, thể hiện lòng tri ân của môn đồ tứ chúng đối với bậc Tổ sư dày công khai sáng. Hiện tại chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ quý hiếm cũng  như các kinh sách xưa rất

Tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm
có giá trị về mặt lịch sử và học thuật.

* Trang 142 *
device

Từ đây, các đệ tử cũng như các pháp tôn nhiều đời của Ngài đã đem ánh sáng chánh pháp hoằng truyền khắp mọi nơi. Từ Quảng Nam vào đến các tỉnh miền Nam đều có dấu chân hành hóa của chư Tăng thuộc thiền phái Chúc Thánh, không chỉ trên quê hương Việt Nam, các Ngài còn đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp các quốc gia thuộc Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc.
            Hằng năm, vào ngày mồng 7 tháng   11, chư Tăng


Bảo tháp Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo
(trùng tu năm 1992)
tại Quảng Nam–Đà Nẵng đều vân tập về Chúc Thánh tưởng niệm ngày viên tịch của Tổ khai sơn. Đặc biệt 3 năm một lần, vào các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi, chư Tăng thuộc môn phái Chúc Thánh khắp các nơi trong nước đều tổ chức về nguồn dự lễ húy nhật Tổ sư cũng như họp bàn các công tác Phật sự của tông môn.
Chúc Thánh mãi mãi là cội nguồn của tông môn để các thế hệ Tăng ni Phật tử quy ngưỡng. Đây là một thánh tích có ý nghĩa nhiều phương diện của Phật giáo mà những người con Phật nên đến hành hương chiêm lễ mỗi khi có dịp về thăm đất Quảng Nam.
2. Tổ đình Vạn Đức

* Trang 143 *
device

             
Tổ đình Vạn Đức – Hội An
Tổ đình Vạn Đức là một trong những ngôi cổ tự nằm trong hệ thống các chùa cổ tại Hội An. Chùa được Tổ sư Minh Lượng–Thành Đẳng khai sơn cùng thời với tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
Ngài Minh Lượng hiệu Nguyệt Ân tự Thành Đẳng, thế danh Lý Nhuận sinh ngày 26 tháng 4 năm Bính Dần (1626) tại Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Ngài qua Việt Nam cùng thời với ngài Minh Hải. Sau khi tham dự giới đàn tại Thuận Hóa, Ngài vào Quảng Nam đến tại thôn Đồng Nà, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) khai sơn chùa Vạn Đức.
Ban đầu, được sự hiến cúng khu đất của một Phật tử nên Ngài chỉ lập một thảo am tu hành. Đến năm 1699 Ngài mới chính thức làm chùa lấy tên là Lang Thọ tự (người dân phố Hội quen gọi là chùa Cây Cau), mặt chùa quay về sông Đế Võng theo hướng địa lý “tiền đê hậu cao”.
Tại nơi đây, Ngài đã tiếp Tăng độ chúng và đào tạo được những vị đệ tử như: Phật Tuyết–Tường Quang (khai sơn chùa Kim Liên tại ấp Trường Lệ, xứ Tầm Vông, xã Sơn Phô, Hội An);

* Trang 144 *
device

Phật Thiền–Hoa Nghiêm (khai sơn chùa Kim Sa tại ấp An Bàng, xứ Trảng Sỏi, xã Cẩm Sa, Hội An) v.v... Sau một thời gian, Ngài tiếp tục vào Nam hoằng hóa và khai sơn chùa Đại Giác ở Biên Hòa, Đồng Nai. Trong Nam, Ngài có đệ tử nổi tiếng là thiền sư Phật Ý–Linh Nhạc. Tổ sư Minh Lượng–Thành Đẳng viên tịch vào ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu (1709) (22), thọ 83 tuổi.
Sau khi rời phố Hội, Tổ giao chùa Lang Thọ cho ngài Phật Tuyết–Tường Quang trú trì. Được một thời gian thì Ngài viên tịch, ngài Phổ Triêm thuộc đời 36 Lâm Tế kế nghiệp trú trì.
Ngài Phổ Triêm là một Cao tăng đắc đạo đã có công rất lớn trong việc trùng tu chùa Lang Thọ, đổi tên lại là Vạn Đức tự và lưu lại dấu tích linh thiêng tại nơi đây. Tên gọi Vạn Đức có từ ngày ấy cho đến hôm nay, đồng thời, Ngài cũng đã đổi lại hướng chùa về phía tây nam cho phù hợp với phong thủy địa lý. Ngài đã lập dàn hỏa tự thiêu vào ngày 25 tháng chạp năm Nhâm Thìn
(1772) và phát nguyện lưu lại ngón tay cái để xác quyết sự tu chứng của mình. Sau khi viên tịch, Ngài được triều đình ban thụy là Phước Sơn.
Từ Tổ khai sơn đến nay, chùa truyền thừa qua các đời trú trì như sau:

Bình bát của Tổ Minh Lượng và Y Tăng Cang của Tổ Phổ Triêm
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Minh Lượng–Nguyệt Ân–Thành Đẳng
1626–1709
1696?–.?
02.
Phật Tuyết–Tường Quang
…?–….?
….?–….?
03.
Phổ Triêm–Phước Sơn
 
 
04.
Toàn Đức–Hoằng Tông
1779–1843
…?–1843
05.
Chương Bình
….?–….?
….?–….?
 

(22) Căn cứ vào long vị thờ tổ Minh Lượng tại chùa Thập Tháp, Bình Định và Giác Lâm, Sài-gòn ta biết được Năm sinh, năm tịch của Ngài. Tuy nhiên, tháp mộ của Ngài ở đâu thì chưa được rõ.
 

* Trang 145 *
device

06.
Chương Truyền–Pháp Hóa
….?–….?
….?–….?
07.
Ấn Bổn–Tổ Nguyên–Vĩnh Gia
1840–1918
Kiêm
08.
Chơn Quang–Đạo Hiển–Hoằng Nhơn
….?–1922
1918–1922
09.
Chơn Chứng–Đạo Tâm–Thiện Quả
1881–1962
1922–1934
10.
Như Truyện–Giải Lệ–Trí Nhãn
1909–2004
Kiêm
11.
Như Ân–Giải Nghĩa–Trí Nguyện
1886–1965
1962–1965
12.
Như Bình–Giải Định–Trí Tánh
1902–1970
1965–1970
13.
Thị Trung–Hạnh Trực
1906–1978
1970–1978
14.
Thị Việt–Hạnh Thiền–Huệ Nghiêm
1930
1978 đến nay
 
Người có công bảo tồn chùa Vạn Đức là ngài Thị Trung–Hạnh Trực trú trì từ năm 1970 đến 1978. Bởi lẽ giai đoạn Ngài trú trì là những năm tháng chiến tranh Việt–Mỹ khốc liệt mà Vạn Đức lại nằm trong phạm vi chiến sự. Bằng đạo tâm của mình, ngài Hạnh Trực đã không cho lính Đại Hàn phá chùa mặc dù trong chùa lúc bấy giờ chỉ có một mình Ngài.
Hiện nay, trú trì chùa là Hòa thượng Thích Hạnh Thiền, Ngài đã nỗ lực trùng tu chùa Vạn Đức ngày một khang trang và chuyển hướng chùa theo như lúc ban đầu của Tổ khai sơn. Chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật như các bảng khắc in kinh bằng gỗ, những pho tượng cổ. Đặc biệt chùa còn lưu giữ bình bát của tổ Minh Lượng và y Tăng cang của ngài Phổ Triêm, Độ điệp của triều Nguyễn ban cho ngài Toàn Đức–Hoằng Tông vào năm Minh Mạng 11 (1830) v.v...
3. Tổ đình Phước Lâm
Tổ đình Phước Lâm tọa lạc tại xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Chùa do Tổ sư Thiệt Dinh–Ân Triêm, thuộc đời 35 chi phái thiền Lâm Tế Chúc Thánh khai sơn vào khoảng những năm 1736(23), khi Ngài được 25 tuổi. Từ đây, tại đất Quảng Nam có thêm một ngôi phạm vũ trang nghiêm. Sau gần 50 năm
 

(23) Căn cứ vào bản chép tay tờ khai của trú trì Phổ Minh và Tri sự Hoằng Thọ vào ngày 29 tháng Giêng năm Khải Định thứ 7, Nhâm Tuất (1922) ghi: Năm 25 tuổi Ngài ra kiến tạo chùa Phước Lâm. Tính năm sinh của Tổ, Nhâm Thìn (1712) đến năm Ngài 25 tuổi là năm Bính Thìn (1736).
 

* Trang 146 *
device

giáo hóa, vào ngày 24 tháng 4 năm Bính Thìn(24) (1796), tổ Ân Triêm thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi và nhục thân của Ngài được an trí trong Bảo tháp tại chùa Phước Lâm.
                     
Tổ đình Phước Lâm – Hội An
 
Kế thế trú trì là ngài Pháp Ấn–Quảng Độ. Sau đó, ngài Pháp Kiêm–Minh Giác sau 20 năm quét chợ đã trở lại chùa xưa cùng ngài Pháp Ấn kiến tạo lại Phước Lâm bị tàn phá bởi cuộc chiến Tây Sơn. Từ đó, ngài Pháp Kiêm chính thức trú trì và thắp sang
 

(24) Theo tư liệu của Hòa thượng Phổ Minh ghi cũng như trên văn bia tại tháp mộ, tổ Ân Triêm sinh năm Nhâm Thìn (1712) và tịch năm Kỷ Dậu (1789) thọ 85 tuổi. Tuy nhiên tính từ năm Nhâm Thìn (1712) đến Kỷ Dậu (1789) thì chỉ thọ 77 tuổi. Nhưng cả hai tư liệu đều ghi Tổ thọ 85 tuổi nên chúng tôi tính Ngài tịch năm Bính Thìn (1796).
 

* Trang 147 *
device

ngọn đèn chánh pháp tại Quảng Nam ngày thêm chói rạng. Ngài đã chứng minh lễ đúc Đại hồng chung tại chùa Vạn Đức, chùa Hải Tạng v.v...
Kế thừa ngài Pháp Kiêm là ngài Toàn Nhâm–Quán Thông. Ngài Quán Thông có một vị đệ tử cầu pháp là ngài Ấn Bổn–Vĩnh Gia nổi tiếng thời nhà Nguyễn.
 
Chánh điện Tổ đình Phước Lâm – Hội An
Tổ Vĩnh Gia là vị trú trì đời thứ 6 của chùa Phước Lâm. Ngài là một vị Cao tăng thạc đức, uyên thâm giáo nghĩa nên thường được vua Nguyễn mời ra kinh đô thuyết pháp. Ngài làm Hòa thượng Đàn đầu của nhiều giới đàn, tác thành giới thể cho nhiều vị Cao tăng sau này.
Kể từ khi tổ Ân Triêm khai sơn, đến nay chùa Phước Lâm đã truyền thừa qua các đời trú trì như sau:




Tổ đường Tổ đình Phước Lâm – Hội An
 
 

* Trang 148 *
device

STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Thiệt Dinh–Chánh Hiển–Ân Triêm
1712–1796
1736–1796
02.
Pháp Ấn–Tường Quang–Quảng Độ
1739–1811
1796–1802
03.
Pháp Kiêm–Luật Oai–Minh Giác
1747–1830
1802–1830
04.
Toàn Nhâm–Vi Ý–Quán Thông
1798–1883
1830–1883
05.
Chương Nhẫn–Tuyên Hòa–Quảng Hóa
1817–1887
1883–1887
06.
Ấn Bổn–Tổ Nguyên–Vĩnh Gia
1840–1918
1887–1918
07.
Chơn Thể–Đạo Viên–Phổ Minh
1867–1936
1918–1936
08.
Chơn Huệ–Đạo Nhật–Phổ Trí
….?–1947
1936–1945
09.
Như Trạm–Tịch Chiếu
 
1945–1947
10.
Chơn Quả–Đạo Trấn–Đương Như
1881–1961
1947–1954
11.
Như Nhàn–Giải Lạc–Trí Giác
1915–2005
1954–1960
12.
Như Vạn–Giải Thọ–Trí Phước
1930–1980
1960–1980
13.
Như Nhàn–Giải Lạc–Trí Giác
1915–2005
1980–2001
14.
Thị Vinh–Hạnh Hoa–Huệ Liên
 
2001 đến nay
 
Đối với Phật giáo Quảng Nam, Tổ đình Phước Lâm đóng một vai trò rất quan trọng trong sự truyền thừa và phát triển. Chư tôn trong môn phái thường nói: “Chúc Thánh là chiếc nôi khai sinh, còn Phước Lâm là trung tâm truyền giáo của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh”. Phước Lâm vẫn mãi là rừng phước vô hạn theo đúng tâm nguyện khi đặt tên của Tổ khai sơn.

Nhà bia Tổ đình Phước Lâm – Hội An
 

* Trang 149 *
device

4. Tổ đình Tam Thai (25)
Tổ đình Tam Thai tọa lạc trên ngọn Thủy Sơn nằm trong quần thể Ngũ Hành Sơn thuộc huyện Hòa Vang, Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Trên ngọn Thủy Sơn, về phía đông bắc nổi ba ngọn núi có hình như chòm sao Tam Thai trong Bắc Đẩu nên ngày

Tổ đình Tam Thai – Ngũ Hành Sơn
xưa gọi là núi Tam Thai và ngôi chùa cũng được đặt tên như vậy.
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết được vị nào là Tổ sư khai sơn cũng như niên đại thành lập chùa. Tài liệu nói về Tam Thai sớm nhất là cuốn Hải Ngoại Ký Sự của thiền sư Thạch Liêm–Đại Sán. Ngài qua Đàng Trong vào năm Ất Hợi (1795) và đã tả lại như sau: “Đấy là núi Tam Thai, ngôi chùa trong ấy tức là đạo tràng của ngài Quả Hoằng (Hưng Liên) quốc sư, ngày mai chắc lẽ qua đó chơi…. Đi quanh qua mé núi, thấy đá có viên mọc đứng thẳng lên lại có chỗ dựng đứng như bức vách, nhưng chẳng thấy chùa đâu, tưởng chẳng có gì kỳ thú vậy. Chúng tôi đi cách núi chừng nửa dặm thấy một thầy sãi đứng nhìn chăm chỉ, rồi vội chui vào kẻ đá sau núi đi mất. Trước núi có một cái gò, trước gò leo lên chừng trăm bước có một ngôi chùa cổ, sãi trông chùa đánh chuông trống, mặc áo tràng ra rước vào lễ Phật, mời ngồi, thết trà, cung đón tươm tất. (26)
Theo sử liệu thì ngài Hưng Liên–Quả Hoằng là đệ tử của ngài Thạch Liêm, qua Đàng Trong cùng với ngài Nguyên Thiều vào
 

(25) Trên Ngũ Hành Sơn, có hai ngôi Quốc tự và cũng là Tổ đình chính của môn phái Chúc Thánh: đó là Tổ đình Tam Thai và Tổ đình Linh Ứng. Vì sự truyền thừa của hai chùa có quan hệ mật thiết như nhau nên trong tập sách này chúng tôi chỉ giới thiệu về khái lược lịch sử của Tổ đình Tam Thai.
(26) Thích Đại Sán, Hải Ngọai Ký Sự, Viện đại học Huế, 1963. 147–148.
 

* Trang 150 *
device

năm 1677. Ngài Hưng Liên được chúa Nguyễn Phúc Chu tôn làm Quốc sư và trụ tại đạo tràng Tam Thai để hoằng pháp. Như vậy, chùa Tam Thai đã có từ rất lâu với những kiến trúc quy mô của một ngôi đại tự.
Đặc biệt, trong hệ thống các chùa tại Quảng Nam thì chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng trên núi Ngũ Hành được các vua nhà Nguyễn sắc phong Quốc tự. Đặc ân này có liên quan đến truyền thuyết sau: Trong thời chiến tranh Tây Sơn và nhà Nguyễn, vua Gia Long dẫn đoàn chiến thuyền ra Phú Xuân để khôi phục cơ đồ. Khi đi đến cửa biển Sơn Trà thì sóng to gió lớn không đi được. Sự việc kéo dài vài ngày, vua bèn lên núi Ngũ Hành, đến chùa Tam Thai khấn nguyện: “Xin cho trời êm biển lặng, nếu thu phục lại cơ đồ thì phát nguyện trùng tu lại chùa” (lúc này chùa Tam Thai bị tàn phá bởi quân Tây Sơn). Khấn xong thì trời quang mây tạnh và đoàn chiến thuyền tiếp tục hành trình. Sau khi lên ngôi, do bận nhiều quốc sự nên vua Gia Long chưa thực hiện được lời nguyện năm xưa. Đến đời vua Minh Mạng, ông đã hoàn thành tâm nguyện của Tiên vương. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), vua đã ngự đến Tam Thai và trùng tu lại chùa này. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) vua đúc tượng Phật bằng đồng cúng dường chùa, đồng thời bổ nhiệm ngài Viên Trừng ở chùa Thiên Mụ vào làm trú trì chùa Tam Thai.
 
Bảng ngự chế Tam Thai Tự
Năm Minh Mạng thứ 6 (1825)

* Trang 151 *
device

Hòa thượng Viên Trừng pháp danh Tiên Thường, thế danh Trần Văn Trừng người huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài là bậc Cao tăng, giới hạnh trang nghiêm và công phu hành trì miên mật. Đạo phong của Ngài ảnh hưởng rất lớn đối với triều Nguyễn nên em gái vua Minh Mạng đã quy y thế phát với Ngài tại đây. Ngài tịch vào năm Tự Đức thứ 6 (1853), hưởng thọ 77 tuổi. Nhục thân của Ngài được tôn trí trong bảo tháp tại ngọn Thổ Sơn và tồn tại đến ngày nay.
Sau khi ngài Viên Trừng viên tịch thì các thiền sư thuộc dòng Chúc Thánh được các vua nhà Nguyễn bổ nhiệm làm trú trì hoặc Tăng cang. Tính từ ngài Viên Trừng thì đã trải qua 13 đời trú trì như sau:

 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Hưng Liên–Quả Hoằng
….?–….?
Khoảng1695
02.
Tiên Thường–Viên Trừng
1777–1853
1826–1853
03.
Chương Tín–Tuyên Khánh–Hoằng Ân
….?–1862
1854–1862
04.
Chương Tư–Tuyên Văn–Huệ Quang
….?–1873
1862–1873
05.
Chương Quảng–Tuyên Châu–Mật Hạnh
1822–1884
1873–1884
06.
Ấn Thanh–Tổ Đạo–Chí Thành
1841–1895
1884–1895
07.
Ấn Lan–Tổ Huệ–Từ Trí
1852–1921
Tăng cang
08.
Ấn Diệu–Tổ Truyền–Từ Nhẫn
1859–1921
Tăng cang
09.
Chơn Đỉnh–Đạo Đạt–Phước Thông
1866–1951
1895–1906
10.
Chơn Pháp–Đạo Diệu–Phước Trí
1867–1932
1906–1932
11.
Chơn Phương–Đạo Cân–Thiện Trung
1883–1945
1932–1945
12.
Như Hoàn–Giải Trác–Huệ Tràng
1896–1966
1945–1960
13.
Như Nhàn–Giải Lạc–Trí Giác
1915–2005
1960–2000
14.
Thị Đàm–Hạnh Mãn–Tuệ Trung
 
2000 đến nay
 
Vì chùa Tam Thai là ngôi Quốc tự nên việc bổ nhiệm trú trì do triều đình quyết định chứ không phải tông môn. Đến năm 1945, chế độ phong kiến cáo chung, lúc đó mới chính thức do tông môn công cử. Ngoài các vị trú trì ra, còn có các vị tôn túc được cử làm

* Trang 152 *
device

Tăng cang hai chùa Tam Thai, Linh Ứng như: Hòa thượng Ấn Lan–Từ Trí, Ấn Diệu–Từ Nhẫn, Chơn Chứng–Thiện Quả, Chơn Tá–Tôn Bảo, Trừng Kệ–Tôn Thắng v.v...
Hiện tại chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị như “Quả tim lửa” bằng đồng của vua Minh Mạng hiến cúng vào năm thứ 6, tấm bảng ngự chế Tam Thai Tự v.v...
Tam Thai ngày nay vẫn còn giữ được nét cổ kính uy nghi mặc dù đã trải qua nhiều lần trùng tu. Đây là một Phật tích mà tiền nhân lưu lại, góp phần đẹp thêm cho danh thắng Ngũ Hành.
5. Tổ đình Cổ Lâm
                     
Tam quan Tổ đình Cổ Lâm – Đại Lộc
Tổ đình Cổ Lâm tọa lạc trên đỉnh đồi thuộc thôn Hà Nha, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết được danh tánh cũng như niên đại của Tổ khai sơn(27). Từ đó, chùa Cổ Lâm đóng vai trò quan trọng trong việc
 

(27) Có thuyết nói rằng do tổ Minh Hải-Pháp Bảo khai sơn. Theo tư liệu của Hòa thượng Thích Như Tín thì chùa Cổ Lâm do ngài Thiệt Thông-Hoằng Nhẫn khai sơn. Theo tư liệu của cố Hòa thượng Thích Như Khương, trú trì chùa Phổ Quang-Đà Nẵng thì chùa Cổ Lâm do ngài Lương Nhất Lễ khai sơn. Cũng tư liệu này cho rằng ngài Lương Nhất Lễ là huynh đệ thân tộc với các ngài Lương Minh Hải và Lương Huệ
 
 
 
 
 
 
    
 

* Trang 153 *
device

truyền thừa của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại tỉnh Quảng Nam.
Trải qua các cuộc chiến tranh, chùa Cổ Lâm nằm tại vùng giao chiến nên bị tàn phá nặng nề. Năm 1959, Hòa thượng Thích Đồng Phước trùng tu và lạc thành dưới sự chứng minh của ngài Tăng cang Thích Thiện Quả. Đến năm 1967, chùa bị chiến tranh làm sụp hoàn toàn. Sau ngày hòa bình lập lại, Hòa thượng Thích Như Tín, trú trì chùa Hưng Long và Thượng tọa Thích Như Thọ, trú trì chùa Bửu Đà, Sài–gòn về trùng tu lại hoàn toàn như hiện nay.
Từ khi được thành lập đến nay, chùa đã trải qua các đời trú trì (28):
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Chương Chất-Tuyên Chiếu-Quảng Thành
….?–…?
…?–…?
02.
Chương Lý–Trí Quang
1834–1905
…?–…?
03.
Hòa thượng Hoằng Giáo
….?–….?
….?–….?
04.
Hòa thượng Trường Định (Ở Huế)
….?–….?
….?–….?
05.
Hòa thượng Quảng Sao
….?–….?
….?–….?
06.
Hòa thượng Quảng Nghĩa
….?–….?
….?–….?
07.
Ấn Mục–Tổ Khiết–Hoằng Cam
1884–1943
1907–1940?
08.
Chơn Thông–Đạo Đạt–Đồng Phước
1895–1968
1940–1968
09.
Như Lợi–Giải Lạc–Chúc Thọ
Giám tự
1968 đến nay
 
Tổ đình Cổ Lâm là một trong những ngôi chùa mang nhiều dấu ấn của phong trào Duy Tân. Nhà chí sĩ Trần Cao Vân trong những năm hoạt động cách mạng đã từng xuất gia nơi đây với pháp danh Như Ý. Chính vì lẽ đó mà chùa bị mật thám Pháp và quan lại Nam triều thường xuyên khám xét hạch sách. Chùa được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.
 

     Hồng. Tuy nhiên, trong 1 cặp đối tại Tổ đình Chúc Thánh do ngài Lương Nhất Lễ cúng ghi lạc khoảng năm Tự Đức thứ 2, Kỷ Dậu (1849). Nội dung câu đối như sau: Bách bái môn nghinh tam thiên Phật, Nhất tâm động thấu cửu trùng thiên”. Như vậy, ngài Lương Nhất Lễ không thể cùng thời với tổ Minh Hải được. Cả ba nguồn tư liệu trên vẫn chưa thuyết phục được người tìm hiểu.
(28) Các đời và niên đại chư vị trú trì Tổ đình Cổ Lâm, chúng tôi căn cứ vào tư liệu viết tay của cố Hòa thượng Thích Như Khương (do Thượng tọa Thích Hạnh Trí, trú trì chùa Phổ Quang, Đà Nẵng cung cấp). Ở đây, cũng chỉ mức độ tương đối chứ không tuyệt đối.
 

* Trang 154 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh