LOGO VNBET
Thượng Tiên Quan; Liễu Diệu–Chánh Quang (1779–1855), khai sơn chùa Triều Tôn; Liễu Năng–Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn; Toàn Đạo–Viên Đàm (1769–1838), trú trì chùa Đức Xuân(59) v.v...
Sau khi tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm viên tịch, hàng môn đồ đứng đầu là thiền sư Toàn Thể–Linh Nguyên vận động khắc bảng các bộ chú giải kinh điển của thầy mình. Từ đó phong trào học Phật phát triển mạnh toàn tỉnh và có ảnh hưởng rất lớn đến các tỉnh lân cận. Thêm vào đó các thiền sư Toàn Thể–Linh Nguyên, Toàn Nhật–Quang Đài uyên thâm Phật học, kiến văn quảng bác nên thu hút chư Tăng các nơi theo về tu học. Từ đó, chùa Từ Quang trở thành trung tâm đào tạo tăng tài của tỉnh Phú Yên nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.
Đến đời sau, có các vị ra khai sơn trú trì các chùa trong tỉnh phú Yên như Chương Như–Tông Chí–Từ Ý (đệ tử ngài Toàn Thể–Linh Nguyên) trú trì chùa Thiên Hưng; Chương Vạn–Tông Phước–Quảng Độ (đệ tử ngài Toàn Đức–Thiệu Long) khai sơn chùa Khánh Minh; Chương Nguyệt–Long Tạng (đệ tử ngài Toàn Đức–Thiệu Long) khai sơn chùa Tây Thiền; Chương Trường–Phổ Hóa (1822–1875) khai sơn chùa Bảo Lâm; Chương Tánh–Quảng Nhuận, trú trì chùa Triều Tôn khai sơn chùa Lăng Nghiêm. Đến đời 40 có các ngài Chơn Trí–Phước Đạt, khai sơn chùa Kim Quang; Chơn Hạnh–Thiện Quang, khai sơn chùa Phổ Quang v.v... Từ đó, tông môn Chúc Thánh ngày càng hưng thịnh và phát triển khắp tỉnh Phú Yên và các tỉnh miền Nam.
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
Trong lịch sử phát triển của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên có 4 ngôi Tổ đình chính mang đậm dấu ấn truyền thừa và có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử phát triển tông môn tại đây. Đó là Tổ đình Từ Quang, Phước Sơn, Triều Tôn và Khánh Sơn.
 

(59) Chùa Đức Xuân sau đổi tên thành chùa Châu Lâm cho đến ngày hôm nay.
 

* Trang 332 *
device

1. Tổ đình Từ Quang
Tổ đình Từ Quang tọa lạc trên núi Bạch Thạch tại thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Chùa được thiền sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm khai sơn vào năm Đinh Tỵ (1797). Địa thế chùa dựa lưng vào núi Xuân Đài, mặt nhìn ra sông Ngân Sơn phong cảnh hữu tình vượng khí phong quang. Chùa Từ Quang là một ngôi Tổ đình lịch sử, đóng góp rất lớn trong việc phát triển Phật giáo Đàng Trong trước đây và Phật giáo Việt Nam sau này. Trú trì Tổ đình là những bậc Danh tăng đức độ, Phật học uyên thâm. Vì lẽ đó, vào năm Kỷ Sửu (1889) chùa được vua Thành Thái ban biển ngạch Sắc tứ.
 

                                    Tổ đình Từ Quang – Phú Yên
Từ khi chùa được thành lập, tính đến nay đã trải qua 11 đời trú trì:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh - tịch
Năm trú trì
01.
Pháp Chuyên–Luật Truyền Diệu–Nghiêm
1726–1798
1797–1798
02.
Toàn Thể–Vi Lương–Linh Nguyên
1765–1844
1798–1844
03.
Chương Niệm–Tuyên Trực–Quảng Giác
1808–1875
1844–1875
 

* Trang 333 *
device

04.
Ấn Từ–Tổ Đức–Huệ Viễn
….?– ….?
….?–….?
05.
Ấn Thiên–Tổ Hòa–Huệ Nhãn
….?–….?
….?–….?
06.
Chơn Tín–Đạo Thành–Pháp Hỷ
….?–….?
….?–….?
07.
Chơn Thật–Đạo Thông–Pháp Ngãi
….?–….?
….?–….?
08.
Chơn Thành–Đạo Đạt–Pháp Ngữ
….?– 1945
….?–1945
09.
Thị Chí–Hành Thiện–Phước Hộ
1904–1985
1945–1985
10.
Thị Tín–Hành Giải–Phước Trí
1920–2002
1985–2002
11.
Đồng Tiến–Thông Hòa–Viên Hạnh
 
2002 đến nay
 
 
                                Bảng sắc tứ Từ Quang Tự (Thành Thái nguyên niên)
 Từ xưa chùa Từ Quang nổi tiếng có vườn xoài ngon ngọt. Phần lớn xoài của chùa chỉ để dâng lên cho nhà vua ngự. Vì thế dân gian có câu:
“Rủ lên Đá Trắng ăn xoài
Muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì?”
Chùa Từ Quang còn mang đậm dấu ấn cuộc khởi nghĩa của nhà sư Võ Trứ. Chính tại nơi đây, Võ Trứ và Trần Cao Vân đã nhiều lần gặp gỡ, bàn bạc cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp mà sử sách gọi là “Giặc thầy chùa”.
Trải qua bao cuộc chiến tranh, chùa Từ Quang bị tàn phá nặng nề. Tuy nhiên vườn tháp Tổ vẫn tồn tại trơ gan cùng tuế nguyệt. Có thể nói, vườn tháp tại Tổ đình Từ Quang mang kiến trúc đặc biệt nhất là những nét đắp vẽ trên bức bình phong với hoa văn phù điêu tinh xảo.

* Trang 334 *
device


                                         Vườn tháp tại Tổ đình Từ Quang
 


Tổ đường Tổ đình Từ Quang

Vào năm Kỷ Tỵ (1929), thời Hòa thượng Pháp Ngữ trú trì, chùa Từ Quang phát hỏa, toàn bộ kinh sách, mộc bảng khắc gỗ đều bị thiêu cháy. Bao nhiêu sử liệu, bao nhiêu tinh hoa kinh điển được chư Tổ biên soạn trên 200 năm thoáng chốc hóa thành hư vô. Đến cuộc chiến tranh Việt–Mỹ, Hòa thượng Phước Hộ phải lánh vào chùa Bảo Tịnh ở Tuy Hòa, chùa Từ Quang bị bỏ trống nên bao nhiêu pháp khí đều thất thoát. Đến đời Hòa thượng Phước Trí trú trì, Thượng tọa Thiện Tu – Tri sự chùa mới trùng tu lại chánh điện. Hiện 
 
 

* Trang 335 *
device

nay trú trì Tổ đình Từ Quang là Hòa thượng ThíchĐồng Tiến (trú trì Tổ đình Triều Tôn kiêm nhiệm). Hòa thượng đang từng bước phục hưng chốn Tổ, kiến tạo Tổ đường cũng như các cơ sở hạ tầng.
Hiện tại chùa Từ Quang còn lưu giữ y Tăng cang của chư Tổ, quả Đại hồng chung được đúc thời Hòa thượng Pháp Ngữ trú trì.
2. Tổ đình Phước Sơn

                                                 Tổ đình Phước Sơn – Phú Yên

Sau khi tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm viên tịch, hàng đệ tử noi theo hạnh nguyện của thầy tổ tỏa đi giáo hóa khắp nơi, trong đó có thiền sư Liễu Năng–Đức Chất.
Vào niên hiệu Gia Long năm đầu, Nhâm Tuất (1802), Hòa thượng Liễu Năng–Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chùa được xây dựng trên đồi Phú Mỹ Sơn, mặt hướng ra đồng ruộng lớn mà dân gian gọi là Đồng Tròn.
Thời ngài Đức Chất, Phước Sơn cũng chỉ là một thảo am nhỏ bằng phên tre vách nứa. Vào năm Bính Thân (1836), tổ Chương Từ–Quảng Thiện kiến tạo lại quy mô tráng lệ với cả Đông đường Tây đường, dần dần các đời trú trì tô bồi kiến tạo nên Phước Sơn

* Trang 336 *
device

trở thành một ngôi phạm vũ trang nghiêm. Đến thời ngài Chơn Chánh–Pháp Tạng trú trì, với uy tín và đức độ của mình, Ngài đã cảm hóa được nhiều vị hoàng thân quốc thích đến quy y và hộ trì Tam bảo. Năm Đinh Dậu (1897) vua Thành Thái đã ban cho chùa chiếc Đại hồng chung. Đến năm Mậu Tuất (1898), vua lại ban cho chùa một chiếc Kim Khánh có khắc hai chữ “Khâm Tai”. Đến thời ngài Như Đắc–Thiền Phương trú trì, chùa Phước Sơn được triều đình ban biển ngạch Sắc tứ vào năm Bảo Đại thứ 14, Kỷ Mão (1939).
Trong sự truyền thừa của tông môn Chúc Thánh tại tỉnh Phú Yên thì Tổ đình Phước Sơn đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau Tổ đình Từ Quang. Bởi lẽ phần lớn các vị Danh tăng đều xuất thân từ Tổ đình Phước Sơn, đôi khi các Ngài kiêm nhiệm trú trì Tổ đình Từ Quang như Hòa thượng Ấn Thiên–Huệ Nhãn. Ngài là Tổ thứ 3 tại chùa Phước Sơn nhưng cũng là Tổ thứ 5 của chùa Từ Quang. Từ khi thành lập đến nay, chùa Phước Sơn trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Liễu Năng–Đức Chất
…?–…?
1802–…?
02.
Chương Từ–Tôn Trực–Quảng Thiện
1810–…?
…?–…?
03.
Ấn Thiên–Tổ Hòa–Huệ Nhãn
1850–1888
1874–1888
04.
Chơn Chánh–Đạo Tâm–Pháp Tạng
…?–…?
…?–…?
05.
Như Đắc–Giải Tường–Thiền Phương
1879–1949
1907–1949
06.
Thị Tín–Hạnh Giải–Phước Trí
1920–2002
1950–2002
07.
Đồng Hóa–Thông Đạt–Viên Tuệ
1947–
2002 đến nay
 
Cùng chung số phận với các ngôi chùa tại huyện Tuy An tỉnh Phú Yên, vào năm Ất Tỵ (1965) chùa Phước Sơn bị ném bom thiêu hủy hoàn toàn. Bao nhiêu pháp khí, thư tịch của chư Tổ đều cháy rụi. Đến năm Quý Dậu (1993), Hòa thượng Thích Phước Trí, trú trì đời thứ 6 đã trùng tu toàn bộ chánh điện và vườn tháp Tổ.

* Trang 337 *
device

3. Tổ đình Triều Tôn

Tổ đình Triều Tôn – Phú Yên
 


Tổ đường Tổ đình Triều Tôn

Tổ đình Triều Tôn được thiền sư Liễu Diệu–Chánh Quang khai sơn tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên vào năm Quý Hợi (1803). Thiền sư Chánh Quang là một trong những đệ tử đắc pháp với tổ Pháp Chuyên và Ngài có tên trong danh sách 28 đệ tử truyền đăng. Ban đầu Tổ khai sơn chỉ dựng một thảo am nhỏ tại đồi Cây Dừng, Đồng Găng để ẩn tu. Sau khi Tổ viên tịch, do không có đệ tử kế thừa nên ngài Chương Tánh–Quảng Nhuận là đệ tử tổ Toàn Thể–Linh Nguyên ở chùa Từ Quang sang kế
 

* Trang 338 *
device

nghiệp trú trì. Tổ Quảng Nhuận trùng tu lại chùa và cho dời về vị trí như hiện nay. Từ đó, các thế hệ kế thừa từng bước kiến tạo thành một già–lam thanh tịnh, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tông môn Chúc Thánh tại tỉnh Phú Yên và các vùng phụ cận.
Từ khi thành lập đến nay, chùa Triều Tôn đã trải qua 8 đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh - tịch
Năm trú trì
01.
Liễu Diệu–Chánh Quang
1779–1855
1803–1855
02.
Chương Tánh–Tông Tiên–Quảng Nhuận
…?–…?
1855–…?
03.
Ấn Như–Tổ Nguyện–Huệ Hương
1838–…?
…?–…?
04.
Chơn Ấn–Đạo Ý–Thiện Tâm
…?–…?
…?–…?
05.
Chơn Hạnh–Đạo Phổ–Thiện Quang
1880–1940
….?–1940
06.
Thị Thành–Hành Thật–Liên Tâm
1909–1962
1940–1962
07.
Thị Tín–Hạnh Giải–Phước Trí
1920–2002
1962–2002
08.
Đồng Tiến–Thông Hòa–Viên Hạnh
 
2002 đến nay
 
Năm Tân Dậu (1981), chùa được Hòa thượng Thích Phước Trí cho trùng tu lại với điều kiện kinh tế hạn hẹp thời bấy giờ. Đến đời Hòa thượng Thích Đồng Tiến, ngôi Tổ đình Triều Tôn mới được trùng tu một cách quy mô như hiện nay.
4. Tổ đình Khánh Sơn
Vào niên hiệu Gia Long năm đầu, Nhâm Tuất (1802), thiền sư Toàn Đức–Thiệu Long từ chùa Từ Quang núi Bạch Thạch đến ấp Thanh Đức, xã Phước Hậu, tổng Hòa Bình, phủ Tuy Hòa (nay là thôn Thanh Đức, xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) lập thảo am tu hành lấy tên là Khánh Sơn. Đến năm Mậu Dần (1818), Hòa thượng Thiệu Long tiến hành trùng tu tương đối quy mô với chất liệu bằng gỗ lợp mái lá. Thiền sư Thiệu Long là đệ tử của Tổ sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm nên thuộc đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh. Vì thế, chùa Khánh Sơn truyền thừa theo bài kệ Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo.

* Trang 339 *
device


                                                 Vườn tháp Tổ đình Khánh Sơn
Sau khi Tổ khai sơn viên tịch, trú trì đời thứ 2 là Hòa thượng Chương Thiện hiệu Quảng Hưng cho tiến hành trùng tu chùa vào đời vua Thiệu Trị. Lần trùng tu này chùa được kiến tạo bằng gạch xây lợp ngói, có cổ lầu rất nguy nga và đồ sộ. Từ đó, chùa ngày một hưng thịnh và trở thành một trong những ngôi chùa Tổ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại tỉnh Phú Yên.
Trải trên 200 năm truyền thừa, chùa đã trải qua các đời trú trì như sau:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh - tịch
Năm trú trì
01.
Toàn Đức–Vi Cần–Thiệu Long
1763–1847
1802–1847
02.
Chương Thiện–Tông Hưng–Quảng Hưng
1809–1881
1847–1881
03.
Ấn Hậu–Tổ Thị–Viên Sơn
1854–1905
1881–1905
04.
Chơn Trinh–Đạo Tâm–Giác Hải
1878–1947
1905–1947
05.
Như Phụng–Kim Bình
1891–1954
1947–1954
06.
Như Cảnh–Kim Thiền
1906–1986
1954–1986
07.
Đồng Biện–Thông Luận–Ấn Chơn
1950–
1986 đến nay
 

* Trang 340 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh