LOGO VNBET
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1. Tổ đình Viên Thông
Chùa Viên Thông tọa lạc dưới chân núi Ngự Bình thuộc xã Thủy An, huyện Hương Thủy, thành phố Huế. Chùa được Tổ sư Thiệt Diệu–Liễu Quán khai sơn vào những năm cuối thế kỷ XVII. Nơi đây đã lưu lại phần lớn cuộc đời hành đạo của tổ Liễu Quán, tiêu biểu nhất là giới đàn năm Canh Tuất (1742). Tuy nhiên, trong thời tổ Liễu Quán, chùa cũng chỉ là một thảo am nhỏ mà thôi.
 

                              Tam quan Tổ đình Viên Thông – Huế
 
Sau khi tổ Liễu Quán viên tịch, đệ tử là ngài Tế Phổ–Trí Thông–Viên Trì kế nghiệp trú trì. Kế thừa ngài Tế Phổ có đệ tử là Đại Nguyện–Vĩnh Thành–Viên Đoan trú trì chùa Viên Thông. Đến thời Tây Sơn, chùa bị hư hoại hoàn toàn. Sau khi Gia Long phục quyền, Hòa thượng Đạo Thiện–Quang Tuấn–Viên Trưởng đã trùng tu lại, nhưng cũng chỉ mang tính cách chùa tre vách nứa.

* Trang 211 *
device

Năm Minh Mạng thứ 4, Quý Mùi (1823), ngài Trạch Quang Hầu và một số quan lại bỏ tiền trùng tu xây dựng quy mô hơn và đổi tên thành Hưng Phước tự. Đến năm 1866, do có một số chư Tăng tham gia vào cuộc khởi nghĩa Đoàn Trưng, Đoàn Trực nên vua Tự Đức không tích cực ủng hộ Phật giáo. Từ đó, một số chùa rơi vào suy sụp, trong đó có chùa Viên Thông. Đến năm 1881, công tử Hồng Thiết ở phủ Tùng Thiện Vương cùng thân hữu phát nguyện trùng tu và ngài Tánh Trạm trú trì.



Chánh điện Tổ đình Viên Thông – Huế
 

                                                     Tổ đình Viên Thông – Huế

* Trang 212 *
device

Sau khi ngài Tánh Trạm viên tịch, do không có đệ tử kế thừa nên bổn đạo đã mời thiền sư Chơn Kim–Pháp Lâm, trú trì chùa Châu Lâm, Phú Yên kiêm nhiệm trú trì chùa Viên Thông, Huế. Từ đó, chùa Viên Thông được truyền thừa theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Kể từ khi thành lập đến nay, chùa đã trải qua các đời trú trì như sau:
 
SST
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh - tịch
Năm trú trì
01.
Thiệt Diệu–Liễu Quán–Viên Nhất
1667–1742
….?–1742
02.
Tế Phổ–Trí Thông–Viên Trì
….?–….?
….?–….?
03.
Đại Nguyện–Vĩnh Thành–Viên Đoan
….?–….?
….?–….?
04.
Đạo Thiện–Quang Tuấn–Viên Trưởng
….?–….?
….?–….?
05.
Tánh Trạm–Quảng Phong
….?–….?
….?–….?
06.
Chơn Kim–Pháp Lâm
1861–1898
1889–1898
07.
Như Thừa–Giải Trí–Hoằng Nguyện
1880–1926
1898–1926
08.
Thị Bình–Diệu Khai
1908–1981
1926–1981
09.
Đồng Huy–Quảng Tú
 
1981 đến nay
 
Đến đời ngài Hoằng Nguyện trú trì, diện tích đất chùa được mở rộng. Sang đời Hòa thượng Diệu Khai, chùa được trùng tu toàn bộ nhưng vẫn giữ được những nét cổ kính của một ngôi chùa có trên 300 năm lịch sử. Hiện tại, chùa còn lưu những cổ vật quý như các pho tượng Thập Bát La–hán bằng đất nung của Trung Quốc; chiếc khánh bằng đá; bảng khắc Chánh pháp Nhãn tạng truyền theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh do tổ Chơn Kim–Pháp Lâm tạo v.v...
 
                      Tượng Thập Bát La Hán tại Tổ đình Viên Thông – Huế

* Trang 213 *
device

2. Chùa Phước Huệ
Chùa Phước Huệ được Tuy Lý Vương Miên Trinh lập tại thôn Vỹ Dạ, kinh thành Huế vào năm Đinh Hợi (1887) để cho thiền sư Chơn Tâm–Pháp Thân tu hành. Thiền sư Pháp Thân là cháu nội của Tuy Lý Vương, xuất gia tu học với tổ Ấn Thiên–Huệ Nhãn tại chùa Từ Quang, Phú Yên. Tên chùa Phước Huệ là ghép hai chữ đầu của tên chùa Phước Sơn và đạo hiệu Huệ Nhãn để tưởng nhớ đến chốn Tổ cũng như Bổn sư đang ở tại Phú Yên.

                                                           Chùa Phước Huệ – Huế
 
Từ đó, chùa Phước Huệ trở thành nơi lui tới của chư Tăng dòng Chúc Thánh tại Phú Yên và Quảng Nam trong những lúc ra kinh đô dự pháp hội hay thăm viếng. Tuy nhiên, thiền sư Pháp Thân viên tịch rất trẻ, khi tuổi đời vừa 28. Hòa thượng Chơn Kiết–Đạo Tường–Phổ Hóa từ chùa Phước Lâm, Quảng Nam ra kế nhiệm trú trì. Đến khoảng năm 1916, tổ Vĩnh Gia cho gọi ngài Phổ Hóa về lại Quảng Nam giữ chức vụ Phó trú trì chùa Phước Lâm thì chùa Phước Huệ do phủ Tuy Lý Vương quản lý và đã mời Hòa thượng Thích Tịnh Khiết trú trì.

 

* Trang 214 *
device

Chánh điện chùa Phước Huệ
 
 
            Năm 1935, Hòa thượng Tịnh Khiết về trú trì chùa Tường Vân thì chùa Phước Huệ do ngài Chơn Không–Đạo Tánh–Hoằng Định trú trì. Ngài Hoằng Định tên là Thái Hượt, cháu gọi Hòa thượng Phổ Hóa bằng bác và cũng



Bảng phong sắc tứ năm
Bảo Đại 15 (1940)
là đệ tử của tổ Vĩnh Gia ở chùa Phước Lâm. Ngài trú trì  đến những năm 1945 thì tịch. Từ đó, chùa do phủ Tuy Lý Vương quản lý. Các đời trú trì chùa Phước Huệ như sau:

* Trang 215 *
device

STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Chơn Tâm–Đạo Tánh–Pháp Thân
1869–1895
1887–1895
02.
Chơn Kiết–Đạo Tường–Phổ Hóa
….?– 1918
1895 – 1916
03.
Trừng Thông–Chơn Thường–Tịnh Khiết
1891–1973
1916–1935
04.
Chơn Không–Đạo Tánh–Hoằng Định
…?–….?
1935–1945?
 
Hiện tại trú trì chùa Phước Huệ là Ni sư Thích Nữ Chơn Đức. Trong Tổ đường chùa còn thờ 3 long vị: tổ Ấn Thiên–Huệ Nhãn, thiền sư Chơn Tâm–Pháp Thân và Hòa thượng Chơn Kiết–Phổ Hóa.
Tuy rằng chùa Phước Huệ không phải là một ngôi Tổ đình truyền thừa sâu rộng, nhưng nơi đây đã từng lưu dấu của các vị Cao tăng như: Pháp Tạng, Pháp Hỷ (Phú Yên); Phước Huệ (Bình Định); Vĩnh Gia, Phổ Hóa (Quảng Nam) trong những lần lai kinh hoằng pháp.
 

                                                           Bàn thờ tổ tại chùa Phước Huệ

* Trang 216 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh