LOGO VNBET
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Chơn Kim–Pháp Lâm
眞 金 法 霖 (1861–1898): Chùa Viên Thông
 




Bảo tháp tổ Chơn Kim – Pháp Lâm tại chùa Châu Lâm, Phú Yên

Hòa thượng họ Lê, sinh giờ Hợi ngày mồng 9 tháng 9 năm Tân Dậu (1861) tại ấp Quảng Đức, xã Ngân Sơn, tổng Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên. Đồng niên Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Ấn Chánh–Tổ Tông–Huệ Minh tại chùa Bảo Sơn với pháp danh Chơn Kim, hiệu Pháp Lâm, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Ngài là người giới luật tinh nghiêm, thuyết pháp biện tài nên sớm vang danh trong chốn tòng lâm và được Bổn sư cử làm trú trì chùa Châu Lâm tại Tuy An. Năm Đinh Hợi (1887), Ngài ra kinh đô thuyết pháp
và đến năm Kỷ Sửu (1889) được bổn đạo cung thỉnh trú trì Tổ đình Viên Thông tại núi Ngự Bình. Từ đó, Ngài đảm nhiệm cả hai ngôi chùa Tổ cách xa nhau nên thường xuyên ra vào Phú Yên giáo hóa.
Năm Thành Thái thứ 2, Canh Dần (1890), Ngài vận động đúc một quả chuông cao 1,1m để làm pháp khí, cho đến nay vẫn còn lưu giữ tại chùa Châu Lâm.
Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa thượng Diệu Giác khai Đại giới đàn tại chùa Báo Quốc, Ngài được cung thỉnh làm Đệ ngũ tôn chứng. Năm sau, Ất Mùi (1895), Ngài đứng ra vận động trùng

* Trang 217 *
device

khắc bộ Đại Học Chi Thư Yếu Tập do tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm biên soạn. Lần khắc mộc bản này, Ngài cung thỉnh Bổn sư Huệ Minh trú trì chùa Bảo Sơn, Phú Yên chứng minh và ngài Pháp Hỷ, trú trì chùa Linh Sơn, Phú Yên viết lời bạt. Đây là một cuốn sách rất quan trọng trong việc hành trì giới luật được tổ Diệu Nghiêm luận giải rất chi tiết. Đồng thời, Ngài cho khắc bảng Chánh pháp Nhãn tạng, truyền thừa từ tổ Minh Hải xuống đến Ngài để xác quyết sự truyền thừa của chùa Viên Thông.
Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1898), Ngài về thăm chùa Châu Lâm tại Phú Yên. Không bao lâu, Ngài viên tịch vào giờ Tý ngày 14 tháng 2, hưởng dương 38 tuổi. Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được lưu giữ tại chùa Châu Lâm, Phú Yên. Các đệ tử tại Huế gồm các vị mệnh phụ phu nhân quy y với Ngài có pháp danh chữ Như vào lập văn bia để thờ, trong đó có bài thơ như sau:
Văn đạo viên thiền sắc thị không
Như Lai di giáo kỷ thu đông
Bách niên do ức bình sơn tự
Vạn lý quy hồn phú lãnh phong
Thạch thất tích tằng linh chấn đạt
Lang đài hà nhật cánh chàng chung
Bất tri tiên Phật quy hà xứ
Bình lãnh di dư kỷ thọ tòng
Nghĩa là:
Nghe đạo viên thiền Sắc tức không
Như Lai dạy bảo mấy thu đông
Trăm năm còn nhớ Bình Sơn tự
Muôn dặm hồn về Phú Lãnh phong
Nhà đá xưa từng nghe tiếng mõ
Đài lang chừng ấy điểm chừng canh
Chẳng biết Phật tiên về đâu nhỉ
Ngự phong còn nhớ mấy cây tùng.
Đệ tử kế thừa Ngài tại chùa Viên Thông, Huế thì có ngài Hoằng Nguyện, còn tại chùa Châu Lâm, Phú Yên thì có ngài Hoằng Phúc.

* Trang 218 *
device

2. Thiền sư Chơn Tâm–Đạo Tánh–Pháp Thân
眞 心 道 性 法 身 (1869–1896): Chùa Phước Huệ
 

Long vị Thiền sư Pháp Thân


Thiền sư Pháp Thân thế danh Nguyễn Phúc Ưng Đỗ sinh ngày 26 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1869) tại làng Vỹ Dạ, kinh thành Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phúc Hường Dược và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Quỳ. Ngài là cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh. Trong những năm 1883–1884, kinh đô Huế xảy ra nhiều biến động bởi các cuộc phế quân cũng như binh biến bùng nổ khởi điểm cho phong trào Cần Vương. Vì không đồng quan điểm với các quyền thần Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường nên Tuy Lý Vương bị an trí tại QuảngNgãi và  thân
nhân phân tán khắp nơi,trong đó có hoàng thân Nguyễn Phúc Ưng Đỗ. Ngài vào trú ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Tại đây, Ngài thường lên chùa Từ Quang tham cứu giáo lý với Hòa thượng Ấn Thiên–Tổ Hòa–Huệ Nhãn. Nhân duyên hội đủ, năm 13 tuổi, Ngài xuất gia với tổ Huệ Nhãn, được ban pháp danh Chơn Tâm, tự Đạo Tánh, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Sau khi thọ Cụ túc giới, Ngài được Hòa thượng Ấn Chánh–Tổ Tông–Huệ Minh trú trì chùa Bảo Sơn phú pháp hiệu Pháp Thân với bài kệ truyền pháp như sau:
                                            Chánh pháp trung diệu lạc
                                            Vật trụ tà kiến mê
                                            Cổ kim đa hiền thánh
                                             Giải liễu tức Bồ-đề

* Trang 219 *
device

Nghĩa là:
Vui mầu trong chánh pháp
Thấy bậy chớ theo mê
Xưa nay nhiều hiền thánh
Hiểu được tức Bồ–đề.
                           (Lê Mạnh Thát dịch)
Đến thời vua Đồng Khánh lên ngôi, Tuy Lý Vương về lại kinh thành Huế. Vì muốn ông cháu được gần gũi sớm hôm để luận bàn thơ văn Phật lý nên Tuy Lý Vương cất chùa Phước Huệ vào năm Đinh Hợi (1887) gần phủ đệ của mình tại thôn Vỹ Dạ để thiền sư Pháp Thân về trú trì. Từ đó, hàng năm Ngài đều thỉnh tổ Huệ Nhãn và các đồng môn huynh đệ như Pháp Hỷ, Pháp Tạng, Pháp Lâm v.v... ra kinh đô thăm viếng và hoằng pháp.
Vốn sinh trưởng trong hoàng tộc, thừa hưởng dòng máu thông minh mẫn duệ của ông nội nên Thiền sư Pháp Thân là một người đa văn quảng bác, Ngài có trước tác cuốn Tam Bảo Biện Hoặc Luận Chú rất có giá trị. Mục đích của cuốn sách này là chú thích, giảng giải những chỗ khó hiểu của cuốn Tam Bảo Biện Hoặc Luận do tổ Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm trước tác. Tuy nhiên, cuốn này đến nay đã bị thất lạc. Tài hoa bạc mệnh, Ngài viên tịch vào ngày 27 tháng 11 năm Ất Mùi (1895), hưởng dương 28 tuổi. Nhục thân được tôn trí trong khuôn viên chùa Thái Hòa, phường Đúc, thành phố Huế.
3. Hòa thượng Chơn Kiết–Đạo Tường–Phổ Hóa
眞 吉 道 祥 普 化 (…?–1918): ): Chùa Phước Huệ
Hòa thượng thế danh Thái Công Mẹo, sinh quán tại làng Phí Bình, xã Hòa Phụng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Ngài xuất gia với tổ Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm, Hội An. Năm Quý Tỵ (1893), Ngài thọ Cụ túc tại giới đàn chùa Chúc Thánh, do Hòa thượng Chí Thành làm Đàn đầu truyền giới và được Tổ ban pháp danh Chơn Kiết, tự Đạo Tường, hiệu Phổ Hóa, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Là một vị Tăng tinh nghiêm giới luật, học hạnh khiêm ưu nên Ngài thỉnh thoảng được tổ Vĩnh Gia trạch cử thay thế ra kinh đô

* Trang 220 *
device



Long vị Hòa thượng Phổ Hóa

thuyết pháp trong những lúc Tổ bệnh duyên không đi được. Năm Ất Dậu (1895), thiền sư Chơn Tâm–Pháp Thân viên tịch, Ngài được cung thỉnh làm trú trì chùa Phước Huệ tại thôn Vỹ Dạ.
Năm Bính Thìn (1916), Ngài được Tổ gọi về giao trách nhiệm Phó trú trì Tổ đình Phước Lâm, tương lai kế vị trú trì sau khi Tổ viên tịch. Tuy nhiên, Ngài thất lộc vào ngày 20 tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1918), trước tổ Vĩnh Gia viên tịch 2 tháng. Bảo tháp của Ngài được kiến lập bên phải Tổ đình Phước Lâm, Hội An.
4. Hòa thượng Như Thừa–Giải Trí–Hoằng Nguyện
如 承 解 智 弘 願  (1880–1926): Chùa Viên Thông
 


Hòa thượng Hoằng Nguyện

Hòa thượng họ Nguyễn, sinh giờ Thân ngày 15 tháng Giêng năm Canh Thìn (1880) tại làng Bao La, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Chơn Kim–Pháp Lâm nên có pháp danh Như Thừa, tự Giải Trí, hiệu Hoằng Nguyện, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Năm Mậu Tuất (1898), tổ Pháp Lâm viên tịch tại chùa Châu Lâm, Phú Yên nên Ngài kế thừa Bổn sư trú trì chùa Viên Thông. Cuộc đời Ngài vận động theo chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất
 

* Trang 221 *
device

nhật bất thực” của tổ Bách Trượng nên đã khai khẩn đất chùa thêm 3 mẫu.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài được cung thỉnh làm Đệ lục tôn chứng tại giới đàn chùa Từ Hiếu do Hòa thượng Thanh Ninh–Tâm Tịnh làm Đàn đầu.
Vào giờ Ngọ ngày 11 tháng 5 năm Bính Dần (1926), Hòa thượng viên tịch, hưởng dương 47 tuổi, bảo tháp lập tại chùa Viên Thông. Đệ tử kế thừa có ngài Thị Bình–Diệu Khai, trú trì chùa Viên Thông, Huế.
5. Hòa thượng Thị Bình–Diệu Khai
是 平 妙 開 (1908–1981): Chùa Viên Thông
 


Hòa thượng Diệu Khai

Hòa thượng thế danh Bùi Xuân Thái, sinh ngày 30 tháng 3 năm Mậu Thân (1908) tại làng Nam Phổ Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên–Huế. Thân phụ là cụ ông Bùi Xuân Lai, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nghẹt. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi tại chùa Viên Thông với Hòa thượng Hoằng Nguyện, được Bổn sư ban pháp danh Thị Bình.
Năm Giáp Tý (1924), Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Từ Hiếu do tổ Thanh Ninh–Tâm Tịnh làm Đàn đầu và được Bổn sư phú pháp hiệu Diệu Khai, nối pháp đời 42 
tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Bính Dần (1926), Hòa thượng Hoằng Nguyện viên tịch, Ngài kế thừa Bổn sư trú trì chùa Viên Thông. Từ đó, Ngài theo học kinh luật với Thượng nhân Viên Thành chùa Tra Am và nghi lễ với Quốc sư Phước Huệ tại chùa Thập Tháp.

* Trang 222 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh