LOGO VNBET
Hưng Khánh v.v... Đời 39 có các ngài Ấn Bình–Bửu Vĩnh trú trì chùa Thiên Hòa, Ấn Hải–Viên Thông trú trì chùa Sơn Long, Ấn Cơ Viên Trừng, Ấn Tổ–Phước Minh trú trì chùa Hưng Khánh là những bậc tài đức nhiếp hóa đồ chúng. Đời 40 có các vị Chơn Hương–Chí Bảo trú trì chùa Hưng Khánh, Chơn Tịnh–Cao Minh trú trì chùa Tịnh Liên, Chơn Tâm–Phước Quang trú trì chùa Sơn Long; Chơn Huệ–Chí Mẫn trú trì chùa Nhạn Sơn, Chơn Giám–Trí Hải trú trì chùa Bích Liên v.v... đều là những bậc Long tượng góp phần rất lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo tỉnh Bình Định. Kế tiếp đời 41 có các Hòa thượng Như Hòa–Tâm Ấn trú trì chùa Hưng Khánh, Như Từ–Tâm Đạt trú trì chùa Thiên Bình; Như Huệ–Hoằng Thông trú trì chùa Bạch Sa, Như Xuân–Huyền Ngộ trú trì chùa Gia Khánh, Như Phước–Huyền Ý trú trì chùa Liên Tôn, Như Phước–Tường Quang trú trì chùa Phước Sơn, Như An–Huyền Quang trú trì tu viện Nguyên Thiều v.v... góp phần rất lớn cho sự phát triển của Phật giáo, có tầm ảnh hưởng khắp nơi trong cả nước và hải ngoại. Từ đó tạo nên một hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh có sự liên hệ sinh hoạt chặt chẽ.
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1. Tổ đình Sơn Long

                                                    Tổ đình Sơn Long (chưa trùng tu)

* Trang 276 *
device

Chùa Sơn Long là một trong những Tổ đình chính của môn phái Lâm Tế Chúc Thánh tại tỉnh Bình Định. Chùa được thiền sư Thiệt Đăng–Chánh Trí– Bửu Quang đời 35 Lâm Tế Chúc Thánh khai sơn vào những năm đầu thế kỷ XVII. Ban đầu tổ Bửu Quang lập thảo am nhỏ lấy tên là Giang Long thiền thất, tựa lưng vào núi Trường Úc thuộc thôn Thuận Nghi, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Ninh, trấn Bình Định (nay là phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn). Đến đời ngài Chương Nghĩa–Thanh Tuyền cho thiên di tái thiết và cải hiệu Giang Long thiền thất thành Sơn Long tự cho đến ngày hôm nay.
Kể từ khi thành lập đến nay, Tổ đình Sơn Long đã trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Thiệt Đăng–Chánh Trí–Bửu Quang
1699–1782
…?–1782
02.
Tịch Lý–Thanh Thiện–Diệu Thuận
….?–….?
….?–….?
03.
Chương Nghĩa–Tuyên Đức–Thanh Tuyền
1761–1864
…?–1864
04.
Ấn Hải–Viên Thông
1827–1919
1864–….?(51)
05.
Ấn Hoàn–Tuyên Khánh–Thiện Hòa
1811–1889
….?–1889
06.
Chơn Định–Đạo Đoan–Chí Hạnh
1802–1890
1889–1890
07.
Chơn Tâm–Đạo Hạnh–Phước Quang
1859–1916
1890–1916
08.
Như Tại–Hoằng Liễu
1883–1931
1916–1931
09.
Như Chất–Hoằng Ngữ
1879–1945
1931–1945
10.
Thị Đạo–Diệu Tâm–Bình Khánh
.…?–.…?
1945–1954
11.
Thị Sa–Từ Dung–Bình Chánh
1916–1985
1954–1985
12.
Đồng Đức–Thông Luận–Bích Thiên
1958–
1985 đến nay
 

(51) Theo như tư liệu chùa Sơn Long ghi lại, ngài Ấn Hải-Viên Thông sinh năm Đinh Hợi (1767) và tịch năm Kỷ Mùi (1859) thọ 93 tuổi. Nhưng sau khi tra cứu thì chúng tôi thấy bất hợp lý. Vì thế, chúng tôi tính lại năm Đinh Hợi là năm 1827 và năm Kỷ Mùi là năm 1911. Tuy nhiên trong khoảng thời gian Ngài trụ thế có một số vị kế thừa trú trì chùa Sơn Long và tịch trước Ngài. Bởi lẽ có thời gian Ngài ra trú trì chùa Thập Tháp, đến lúc tuổi già mới về lại tịnh dưỡng và viên tịch tại Sơn Long.
 

* Trang 277 *
device


                                                 Tòan cảnh Tổ đình Sơn Long

Trải qua 12 đời truyền thừa, theo sự biến thiên của lịch sử mà Tổ đình Sơn Long có lúc suy lúc thịnh. Có lúc chùa bị hoang tàn bởi cảnh chiến tranh nhưng cũng lắm lúc Tăng chúng vân tập tu học đông đảo. Các đời trú trì đều đem hết tâm lực tô bồi chốn Tổ. Ngài Thanh Tuyền thiên di cải hiệu Sơn Long. Ngài Ấn Hải trùng tu theo kiểu tiền đường hậu tẩm mang đầy nét cổ kính của phong cách Á Đông. Đến thời ngài Bình Chánh trùng tu năm Mậu Tuất (1958) theo mô thức mới, tuy thiếu đi đường nét cổ kính Á Đông nhưng lại mang tính kiên cố của kiến trúc Tây phương.
Hiện tại trú trì Tổ đình là Thượng tọa Thích Đồng Đức, nối pháp đời 43 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Thượng tọa luôn luôn ưu tư khắc khoải cho sự phát triển của Tổ đình nên đã lần lần kiến thiết trùng tu. Năm 2001, Thượng tọa trùng tu toàn bộ chánh điện và hoàn tất vào năm 2003. Đến năm 2005, Thượng tọa tiếp tục trùng tu tháp Tổ khai sơn và các hạng mục khác. Thượng tọa có công rất lớn trong việc duy trì chốn Tổ, đưa Tổ đình Sơn Long xứng tầm là Tổ đình chính của môn phái Chúc Thánh tại tỉnh Bình Định.

* Trang 278 *
device


                                                                        Tổ đường Tổ đình Sơn Long

 2. Tổ đình Thiên Hòa
Tổ đình Thiên Hòa là một trong những ngôi cổ tự lâu đời truyền thừa theo dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Chùa được thiền sư Viên Quang khai sơn vào những năm cuối thế kỷ XVIII.
Thiền sư Viên Quang pháp danh Pháp Tịnh, tự Luật Phong nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh. Đến nay, ta chỉ biết Ngài là người gốc Quảng Nam, xuất gia đắc pháp với tổ Thiệt Dinh–Ân Triêm tại chùa Phước Lâm, Hội An. Sau đó, Ngài du phương đến thôn Tri Thiện, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước lập thảo am Thiên Hòa để tu hành. Sau khi ngài viên tịch, có lẽ do không có đệ tử kế thừa nên thiền sư Liễu Tham–Minh Huệ kế thế trú trì. Vào năm Ất Mùi (1895), thiền sư Liễu Tham viên tịch nên chùa khuyết người trú trì. Đến năm Kỷ Hợi (1899), Hòa thượng Chương Hiệp–Chánh Trí từ chùa Phổ Bảo qua kiêm nhiệm trú trì. Từ đó về sau, chùa Thiên Hòa ngày càng hưng thịnh.

* Trang 279 *
device


                                                                 Tổ đình Thiên Hòa
Kế ngài Chương Hiệp–Chánh Trì là ngài Ấn Bình–Bửu Quang. Ngài là người tinh thông dịch học nên đồ chúng theo học rất đông. Trong đó, có ngài Chơn Cảnh–Trí Thắng được chọn làm người kế nghiệp.
Năm Nhâm Tuất (1922), chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi nên ngài Ấn Bình–Bửu Quang vận động trùng tu lại khang trang hơn. Vào năm Bảo Đại thứ 17, Nhâm Ngọ (1942), chùa Thiên Hòa được triều đình ban biển ngạch Sắc tứ. Theo đặc ân này, chùa Thiên Hòa ngày thêm khởi sắc và Tăng chúng theo về tu học ngày càng đông.
Đến năm 1924, Hòa thượng Trí Thắng vào Phan Rang hành đạo và lập chùa Thiên Hưng để hoằng pháp. Còn tại chùa Thiên Hòa, Ngài giao cho các vị đệ tử trông nom.
Sự truyền thừa tại chùa Thiên Hòa từ trước đến nay như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Pháp Tịnh–Luật Phong–Viên Quang
….?–….?
….?–….?
02.
Liễu Tham–Minh Huệ–Tịch Quang
….?–1895
….?–1895
03.
Chương Hiệp–Tuyên Thủ–Chánh Trì
1833–1910
1899–1910
 

* Trang 280 *
device

04.
Ấn Bình–Tổ Vĩnh–Bửu Quang
1863–1921
1910–1921
05.
Chơn Cảnh–Đạo Thông–Trí Thắng
1891–1975
1921–1924
06.
Như Tuyên–Vĩnh Thạnh–Kiết Bảo
….?–1925
1924–1925
07.
Chơn Huệ–Đạo Thanh–Quảng Nguyên
….?–….?
1925–….?
08.
Thị Nhơn–Hạnh Quảng–Đỗng Quán
 
 
 
Trú trì chùa Thiên Hòa hiện nay là Hòa thượng Thích Đỗng Quán, Ngài là một trong những vị tôn túc lãnh đạo Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh.
3. Tổ đình Phổ Bảo

                                                                        Tổ đình Phổ Bảo

 
Vào năm Quý Tỵ (1773), thiền ông Ngộ Giác, tự Thiện Minh, thế danh Lê Tấn Đạt lập am tranh Phổ Giác tại thôn Phổ Trạch, tổng Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, phủ Hoài Nhơn, trạm Bình Điền, dinh Quảng Nam. Nguyên thảo am nằm trên đồi Hòn Ấn (nay là nghĩa trang liệt sĩ huyện Tuy Phước).
Đến năm Bính Thân (1836), thiền sư Toàn Ý–Phổ Huệ thiên di tái thiết và cải hiệu Phổ Giác am thành chùa Phổ Bảo cho đến hôm nay. Khi thiên di, ngài Phổ Huệ xoay chùa tọa hướng Càn,

* Trang 281 *
device

Tốn; Tỵ, Hợi phân kim. Trong lần trùng tu năm Canh Thìn (1940), ngài Tâm Ấn cho xoay mặt chùa về hướng tây–tây nam như hiện nay.
Kể từ khi ngài Phổ Huệ thiên di tái thiết và ngôi già–lam Phổ Bảo có mặt trong lịch sử Phật giáo Bình Định, chùa đã trải qua 8 đời trú trì và ngài Phổ Huệ được coi là Tổ thứ nhất. Chùa Phổ Bảo đã trải qua các đời trú trì sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Toàn Ý–Vi Tri–Phổ Huệ
1799–1872
1836–1872
02.
Chương Hiệp–Tuyên Thủ–Chánh Trì
1833–1910
1872–1894
03.
Ấn Đoan–Tổ Vị–Hoằng Nghĩa
1861–1900
1894–1900
04.
Ấn Sinh–Ngộ Hiền
(Về sau lụy trần)
1900–1910
05.
Chơn Thành–Phước Khánh
1868–1927
1910–1927
06.
Như Hòa–Tâm Ấn
1907–1963
1932–1948
07.
Thị Huệ–Hạnh Giải–Bảo An
1914–
1948–2003
08.
Đồng Chơn–Thông Đức–Thiện Thức
1952–
2003 đến nay
 


Cổng cũ Tổ đình Phổ Bảo

Từ khi thành lập đến nay, chùa Phổ Bảo đã được tái thiết nhiều lần. Đời ngài Ấn Đoan–Hoằng Nghĩa trú trì, chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi hoàn toàn nên Ngài đại trùng tu quy mô hơn. Đời ngài Như Hòa–Tâm Ấn trùng tu hai lần vào năm 1935 và 1940. Đến đời ngài Bảo An, chùa lại được trùng tu toàn bộ vào năm Canh Ngọ (1990).
Trong sự truyền thừa của môn phái Chúc Thánh tại Bình Định thì Tổ đình Phổ
 

* Trang 282 *
device

Bảo đóng vai trò quan trọng. Tổ sư Toàn Ý–Phổ Huệ có 7 vị đệ tử lớn ra khai sơn, trùng kiến các ngôi tự viện như sau:
– Chương Nghĩa–Tuyên Đức–Thanh Tuyền: trùng kiến chùa Sơn Long.
– Chương Hải–Tuyên Thâm–Thanh Nguyên: khai sơn chùa Thiên Trúc.
– Chương Hiệp–Tuyên Thủ–Chánh Trì: trú trì chùa Phổ Bảo, khai sơn chùa Huỳnh Long, tái thiết chùa Thiên Hòa.
– Chương Thiện–Tuyên Giác–Hoằng Đạo: khai sơn chùa Phổ Quang.
– Chương Trí–Tuyên Huệ–Quảng Giác: khai sơn chùa Hưng Khánh.
– Chương Lý–Hoằng Hóa: khai sơn chùa Diêu Phong.
– Chương Tường–Tuyên Thanh–Vĩnh Điền: khai sơn chùa Vĩnh Khánh.
Từ đó, các tự viện dòng Lâm Tế Chúc Thánh truyền thừa theo hệ chùa Phổ Bảo phát triển rất mạnh và tạo một mối quan hệ khắng khít mật thiết. Vì thế, trong giới thiền lâm thời bấy giờ thường truyền miệng câu: “Phổ Bảo nhiều bánh, Hưng Khánh nhiều nhang, Phổ Quang nhiều lúa” để nói về đặc điểm chính của những ngôi chùa Tổ này.
4. Tổ đình Thắng Quang
Tổ đình Thắng Quang tọa lạc tại thôn Hy Tường, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Ban đầu có một nhà sư đến đây mai danh ẩn tích, dân làng cảm mến lập thảo am để sư tu hành. Một thời gian sau, Sư lại vân du hoằng hóa chốn khác. Đến tháng 7 năm Đinh Tỵ (1717), dân làng cung thỉnh Hòa thượng Minh Giác–Kỳ Phương trú trì chùa Thập Tháp chứng minh khai sơn và Ngài đặt tên là Thắng Quang tự. Tổ Minh Giác–Kỳ Phương đã trạch cử đệ tử là Thiệt Tâm–Thiện Trực trú trì chùa này. Như vậy, ban đầu chùa truyền theo dòng Thập Tháp “…Hành Siêu Minh Thiệt Tế...”.
Đến thời Tây Sơn binh hỏa, chùa Thắng Quang rơi vào cảnh hoang tàn, không ai hương khói. Ngày 14 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1822), Hòa thượng Toàn Định–Bảo Tạng nhân dịp về thăm quê có đến viếng cảnh Thắng Quang. Thấy tượng Phật hảo tướng trang

 

* Trang 283 *
device

nghiêm mà chùa thì bị hoang phế, Ngài phát tâm ở lại trùng kiến chùa Thắng Quang. Từ đó, chùa Thắng Quang được tôn tạo và truyền thừa theo pháp kệ của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.

                                                                       Tổ đình Thắng Quang
Từ khi khai sơn đến nay, chùa trải qua các đời trú trì như sau:
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Minh Giác–Kỳ Phương
.…?–1744
1717–1744
02.
Thiệt Tâm–Thiện Trực
1694–1759
1744–1759
03.
Tế Hội–Thiền Tôn
…?–…?
1759–….?
04.
Toàn Định–Vi Quang–Bảo Tạng
1789–1842
1822–1842
05.
Chương An–Tông Bổn–Quảng Khánh
….?–1876
1842–1876
06.
Ấn Luân–Mỹ Hoán–Hoằng Hóa
….?–1913
1876–1913
07.
Chơn Điển–Đạo Phê–Khánh Trí
….?–1921
1913–1921
08.
Chơn Thường–Đạo Nhiên–Khánh Độ
….?–….?
1921–1923
09.
Chơn Sự–Đạo Thể–Khánh Quý
….?–1943
1923–1943
10.
Như Nghĩa–Giải Lý–Tín Truyền
….?–….?
1943–1946
11.
Như Thông–Giải Minh–Huyền Ngộ
….?–1969
1946–1969
12.
Môn phái quản lý
 
1969–1976
13.
Thị Bổn–Hạnh Thiện–Hồng Viên
1957–
1976 đến nay
 

* Trang 284 *
device

Trải qua 13 đời trú trì, có lúc thịnh lúc suy theo sự thăng trầm của thế cuộc, tuy nhiên chùa Thắng Quang vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của môn phái Chúc Thánh tại các huyện phía bắc tỉnh Bình Định. Từ đây, các hàng đệ tử Thắng Quang ra khai sơn các chùa như:
– Chơn Sự–Khánh Quý: khai sơn chùa Bình Sơn (Kim Quang).
– Như Thông–Huyền Ngộ: khai sơn chùa Quang Phước.
– Như Kế–Huyền Đức: khai sơn chùa Bửu Tạng và Hoằng Hóa.
– Như Phẩm–Huyền Hoa: trùng kiến chùa cổ Kim Tiên, cải danh thành Khánh Sơn và khai sơn chùa Viên Quang.
– Như Thiền–Huyền Ân: khai sơn chùa Huệ Quang.
Tổ đình Thắng Quang đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1930, 1957. Năm Canh Thìn (1940) chùa được triều đình Huế ban biển ngạch Sắc tứ. Chùa bị hư hại nặng trong cuộc chiến tranh Việt–Mỹ. Năm 1976, Thượng tọa Thích Hạnh Thiện được sơn môn cung cử trú trì Tổ đình Thắng Quang. Từ đó Thượng tọa từng bước kiến tạo lại chánh điện (1989) trùng tu tháp Tổ (2003) v.v... Hiện tại, Tổ đình Thắng Quang đang được trùng tu một cách quy mô, kiên cố. Mong rằng việc trùng tu sớm viên mãn để có nơi cho chư Tăng và đạo hữu Phật tử tu niệm.
5. Tổ đình Thiên Bình

                                                       Tổ đình Thiên Bình

* Trang 285 *
device

Trong bước đường Nam tiến, ông Nguyễn Thiên từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong lập nghiệp tại thôn Trung Lý, xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Kế đến, người con của ông Thiên là ông Nguyễn Kịch vì mến mộ đạo Phật nên đã phát nguyện lập chùa thờ phụng Tam bảo. Năm Kỷ Dậu (1789), dưới sự chứng minh của thiền sư Từ Khánh–Thiền Diên trú trì chùa Hoằng Nhơn, ông Nguyễn Kịch và thân tộc lập chùa tại làng Trung Lý. Chùa được Hòa thượng Từ Khánh đặt tên là Thiên Bình với nguyện vọng mong ước thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc.
 


Tổ đường Tổ đình Thiên Bình

Sau khi lập chùa, Hòa thượng Từ Khánh cử đệ tử mình là thiền sư Gia Nghị trú trì chăm nom Phật sự. Đến lúc ngài Gia Nghị viên tịch, thân tộc Nguyễn cung thỉnh thiền sư Đạt Huệ từ chùa Thập Tháp lên trú trì. Ngài Đạt Huệ được triều đình ban Khâm đao Độ điệp và trú trì đến năm 1861 thì viên tịch. Thân tộc họ Nguyễn về tại Tổ đình Thanh Long huyện Phù Cát, khẩn xin Hòa thượng Chương Giác–Nhơn Tâm cho chư Tăng đến kinh kệ phụng thờ. Tổ Chương Giác bèn trạch cử đệ tử lớn là ngài Ấn Cơ–Viên Thường 
về trú trì chùa Thiên Bình. Từ đó, chùa bắt đầu truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Tính đến nay, chùa Thiên Bình đã trên 200 năm phát triển và trải qua các đời trú trì như sau:

* Trang 286 *
device

STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Từ Khánh–Thiền Diên
Chứng minh
….?–….?
02.
Hiệu Gia Nghị
….?–….?
….?–…?
03.
Đạt Huệ–Quảng Văn
1766–1861
….?–1861
04.
Ấn Cơ–Viên Thường
1827–1891
1861–1891
05.
Chơn Dụng–Quang Phước
….?–1923
1891–1923
06.
Chơn Huệ–Chí Mẫn (chùa Nhạn Sơn)
….?–….?
kiêm
07.
Như Từ–Tâm Đạt
1907–1979
1927–1967
08.
Thị Duật–Hạnh Pháp–Liễu Không
1931–1999
1967–1999
09.
Đồng Tâm–Phước Minh
 
1999 đến nay
 
Kể từ thời ngài Ấn Cơ về sau, chùa Thiên Bình ngày một hưng thịnh, Tăng chúng tu học rất đông. Đặc biệt, thời ngài Như Từ–Tâm Đạt trú trì, Ngài đã cho trùng tu lại chùa và được triều đình ban Sắc tứ vào năm Canh Thìn (1940). Tại đây, ngài Tâm Đạt mở nhiều giới đàn để thí giới cho Tăng ni tu học. Vào mùa Pháp nạn 1963, chùa Thiên Bình là một trong những trung tâm tranh đấu của Phật giáo Bình Định. Trong cuộc chiến Việt–Mỹ, chùa bị hư hoại hoàn toàn và được Hòa thượng Liễu Không kiến tạo lại sau những năm 1975.
Từ Thiên Bình, hàng môn đệ tỏa ra khắp nơi khai sơn và trú trì các chùa Thanh Sơn, Phước Sa, Phước Hưng, Phước Hội, Thiên Ân, Thiên Xá, Thiên Long, Long Hương, Long Quang, Long Phước v.v... tạo nên một hệ thống các chùa thuộc tông phong Thiên Bình ngày càng sâu rộng.
Trú trì Tổ đình hiện nay là Thượng tọa Thích Phước Minh, pháp danh Đồng Tâm. Hiện tại Thượng tọa đang có kế hoạch đại trùng tu Tổ đình Thiên Bình cho xứng tầm với vị trí một ngôi chùa Tổ.

* Trang 287 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh