LOGO VNBET
II. NHỮNG NGÔI TỔ ĐÌNH
1.Tổ đình Thiền Lâm
Tổ đình Thiền Lâm nằm trên một địa thế lý tưởng, gắn liền với non nước hữu tình, phía tây bắc là ngọn núi Nga Sơn bao bọc hậu, phía tây nam là mặt tiền của chùa có con sông Dinh chạy dài về biển đông, vị trí của chùa được xây dựng trên đồi Mai Quy. Tổ đình Thiền Lâm nằm trên quốc lộ 27 cách thành phố Phan Rang, Tháp Chàm 10 cây số. Khai sơn Tổ đình là Hòa thượng Liễu Minh–Đức Tạng, truyền thừa đời thứ 37 dòng Lâm Tế pháp phái Nguyên Thiều.
Kỷ Dậu (1789), Hòa thượng Liễu Minh theo phong trào di dân lập ấp của chúa Nguyễn, từ miền Trung vào Nam, trên bước đường vân du hóa đạo truyền bá Phật pháp. Ngang qua vùng đất Tháp Chàm, tại làng Ma Nương (nay gọi là thôn Đắc Nhơn), Tổ thấy phong cảnh hữu tình, đất đai phì nhiêu nên đã dừng chân lưu lại lập thảo am tu hành, lấy tên là chùa Thiền Lâm, với mục đích gieo trồng hạt giống Bồ–đề, làm nền tảng đạo đức cho số lưu dân. Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), Ngài vận động tín đồ Phật tử đúc Đại hồng chung. Phật sự viên mãn, Ngài vân du hóa đạo nơi khác.

                                             Tổ đình Thiền Lâm – Phan Rang

* Trang 398 *
device

Sau khi tổ Liễu Minh ra đi, có các vị nối tiếp trú trì như: Tổ sư Bảo Hương–Tại Toại, tổ Tế Xuân–An Thái, tổ Tế Dương–Đức Thạnh, tổ Tế Điền–Như Bổn, tổ Đại Nhân–Từ Hàng, tổ Hải Bình–Bảo Tạng, tổ Quảng Huy–Từ Khánh, tổ Trừng Lâm–Chơn Hương, tổ Tâm Đạt–Bảo Quang… Qua dòng lịch sử truyền thừa cho thấy, sau Tổ khai sơn ở khoảng giữa thế kỷ XIX chùa Thiền Lâm đã đón nhận một bậc Danh tăng thạch trụ, đó là Thiền sư Hải Bình–Bảo Tạng, thuộc thế hệ 40 của dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán. Tổ sư Hải Bình–Bảo Tạng là người thừa kế ngôi vị trú trì chùa Thiền Lâm và đã cho tái thiết đại trùng tu ngôi cổ tự lần thứ nhất vào năm Giáp Ngọ (1854).
 

                                             Tam quan Tổ đình Thiền Lâm
Đến năm Canh Ngọ (1930), các vị hương hào chức sắc làng Đắc Nhơn phải cắt cử người trông coi chùa suốt 10 năm liền. Đến năm 1940, dân làng Đắc Nhơn được biết Hòa thượng Trí Thắng là một bậc Danh tăng đương thời, nên đã giao ngôi chùa Thiền Lâm cho Hòa thượng Trí Thắng quản lý và gìn giữ. Năm 1941, Hòa thượng đã trạch cử đệ tử ưu tú của mình là Hòa thượng

* Trang 399 *
device

Thích Huyền Tân đảm trách nhiệm vụ trú trì chùa Thiền Lâm. Từ đây, Tổ đình Thiền Lâm được truyền thừa theo bài kệ của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.
Kể từ tổ Liễu Minh–Đức Tạng, chùa đã trải qua các đời trú trì:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Liễu Minh–Đức Tạng
….? –….?
1789–1808?
02.
Khánh Sơn–Thiên Đồng
….? –….?
….? –….?
03.
Bảo Hương–Tại Toại
….? –….?
….? –….?
04.
Tế Xuân–An Thái
….? –….?
….? –….?
05.
Tế Dương–Đức Thạnh
….? –….?
….? –….?
06.
Tế Điền–Như Bổn
….? –….?
….? –….?
07.
Đại Nhân–Từ Hàng
….? –….?
….? –….?
08.
Hải Bình–Bảo Tạng
1818–1872
….? –….?
09.
Quảng Huy–Từ Khánh
1819–1894
….? –….?
10.
Trừng Lâm–Chơn Hương
1816–1907
1894–1907
11.
Tâm Đạt–Bảo Quang
….? –….?
1907–1930?
12.
Như Thọ–Giải Thoát–Huyền Tân
1911–1979
1941–1979
13.
Thị Đài–Hạnh Chí–Đỗng Hải
1920–1982
1979–1982
14.
Thị Thừa–Hạnh Trì–Đỗng Hoằng
 
1982 đến nay

Năm Tân Tỵ (1941), khi đảm nhận trú trì chùa Thiền Lâm, Hòa thượng Thích Huyền Tân được triều đình ban khâm đao Độ điệp và chùa Thiền Lâm được phong Sắc tứ. Hòa thượng đã biến nơi đây thành một trung tâm đào tạo Tăng tài của tỉnh Phan Rang. Ngài đã trùng tu lại chùa vào năm 1959.
Sau khi Hòa thượng Huyền Tân viên tịch, Hòa thượng Thích Đỗng Hải tiếp tục kế nghiệp trú trì. Tuy nhiên chỉ mới được 3 năm thì Ngài viên tịch. Đáng lý việc tiếp tục trú trì do Hòa thượng Thích Đỗng Minh đảm nhiệm, tuy nhiên Hòa thượng lo việc giáo dục tại Nha Trang nên không về được. Vì thế, môn phong đã đề cử Thượng tọa Thích Đỗng Hoằng, pháp danh Thị Thừa, tự Hạnh Trì trú trì từ năm 1982 đến nay. Thượng tọa

* Trang 400 *
device

Đỗng Hoằng trongnhững năm gần đây đã trùng tu lại chùa Thiền Lâm với phong cách mới và hiện đại hơn.
 
                    Tổ đường Tổ đình Thiền Lâm
2. Tổ đình Thiên Hưng
 

                                                       Tổ đình Thiên Hưng – Phan Rang

* Trang 401 *
device

Vào năm 1925, Hòa thượng Thích Trí Thắng từ Bình Định vào cộng tác Phật sự với Hòa thượng Thích Chơn Niệm tại chùa Trùng Khánh, Phan Rang. Ban đầu, Ngài đảm nhận trú trì chùa Trùng Sơn. Đến năm Đinh Mão (1927), Phật tử Tâm Đạt thế danh Võ Thị Hượt hiến cúng thảo am của bà cho Ngài và được Ngài đổi tên thành chùa Thiên Hưng.
 
Bảng sắc tứ chùa Thiên Hưng Bảo Đại năm thứ 14 (1940)
 
Từ đó, Ngài thường xuyên tập chúng để giảng dạy giáo lý và an cư kết hạ. Với uy tín và phạm hạnh của mình, Hòa thượng đã nhanh chóng biến chùa Thiên Hưng thành một trung tâm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Ninh Thuận. Vì thế, vào năm Bảo Đại thứ 14, Canh Thìn (1940), chùa được triều trình gia phong Sắc tứ.
Từ đó, chùa Thiên Hưng ngày càng phát triển trở thành một tùng lâm nguy nga tại mảnh đất Tháp Chàm này. Nơi đây, Hòa thượng đã đào tạo một số vị đệ tử hữu danh như: Hòa thượng Thích Huyền Tân (1911–1979) trú trì chùa Thiền Lâm, Phan Rang; Hòa thượng Thích Huyền Vi (1926–2005) khai sơn chùa Linh Sơn, Pháp quốc; Hòa thượng Thích Huyền Thâm (1927–2005) khai sơn chùa Pháp Vân, Bình Thạnh, Sài–gòn; Hòa thượng Thích Huyền Tâm (1920–1991) khai sơn chùa Bửu Vân, Phan Rang v.v...
Vào năm 1975, Hòa thượng Thích Trí Thắng viên tịch, kế nghiệp trú trì là Hòa thượng Thích Huyền Thâm(68) và trú trì
 

(68) Năm 1973, Hòa thượng Trí Thắng gọi ngài Huyền Thâm về kế nghiệp trú trì. Hòa thượng Huyền Thâm giao chùa Pháp Vân lại cho Hòa thượng Thích Huyền Vi đảm
 

* Trang 402 *
device

hiện nay là Thượng tọa Thích Đỗng Quyên, pháp danh Thị Tú, tự Hạnh Diệu.
Từ khi thành lập đến nay, chùa đã trải qua 3 đời trú trì:
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Chơn Cảnh–Đạo Thông–Trí Thắng
1891–1975
1927–1973
02.
Như Hạnh–Giải Uyên–Huyền Thâm
1927–2005
1973–1981
03.
Thị Tú–Hạnh Diệu–Đỗng Quyên
 
1989 đến nay
 
 
Tổ đường Tổ đình Thiên Hưng
Từ khi trú trì đến nay, Thượng tọa Thích Đỗng Quyên đang từng bước trùng tu lại chùa Thiên Hưng ngày một rộng rãi khang trang, xứng tầm với một ngôi chùa Tổ đã sản sinh ra nhiều vị Cao tăng đóng góp rất lớn cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong nước và hải ngoại.

nhiệm. Năm 1981, Hòa thượng Huyền Thâm gặp nạn nên chùa Thiên Hưng được nhà nước trưng dụng làm hợp tác xã. Mãi đến năm 1989, trong sự đổi mới, nhà nước hoàn lại chùa cho Giáo Hội. Lúc này, Hòa thượng Huyền Thâm đã vào lại Pháp Vân nên chùa Thiên Hưng được Thượng tọa Đỗng Quyên trú trì từ đó đến nay.nhiệm. Năm 1981, Hòa thượng Huyền Thâm gặp nạn nên chùa Thiên Hưng được nhà nước trưng dụng làm hợp tác xã. Mãi đến năm 1989, trong sự đổi mới, nhà nước hoàn lại chùa cho Giáo Hội. Lúc này, Hòa thượng Huyền Thâm đã vào lại Pháp Vân nên chùa Thiên Hưng được Thượng tọa Đỗng Quyên trú trì từ đó đến nay.

* Trang 403 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh