LOGO VNBET
Tháng 12 năm Bính Thìn (1916), Hòa thượng Hoằng Phúc viên tịch, chùa được trưởng tử là ngài Chơn Quỳnh–Diệu Nguyên kế nghiệp trú trì. Dần dần chùa Quang Lộc trở thành một danh lam của vùng đất núi Ấn sông Trà. Chùa đã trải qua các đời trú trì như sau:
 
 
STT
Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu
Năm sinh – tịch
Năm trú trì
01.
Ấn Tham–Tổ Vân–Hoằng Phúc
1865?–1916
1898–1916
02.
Chơn Quỳnh–Đạo Châu–Diệu Nguyên
….?–1943
1916–1928
03.
Chơn Cơ–Đạo Hòa–Khánh Lâm
1891–
1928–1939
04.
Chơn Tích–Đạo Triêm–Huệ Hải
1893–1953
1939–1948
05.
Như Thông–Giải Hậu–Huyền Ấn
1918–1969
1948–1957
06.
Thượng tọa Thích Diên Chánh
…?–…?
1957–1960
07.
Diệu Hòa–Trí Chánh–Phước Tạng
1923–1997
1960–1970
08.
Thị Anh–Hạnh Lạc–Vân Sơn
 
1970 đến nay
 
 

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, chùa Quang Lộc bị hư hại nặng nề. Năm 1947, ngài Huệ Hải có vào Nam lạc quyên để trùng tu nhưng bị chiến tranh khốc liệt nên không về được. Đến thời Thượng tọa Thích Diên Chánh thì chùa được sửa lại chánh điện.
            Kể từ khi Hòa thượng Thích Hạnh Lạc về trú trì, Ngài từng bước kiến thiết lại Tổ đình Quang Lộc khang trang như hiện nay.
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Thiệt Úy–Chánh Thành–Khánh Vân
實 尉 正 成 慶 雲 (…– 1770): Chùa Thiên Ấn


Bảng khắc gỗ“Vãng sanh công cứ” tại Tổ đình Quang Lộ
 

* Trang 236 *
device

Hòa thượng họ Huỳnh sinh quán tại ấp Kim Thành, làng Thiết Trường, tổng Cai Đức, phủ Mộ Đức (nay là tổ dân phố 3, thị trấn Mộ Đức) tỉnh Quảng Ngãi. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Minh Hải–Pháp Bảo tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An nên có pháp danh Thiệt Úy, tự Chánh Thành, hiệu Khánh Vân, nối pháp đời 35 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 2 pháp phái Chúc Thánh. Sau khi đắc pháp, Ngài về hành đạo tại quê nhà và có thời gian Ngài về trụ tại chùa Liên Tôn, cùng với ngài Thiệt Giám–Trí Quang hoằng dương Phật pháp. Kế đó, Ngài về tại quê nhà khai sơn chùa Thiên Phước để tiếp dẫn đồ chúng tu học.
Năm Giáp Tuất (1754), thiền sư Phật Bảo–Pháp Hóa (1670–1754) khai sơn Tổ đình Thiên Ấn viên tịch, Ngài được chư sơn toàn tỉnh Quảng Ngãi cung thỉnh đảm nhiệm trú trì chùa Thiên Ấn.
Từ đó, Ngài đem hết tâm lực của mình trùng tu chùa Thiên Ấn để xứng danh với ngôi chùa Sắc tứ do chúa Nguyễn ban tặng. Ngài hành đạo tại nơi đây tròn 16 năm và viên tịch vào ngày mồng 1 tháng 10 năm Canh Dần (1770). Bảo tháp Ngài được kiến tạo bên trái Tổ đình Thiên Ấn. Với công đức cao dày giáo hóa, Ngài được sơn môn tỉnh Quảng Ngãi tôn xưng là Đệ nhị Tổ sư.
2. Hòa thượng Pháp Ấn–Tường Quang–Quảng Độ
法 印 祥 光 廣 度 (1739–1811) ): Chùa Diệu Giác
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Viên, sinh năm Kỷ Mùi (1739) tại huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc xã Bình Thới, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi).
Theo lời tương truyền của chư sơn tại Quảng Nam, ban đầu Ngài xuất gia với tổ Minh Lượng–Thành Đẳng tại chùa Vạn Đức có pháp danh Phật Tuyết–Tường Quang. Về sau, tổ Minh Lượng vào Nam hoằng pháp, Ngài cầu pháp y chỉ với Hòa thượng Thiệt Dinh–Ân Triêm chùa Phước Lâm nên có pháp danh Pháp Ấn, hiệu Quảng Độ(39). Năm Bính Thìn (1796), Tổ sư Ân Triêm viên
 

(39) Hiện tại có hai nơi thờ Long vị Ngài: Chùa Phước Lâm, Hội An và chùa Diệu Giác, Bình Sơn. Lòng long vị tại chùa Phước Lâm ghi: Tự Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Lục Thế Húy Pháp Ấn hiệu Tường Quang Quảng Độ Hòa Thượng”. Nhưng tại chùa Diệu Giác lại ghi: Viên Tôn Đường Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Lục Thế Húy Phật Tuyết hiệu Tường Quang Quảng Độ Hòa Thượng”. Căn cứ vào nét hoa văn thì
 
 

* Trang 237 *
device



Long vị Tổ Quảng Độ

tịch, Ngài kế thừa trú trì chùa Phước Lâm. Trong thời gian này, chùa Phước Lâm bị điêu tàn cuộc chiến Trịnh–Nguyễn–Tây Sơn nên Ngài cùng với pháp đệ Pháp Kiêm–Minh Giác vận động trùng tu lại chùa.
Năm Ất Sửu (1805), Ngài chứng minh chú nguyện đúc quả Đại hồng chung tại chùa Sắc tứ Viên Tôn(40). Trong khoảng thời gian này, Ngài về trú trì chùa Viên Tôn.
Tháng 5 năm Tân Mùi (1811), Ngài chú nguyện đúc tiểu hồng chung và khánh đồng tại chùa Phước Lâm, Hội An. Hòa thượng viên tịch vào ngày 17 tháng 9 năm
Tân Mùi (1811). Bảo tháp được lập trong khuôn viên chùa Viên Tôn (Chùa Diệu Giác, huyện Bình Sơn ngày nay).
3. Hòa thượng Toàn Chiếu–Trí Minh–Bảo Ấn
全 照 智 明 寳 印 (1798–1866): Chùa Thiên Ấn
Hòa thượng họ Trịnh, sinh năm Mậu Ngọ (1798) tại thôn Tráng Liệt, tổng Nghĩa Hà, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Trịnh Văn Thông và thân mẫu là cụ bà Doãn Thị Chuẩn. Thiếu thời Ngài theo nghiệp Nho gia, dùi mài Tứ
 

cả hai long vị đều được làm cùng một niên đại. Năm sinh và ngày tháng mất trùng khớp nhau, chỉ khác nhau ở chỗ pháp danh là Pháp Ấn và Phật Tuyết. Tuy nhiên Long vị và mộ tháp tại chùa Diệu Giác ghi Ngài thuộc đời 36. Đáng ra, với pháp danh Phật Tuyết thì phải để đời 35 mới đúng theo bài kệ Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên”. Qua đây, ta có thể khẳng định ngài Quảng Độ là đệ tử đắc pháp với tổ Ân Triêm và lời truyền khẩu của chư tăng Quảng Nam xưa nay là đúng.
(40) Chùa Viên Tôn được thành lập rất lâu và được chúa Nguyễn ban Sắc tứ. Đến thời Thiệu Trị nguyên niên (1841), vì kỵ tên húy của nhà vua nên đổi lại là Diệu Giác.
 

* Trang 238 *
device

Thư, Ngũ Kinh ngõ hầu lập thân nơi cửa Khổng sân Trình, sau ngán mùi thế sự nên xuất gia đầu Phật.
Ban đầu, Ngài xuất gia với Hòa thượng Tế Chơn–Chánh Hạnh–Quảng Tế tại chùa Tây Thiên, Bình Sơn, Quảng Ngãi. Về sau, Ngài cầu pháp nhân duyên với Hòa thượng Pháp Kiêm–Minh Giác tại chùa Phước Lâm nên có pháp danh Toàn Chiếu, tự Trí Minh, hiệu Bảo Ấn, nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh.
Sau khi Hòa thượng Quảng Tế viên tịch, Ngài kế thừa trú trì chùa Tây Thiên. Đến năm Minh Mạng thứ 7, Đinh Hợi (1827), Ngài được sơn môn tỉnh Quảng Ngãi cung thỉnh trú trì Tổ đình Thiên Ấn. Trong đời Ngài có một huyền tích kỳ lạ, đó là việc chiếc Đại hồng chung kỳ dị. Sự tích như sau: Một hôm, Ngài đang tọa thiền thì có vị Hộ Pháp mách bảo Ngài cho người đến làng Chú Tượng thỉnh chuông về. Nguyên làng Chú Tượng tại quận Mộ Đức có đúc một quả chuông nhưng đánh không kêu. Ban đầu Ngài sai thầy Điển tọa đến nhưng làng không chịu. Phải đến lần thứ 2 thì làng mới chịu cúng chuông cho chùa. Khi hồng chung về đến chùa, Ngài niêm hương bạch Phật lễ Tổ cầu gia bị. Lạ lùng thay, khi Ngài cầm dùi đánh thì tiếng chuông ngân nga khắp núi rừng Thiên Ấn lan tỏa xuống đồng bằng khiến cho Chư Tăng và thiện tín hoan hỷ tin vào Phật pháp nhiệm mầu, đức độ của vị trú trì một ngôi chùa Tổ của sơn môn. Sự kiện này xảy ra vào năm Thiệu Trị thứ 5, Ất Tỵ (1845). Hiện nay quả chuông vẫn còn tại Tổ đình Thiên Ấn với lạc khoản niên đại: “Thiệu Trị ngũ niên tuế thứ Ất Tỵ tứ nguyệt sơ thập nhật”.
Vào triều vua Minh Mạng, nhà vua có mở khoa thi Tam giáo và Hòa thượng là người đạt điểm hạng ưu. Vua Minh Mạng khen ngợi, ban Giới đao, Độ điệp phê rằng: “Tam trường liên trúng ưu hạng, dự yến tiến sĩ đồng”. Nghĩa là: cả 3 trường văn, võ, Phật học đều trúng hạng ưu, được dự yến ngang hàng với Tiến sĩ.
Vốn xuất thân từ nho sĩ cộng với sự tinh chuyên học tập rèn luyện nên Ngài tinh thông nhiều phương diện. Hòa thượng Hoằng Tịnh, pháp tôn của Ngài nói về Sư Ông mình như sau: “Tổ Bảo Ấn là Thạc Nhân, nghĩa là thân tướng cao lớn, sắc diện uy hùng, tiếng nói sang sảng, tán tụng hay, thủ ấn giỏi, văn võ song

* Trang 239 *
device

toàn, nham độn tuyệt diệu!”(41)
Vào khoảng đầu đời vua Minh Mạng, Ngài khai sơn chùa Viên Quang tại huyện Bình Sơn. Tháng 5 năm Mậu Tuất (1838) Ngài khai Đạt giới đàn tại chùa Thiên An và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa Thượng.
Vào giờ Ngọ ngày 29 tháng 6 năm Bính Dần (1866), niên hiệu Tự Đức thứ 18, Ngài an nhiên thị tịch trong tư thế kết–già, thọ 69 tuổi. Nhục thân Ngài được môn đồ nhập tháp trong khuôn viên Tổ đình Thiên Ấn.
Với những công đức giáo hóa cao dày, Ngài được sơn môn Quảng Ngãi cung xưng danh hiệu Đệ tam Tổ sư tại Tổ đình Thiên Ấn cũng như của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Ngãi.
4. Hòa thượng Chương Nhẫn–Tuyên Tâm–Từ Nhân
彰 忍 宣 心 慈 仁 (1834–1897):  Chùa Viên Quang
 


            Bảo tháp Tổ Từ Nhân
Hòa thượng thế danh Lê La Mau (La Văn Mau) là bào đệ của Hòa thượng Chương Khước-Giác Tánh. Ngài sinh ngày 20 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1834) tại làng Sung Tích, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Tuổi ấu thơ, Ngài cùng anh được Hòa thượng Bảo Ấn nhận làm con nuôi nên đổi tên thành Trịnh Quang Doãn.
Lớn lên Ngài theo nghiệp văn chương, sôi kinh nấu sử mong lập danh với đời nhưng nhận thấy thời cuộc nhiễu nhương nên Ngài chọn con đường xuất gia tu học, đem giáo lý Phật-đà để xoa dịu nỗi khổ của chúng sinh.
 

(41) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, Phần “Trích Dịch” nhà in Thanh Mau, 1952, trang 58.
 

* Trang 240 *
device

Ngài về chùa Thiên Ấn cầu pháp tu học với tổ Bảo Ấn, được Tổ ban pháp danh Chương Nhẫn, tự Tuyên Tâm, hiệu Từ Nhân, nối pháp đời thứ 38 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh.
Sau một thời gian tu học tại Thiên Ấn, học hạnh kiêm ưu nên năm Ất Sửu (1865), Ngài được tổ Bảo Ấn cử về trú trì chùa Viên Quang thế cho thiền sư Chương Cao–Viên Thiệu–Tánh Không vừa viên tịch. Qua năm sau, Bính Dần (1866), Bổn sư viên tịch nên Ngài đảm nhiệm trú trì chùa Tây Thiên. Tài năngvà đức độ của Ngài được dân chúng Bình Sơn cảm mến nên thỉnh kiêm trú trì chùa Sắc tứ Diệu Giác.
Ngài là một người có tài lỗi lạc hơn người. Khi kể về Ngài, Hòa thượng Khánh Anh đã viết như sau: “Sư Ông Từ Nhân, người bấy giờ đều kính là Thạc Nhân, bởi hình thể cũng khôi ngô hơn chúng! Ngoài đạo học của Tam Giáo ra, Sư Ông còn có mấy cái biệt tài là: làm Thầy cả, Thầy chúng, cả bên thiền thích và bên phù pháp, âm nhạc lễ nghi, nham độn đều có tài quán chúng cả! Nhứt là cái nghề viết liễn đối lại thiên tài hơn. Vì kẹp bút vào ngón cẳng mà viết, chứ chẳng cần cầm nơi tay như hạng người thường! Đến lệ làng hát đình, hương chức cậy viết ba chữ “Thái Bình Ca” trong biển hoành; Sư Ông viết “Đại Bình Ca”. Trùm trưởng đem bức hoành về treo lên trên chỗ vua hát bộ ngồi; các ông hương chức thấy thế, cho mời Sư Ông đến, hỏi: “Chữ Thái sao Hòa thượng viết bỏ quên cái chấm?”. Sư Ông đáp: “Phải quên đâu, vì viết đến đó, bị ngòi bút khô mực đấy chứ!”. Chỉ có hương chủ hiểu ý, liền nói: “Thế là, bởi làng mượn viết, mà không có rượu cho Hòa thượng thấm bút đó, chứ gì nữa! Thôi đem dược tửu lại đây…”. Rồi Sư Ông bảo mài mực, lấy giẻ cuộn tròn, thấm mực, kẹp vào ngón cẳng, đứng dưới đất, hất chân đá lên, cục giẻ trúng ngay vào dưới hang chữ “Đại” thành ra chữ “Thái”. Ai trông thế cũng đều khâm phục cả”.(42)
Tương truyền thông thường Ngài hay viết sót nét, khi treo lên rồi, Ngài mới tùy nét chấm hay nét phẩy mà cuộn bông theo
 

(42) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Kỷ Niệm”, nhà in Thanh Mau, 1952, trang 100.
 

* Trang 241 *
device

hình đó thấm mực, kẹp vào ngón chân đứng ở dưới búng lên, trăm lần như một, không khi nào sai sót. Cái tài của Ngài quả thật từ trước đến nay chúng ta chưa thấy ai trác tuyệt như vậy.
Với tài năng đức độ của Ngài, chùa Viên Quang được triều đình nhà Nguyễn ban biển ngạch Sắc tứ vào năm Giáp Tuất (1874), niên hiệu Tự Đức thứ 26. Trong đời Ngài có khai một Đại giới đàn tại chùa Viên Quang, Bình Sơn nhưng không rõ năm nào.
Ngài viên tịch vào giờ Dần ngày mồng 6 tháng 12 năm Đinh Dậu (1897), hưởng thọ 63 tuổi. Bảo tháp Ngài được kiến lập tại Tổ đình Viên Quang.
5. Hòa thượng Chương Khước–Tông Tuyên–Giác Tánh
彰 卻 宗 宣 覺 性 (1830–1908): ): Chùa Thiên Ấn

 

                       Tổ sư Giác Tánh

Hòa thượng thế danh Lê La Xa (tên trong phú ý là La Văn Xa), sinh năm Canh Dần (1830), niên hiệu Minh Mạng thứ 11 tại làng Sung Tích, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Thuở ấu thơ Ngài rất khó nuôi nên song thân cho làm con nuôi của Hòa thượng Bảo Ấn, được Hòa thượng đổi sang họ Trịnh nên còn có tên là Trịnh Quang Việt.
Lớn lên Ngài theo nghiệp bút nghiên và lập gia đình để báo hiếu song thân. Tuy nhiên đường quan lộ không thích hợp nên Ngài đã xin
tổ Toàn Chiếu–Bảo Ấn xuất gia. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Chương Khước, tự Tông Tuyên, hiệu Giác Tánh, nối pháp đời thứ 38 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh. Là người đệ tử xuất sắc của tổ Bảo Ấn nên Ngài được kế thừa trú trì Tổ đình Thiên Ấn vào năm 1866 sau khi Tổ viên tịch.

* Trang 242 *
device

Từ khi kế thừa trú trì Tổ đình, Ngài ra sức tiếp Tăng độ chúng, chăm lo cho đời sống của chúng Tăng. Ngài chủ trương nông thiền theo tông chỉ tổ Bách Trượng: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, vì thế sự tu học của Tăng chúng ổn định và môn đồ theo về tu học ngày càng đông.
Vào ngày 13 tháng 4 Nhâm Ngọ (1882), Ngài khai Đại giới đàn tại chùa Thiên Ấn để truyền giới cho chư Tăng tu học. Là một bậc phạm hạnh nơi chốn tòng lâm nên Tăng chúng khắp nơi kính ngưỡng. Không những người mà quỷ thần đôi lúc còn phải nể trọng uy đức của Ngài. Chuyện kể rằng có một buổi khuya Tăng chúng dậy đi công phu. Đến chừng đi kinh hành thì thấy một bà bận toàn quần áo trắng, mang nón thúng quay tơ đứng trước cửa chánh điện. Tăng chúng hoảng sợ vào phương trượng báo Ngài. Ngài lên chánh điện gặp người đàn bà đó và nói: “Nếu bà có đến nghe kinh thì xin chớ hiện hình, vì Tăng chúng họ kinh sợ”. Ngài nói xong thì người đàn bà đó biến mất.
Lại có một đêm khi Ngài đang ngồi thiền có một vị xưng là thần cây đến xin được quy y nương náu cửa chùa vì 6 ngày sau sẽ chết. Ngài làm lễ quy y, ghi trong giới điệp là “Lãnh sơn mộc cộng chi thần, pháp danh Ấn Chứng”.
Tương truyền trước phương trượng Tổ đình Thiên Ấn có cái hồ bán nguyệt trong đó có trồng sen nhưng lâu năm không thấy trổ bông. Một hôm, trong hồ mọc hai cái bông nhưng một cái trổ và một cái không, nên chúng vào phương trượng thưa. Ngài dạy rằng: “Thế là bữa nay Thầy được vãng sanh, vì hoa khai kiến Phật! Còn bông nữa của ai đó chắc chưa được đồng sanh Cực lạc quốc! Thôi, các ông hộ niệm cho Thầy” (43). Nói xong, Ngài an nhiên thị tịch vào giờ Ngọ ngày mồng 1 tháng 3 năm Mậu Thân (1908), hưởng thọ 79 tuổi, với 42 năm phụng sự Tổ nghiệp.
Hòa thượng Giác Tánh là một Cao tăng nổi bậc của Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi nửa cuối thể kỷ 19. Bằng hạnh nguyện của mình, Ngài độ chúng tăng và phú pháp chữ “Hoằng” có đến gần cả trăm vị. Ngài được sơn môn Quảng Ngãi cung xưng danh hiệu Đệ tứ Tổ sư.
 

(43) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Kỷ Niệm”, nhà in Thanh Mau, 1952, trang 99.
 

* Trang 243 *
device

6. Hòa thượng Ấn Hướng–Tổ Đồng–Pháp Nhãn
印 珦 祖 峒 法 眼 (1858–1912): Chùa Phước Sơn
 


      Hòa thượng Pháp Nhãn (Mộc Y)

Hòa thượng thế danh Nguyễn Tấn Kỳ, sinh năm Đinh Tỵ (1858) tại thôn Châu Tử, xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Luận và thân mẫu là cụ bà Trương Thị Hiếu.
Sinh ra trong gia đình nho phong nề nếp nên ấu thời Ngài theo Nho học. Đến lúc trưởng thành thì đất nước đang bị thực dân Pháp đã đánh chiếm các tỉnh miền Nam và lấn dần vị thế Nam triều tại miền Bắc và Trung, triều đình nhà Nguyễn bất lực nên đã đầu hàng. Năm 1884, vua Hàm Nghi lên ngôi và tìm một giải pháp cứu nguy dân tộc.
Ngày 23 tháng 5 năm 1885, nhà vua xuất bôn, xuống chiếu Cần Vương, sĩ phu khắp các nơi hưởng ứng tham gia tích cực. Tại Quảng Ngãi, một Nghĩa Hội được thành lập do các vị Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân lãnh đạo, Ngài tạm thời gác bút nghiên, lưng trên yên ngựa ngõ hầu đền nợ nước ân vua và trở thành yếu nhân của Nghĩa hội Quảng Ngãi.
Tháng 6 năm 1885, sau trận đánh tại Cầu Cháy, nghĩa quân thất trận, các thủ lĩnh phần lớn hy sinh, từ đó Nghĩa hội Quảng Ngãi tan rã. Thấy vận nước đến lúc suy vi nên Ngài xuất gia đầu Phật, ngõ hầu tìm con đường mới cứu độ chúng sinh. Trước khi xuất gia, Ngài để lại hai câu thơ như sau:
Cái dùi lực sĩ quăng đâu đó
Nương cửa Bồ–đề đỡ chuối xôi.

* Trang 244 *
device

Khoảng năm 1888, Ngài đến quy y thế phát với Hòa thượng Chương Nhẫn–Từ Nhân tại Tổ đình Viên Quang, Bình Sơn và được Bổn sư ban cho pháp danh Ấn Hướng, tự Tổ Đồng, hiệu Pháp Nhãn nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
Tu học tại nơi đây được một thời gian, Ngài lên chùa Núi Hó (dân gian gọi là núi Mèo Cào) tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tịch cốc tu tập. Ngài thực hành theo lối khổ hạnh chỉ ăn rau cỏ, lấy vỏ cây làm áo mặc nên người đời gọi Ngài là Mộc Y Hòa thượng.
Vốn xuất thân từ Nho sĩ nên Ngài rất có tài làm thơ văn. Trong thời gian ở tại chùa Đá trên núi Mèo Cào, thi thoảng Ngài cũng có làm vài bài thơ mà ngày nay chúng ta còn biết được như bài:
Ngán vẻ cuộc đời dễ xá bao
Cái thân làm bạn với non cao
Mão mo, áo cộng người truyền lại
Giọt nước nhành dương tắm đá bào
Hoặc như bài:
Gió lãnh lam xanh đó với đây
Không không sắc sắc bận chi thầy
Dùi chuông bách bát luân trời đất
Tiếng kệ hà sa lấp cỏ cây.
Từ đó, Ngài vân du khắp nơi dùng phương pháp chữa bệnh để cứu nhân độ thế. Khi thì Ngài xuống Thu Xà, lúc ra phố Hội, lúc lên non Tùng đàm đạo với cao nhân.
Năm Canh Tuất (1910), Ngài về tại quê nhà lập một ngôi thảo am nhỏ để tịnh tu lấy hiệu là Phước Sơn.
Vào ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Tý (1912), Ngài thị tịch tại Phước Sơn am, hưởng dương 55 tuổi. Nhục thân của Ngài được nhập tháp trong khuôn viên am Phước Sơn. Về sau, hàng đệ tử tưởng nhớ công đức của Ngài nên đã kiến tạo am xưa thành chùa Phước Sơn nhưng không quy mô lắm.
Hơn 50 năm xuất hiện tại Ta–bà, cuộc đời của Ngài được chia làm hai phần Đạo và Đời lưỡng toàn. Về đời, Ngài đã làm trọn bổn phận của người trai trong thời chiến “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”. Nhưng vận nước chưa thông nên người

* Trang 245 *
device

tráng sĩ cũng đành phải ngậm ngùi. Về đạo, kể từ khi xuất gia cho đến ngày viên tịch, Ngài là bậc mô phạm trong chốn nhà thiền, bằng “Y phương minh”, Ngài đã độ rất nhiều người quay về với Chánh pháp. Cuộc đời hành đạo của Ngài có nhiều huyền thoại ly kỳ mà người dân Bình Sơn luôn nhớ mãi và luôn tôn kính gọi Ngài là Đức Ông.
7. Hòa thượng Ấn Tham–Tổ Vân–Hoằng Phúc
印 參 祖 雲 弘 覆 (1865?–1916): ): Chùa Thiên Ấn
Hòa thượng thế danh Phạm Ngọc Long, sinh quán tại thôn Phước Long, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài chính là bào đệ và cũng là pháp đệ của ngài Tăng cang Hoằng Tịnh trú trì chùa Phước Quang, Quảng Ngãi.
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nhiều đời theo Phật nên Ngài xuất gia từ tấm bé với tổ Giác Tánh tại Tổ đình Sắc tứ Thiên Ấn. Đến khi đủ tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới với pháp danh Ấn Tham, tự Tổ Vân, hiệu Hoằng Phúc, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Mậu Tuất (1898), Ngài về quê nhà khai sơn chùa Quang Lộc và không bao lâu, với uy tín và đức độ của Ngài, chùa được triều đình ban biển ngạch Sắc tứ.
Khoảng những năm 1907, Ngài được cử làm Phó tự Tổ đình Sắc tứ Phước Quang, cùng với Hòa thượng pháp huynh Hoằng Tịnh giáo dưỡng đồ chúng, đào tạo Tăng tài kế thừa mạng mạch Chánh pháp.
Năm Mậu Thân (1908), Tổ sư Giác Tánh viên tịch, chùa Thiên Ấn chưa có người kế vị. Ngài tuy không phải là trưởng tử nhưng đạo hạnh giới đức của Ngài sáng tỏ nên sơn môn đồng cung thỉnh Ngài kế vị trú trì ngôi Tổ đình lịch sử này. Nhắc đến giới hạnh của Ngài, Hòa thượng Khánh Anh đã ghi nhận như sau: “Đức Sư Thúc, nguyên làm Giám tự chùa Phước Quang, khai sơn chùa Sắc tứ Quang Lộc, làm trú trì chùa Sắc tứ Thiên Ấn; ngoài hai chục tuổi về sau, giới luật tinh nghiêm, tu trì kiên cố, cả chư sơn và các môn đệ, ai cũng sợ như cọp! Vì Ngài quá ư nghiêm khắc” (44).
 

(44) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Kỷ Niệm”, nhà in Thanh Mau. 1952, trang 101.
 

* Trang 246 *
device

Năm Duy Tân thứ 7, Quý Sửu (1913), triều đình lập “Kiến canh điền bộ”, Ngài đứng ra xin trưng lại đất mở rộng già–lam Thiên Ấn khắp bình diện quả núi. Đồng thời Ngài cho xây dựng cổng Tam quan, mở đầu kế hoạch trùng tu lâu dài chùa Thiên Ấn.
Năm Canh Tuất (1910), Hòa thượng Vĩnh Gia khai Đại giới đàn tại chùa Sắc tứ Phước Lâm, Quảng Nam, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê.
Năm Nhâm Tý (1912), Duy Tân năm thứ 6, Ngài vận động trùng khắc bản kinh Kim Quang Minh để Tăng ni tín đồ tụng đọc.
Năm Quý Sửu (1913), Ngài được triều đình sắc phong Tăng cang, đồng thời được Cần Chánh Đại Học Sĩ Nguyễn Thân cung thỉnh làm trú trì chùa Sắc tứ Thạch Sơn tại làng Phú Thọ.
Nói về sự tu tập hành trì thì Ngài tu pháp quán “Bán nguyệt hình và cửu thánh tự” của chú Chuẩn Đề. Sự linh nghiệm hành trì của Ngài được mô tả như sau: “Cái đơn (giường) của Sư Thúc nằm, trong các đồ đệ chẳng ai dám lên nằm, đã đành, vì tôn kính Thầy; các thầy đồng trang lứa với Sư Thúc là Hòa thượng, Yết–ma, Giáo thọ… cho đến các hàng vai trên là sư bác, sư thúc của Ngài, cũng đều chẳng dám lên nằm nếu trong lúc Ngài đi khỏi! Vì đã nhiều khi, các vị ấy lên nằm, vừa mơ màng ngủ, hình như có ai la quở, hoặc đánh hay kéo xuống, không cho ngủ trên cái đơn ấy!” (45).
Vào ngày 19 tháng Chạp năm Bính Thìn (1916), Hòa thượng viên tịch tại chùa Thiên Ấn. Với công đức ấy, Ngài được sơn môn suy tôn lên ngôi vị Đệ ngũ Tổ sư Tổ đình Thiên Ấn, Quảng Ngãi.
8. Hòa thượng Ấn Kim–Tổ Tuân–Hoằng Tịnh
印 金 祖 恂 弘 净 (1862–1932): Chùa Phước Quang
Hòa thượng thế danh Phạm Ngọc Thạch, sinh năm Nhâm Tuất (1862) tại thôn Phước Long, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Phạm Ngọc Tình pháp danh Chương Trang và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Viên pháp danh Tâm Định. Ngài xuất gia với tổ Giác Tánh tại Tổ đình Thiên Ấn, được Tổ ban pháp danh Ấn Kim, tự Tổ Tuân, hiệu Hoằng Tịnh, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
 

(45) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Kỷ Niệm”, nhà in Thanh Mau, 1952, trang 101.
 

* Trang 247 *
device



Hòa thượng Hoằng Tịnh

Thấy Ngài học hạnh kiêm ưu nên làng Long Phụng thỉnh Ngài trú trì chùa Khánh Long tại làng. Được một thời gian, Ngài được Cần Chánh Đại Học Sĩ Nguyễn Thân mời về trú trì chùa Thạch Sơn tại làng Phú Thọ. Kế tiếp Ngài lại về trú trì chùa Phước Quang tại quê nhà do Hòa thượng Quảng Chấn khai sơn. Ngài được triều đình ban Đao Điệp và chùa Phước Quang nhận Sắc tứ vào năm Tân Hợi (1911) năm thứ 5 triều vua Duy Tân.
Năm Kỷ Mùi (1919), Ngài được sơn môn cung thỉnh chủ trương tái thiết
Thiên Ấn sau cơn hỏa hoạn. Khi việc trùng tu hoàn tất, vào ngày mồng 4 tháng Giêng năm Tân Dậu (1921), Ngài họp sơn môn cử ngài Diệu Quang kế nghiệp trú trì Tổ đình Thiên Ấn.
Năm Canh Thân (1920), Ngài khai mở giới đàn tại chùa Phước Quang do Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng. Giới tử tại giới đàn này có các vị nổi tiếng như Hòa thượng Thích Khánh Anh, Thượng thủ Giáo hội Tăng Già Việt Nam; Hòa thượng Thích Khánh Tín, khai sơn Tổ đình Thọ Sơn, Quảng Ngãi v.v...
Năm Ất Sửu (1925), Ngài khai trường Hương tại chùa Phước Quang để chư Tăng tu học. Năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Quảng Hưng khai mở trường Hương tại chùa Sắc tứ Từ Vân, Đà Nẵng, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh.
Năm Nhâm Thân (1932), Ngài lại khai giới đàn tại chùa Phước Quang và chư Tăng cung thỉnh Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng.

* Trang 248 *
device

Ngày 14 tháng 10 cùng năm, Ngài nhập thất để kết đông, nhưng đến ngày 17 thì viên tịch, hưởng thọ 71 tuổi, tháp được lập trong khuôn viên Tổ đình Phước Quang.
Sau khi tổ Giác Tánh viên tịch thì ngài Hoằng Tịnh là vị có uy tín và đức độ nhất tại Quảng Ngãi lúc bấy giờ. Đức độ ấy được ngài Khánh Anh tán thán như sau: “Đối với thuận cảnh hay nghịch cảnh, phàm việc qua rồi thôi, không cố gì đến nữa! Cũng có thể như “Bất niệm cựu ác, oán thị dụng hỷ!” (46). Chính đức độ đó Ngài nhiếp hóa đồ chúng rất đông. Vì ngài kiêm trú trì hai chùa Khánh Long và Phước Quang nên Ngài phú pháp cho đệ tử chữ “Khánh” và chữ “Phước”.
9. Hòa thượng Ấn Lãnh–Tổ Tòng–Hoằng Thạc
印 嶺 祖 崧 弘 碩  (1873–1944): Chùa Thạch Sơn
 


Hòa thượng Hoằng Thạc

Hòa thượng thế danh Từ Thanh Trân (tên trong phú ý là Từ Văn Lâm), sinh ngày 11 tháng 6 năm Quý Dậu (1873), niên hiệu Tự Đức thứ 25 tại xã Nghĩa Hòa, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Từ Văn Hạc pháp danh Chơn Bạch và thân mẫu là cụ bà Cao Thị Nhật. Ngài xuất gia với tổ Giác Tánh tại Tổ đình Thiên Ấn với pháp danh Ấn Lãnh, tự Tổ Tòng, hiệu Hoằng Thạc, nối pháp đời thứ 39 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh.
 

(46) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Trích Dịch”, nhà in Thanh Mau, 1952, trang 87.
 

* Trang 249 *
device

Sau khi đắc thọ giới Cụ túc, Ngài được Bổn sư cho vào tham học với tổ Ngộ Thiệu–Minh Lý tại Tổ đình Thập Tháp, Bình Định cũng như các bậc Danh tăng thạc đức thời bấy giờ.
Ngài được cung thỉnh trú trì chùa Sắc tứ Thạch Sơn tại thôn Phú Thọ, xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa.
Năm CanhThân (1920), Hòa thượng Hoằng Tịnh khai đàn truyền giới tại Tổ đình Sắc tứ Phước Quang, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê.
Ngày mồng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934), Ngài khai mở giới đàn tại chùa Sắc tứ Thạch Sơn và làm Đàn đầu truyền giới, ngài Tăng cang chùa Từ Hiếu, Huế làm Yết–ma và ngài Tăng cang Thiện Quả chùa Chúc Thánh, Quảng Nam làm Giáo thọ.
Đến năm Đinh Sửu (1937), Ngài lại tiếp tục khai đàn thí giới tại chùa Thạch Sơn.
Những năm 30–40 của thế kỷ 20, phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển khắp nơi, trong xu thế đó tại Quảng Ngãi, Hội Phật học ra đời do bác sĩ Hoàng Mộng Long làm Hội trưởng, Thị Độc Đại Học Sĩ triều Nguyễn (đã nghỉ hưu) Lâm Tô Bích làm Phó hội trưởng, giáo sư Phan Tiên làm thư ký v.v... Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư cho Hội.
Năm Canh Thìn (1940), cảm thấy tuổi đã cao nên Ngài lui về quê nhà tại xã Hành Minh lập chùa lấy hiệu là Phổ Quang.
Vào ngày 20 tháng 4 năm Giáp Thân (1944), Ngài viên tịch tại chùa Phổ Quang, hưởng thọ 72 tuổi. Trong suốt cuộc đời tu hành của mình, Ngài đã đào tạo được nhiều vị đệ tử hữu danh như: Pháp sư Trí Hải (tức Hòa thượng Bích Liên) khai sơn chùa Bích Liên, Bình Định chủ bút tạp chí Từ Bi Âm; Tăng cang Trí Hưng, khai sơn chùa Sắc tứ Từ Lâm, Quảng Ngãi và chùa Thiền Lâm, Sài–gòn; Hòa thượng Trí Huy, khai sơn chùa Pháp Hoa và là Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Đức (nay thuộc tỉnh Daknong) v.v...
10. Hòa thượng Chơn Trung–Đạo Chí–Diệu Quang
眞 忠 道 志 妙 光 (1891–1952): Chùa Thiên Ấn
Hòa thượng tộc tánh Trần, sinh năm Tân Mão (1891), niên hiệu Thành Thái năm thứ 3 tại làng Sung Tích, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài được song thân cho đến Tổ đình Thiên Ấn

* Trang 250 *
device

thọ giáo với Hòa thượng Ấn Tham–Hoằng Phúc, được đức Ngũ tổ nhận làm môn đệ ban cho pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Chí, hiệu Diệu Quang, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
 


Hòa thượng Diệu Quang

Năm Canh Thân (1920), ngài Tăng cang Hoằng Tịnh khai Đại giới đàn tại chùa Sắc tứ Phước Quang, Ngài được cung thỉnh làm Đệ thất tôn chứng.
Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Tân Dậu (1921), Ngài được sơn môn Quảng Ngãi cung thỉnh làm trú trì Tổ đình Thiên Ấn.
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài được triều đình Sắc ban Tăng cang Tổ đình Thiên Ấn, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 37 tuổi.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài chứng minh cho hội Tịnh Độ thành lập chùa
Long Sơn trên thắng cảnh Long Đầu Hý Thủy. Cũng trong năm này, Ngài xin chính phủ khai thông con đường trôn ốc từ cổng tam quan Tổ đình Thiên Ấn xuống đến con đường lộ khiến việc lên chùa chiêm bái hành lễ của Tăng tín đồ được thuận lợi hơn.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài khai giới đàn tại chùa Thiên Ấn để truyền giới cho chư Tăng, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Những năm 1930–1940 phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển và lan rộng khắp nơi trong cả nước. Vào ngày 17 tháng Giêng năm Nhâm Thân (1932), nhân ngày kỵ Tổ khai sơn Pháp Hóa, Ngài thành lập Hội An Nam Phật học tại Tổ đình Thiên Ấn. Cũng trong năm này, Ngài chứng minh cho Hội An Nam

* Trang 251 *
device

Phật học lập chùa Hội Phước để có nơi sinh hoạt của Hội.
Ngày mồng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) tại chùa Sắc tứ Thạch Sơn, Hòa thượng Hoằng Thạc khai Đại giới đàn, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư khai thị cho chư giới tử. Đến tháng 7 cùng năm, Hòa thượng Phổ An khai Đại giới đàn tại chùa Quan Thánh, làng Văn Bân, tổng Đa Cúc, Mộ Đức, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài khai sơn chùa Viên Giác tại núi Thình Thình huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi.
Từ những năm 1940 đến 1945, tình hình đất nước bị xáo trộn nên Ngài cử hai vị Phước Diên và Phước Huệ làm Giám tự, còn Ngài lui về tu niệm, dạy dỗ Tăng chúng tại chùa Viên Giác, núi Thình Thình.
Năm Giáp Thân (1944), Ngài khai sơn chùa Kim Liên tại xứ Đồng Ké, xã Tịnh Giang, huyện Sơn Tịnh.
Năm Ất Dậu (1945), ngài Phước Hậu trú trì chùa Phước Quang tham gia kháng chiến nên Ngài đứng ra cáng đáng mọi Phật sự tại đây.
Mùa thu năm 1945, cách mạng tháng 8 bùng nổ, Việt Minh giành chính quyền, sau đó Pháp lại tái chiếm v.v... Tổ đình Thiên Ấn nằm trong vùng giao tranh ác liệt, không biết bị bom đạn phá hủy lúc nào. Để bảo tồn những di tích của chư Tổ, vào ngày 12 tháng 6 năm Bính Tuất (1946), Ngài cho thỉnh toàn bộ Phật tượng và Pháp khí từ chùa Thiên Ấn về bảo quản tại chùa Khánh Vân, mãi cho đến ngày 1 tháng 3 năm Bính Thân (1956) Hòa thượng Huyền Tấn mới thỉnh hồi về lại Thiên Ấn.
Năm Mậu Tý (1948), Hòa thượng Huệ Hải đương kim trú trì chùa Quang Lộc vào Nam lạc quyên để trùng tu lại chùa, nhưng vì bị chiến tranh không về được. Vì thế, Ngài lại đảm nhận chủ trương Quang Lộc và trạch cử đệ tử là ngài Huyền Tấn về trông coi Phật sự tại đây.
Vào giờ Ngọ ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Thìn (1952), Hòa thượng Diệu Quang đã xả báo thân tại chùa Viên Giác, núi Thình Thình, hưởng thọ 62 tuổi. Vì thời buổi chiến tranh nên nhục thân Ngài được nhập tháp tại chùa Viên Giác, nơi mà Ngài đã chấn tích khai sơn và gắn bó trong những năm tháng cuối đời. Đồng

* Trang 252 *
device

thời, để tưởng nhớ công đức của Ngài, sơn môn Quảng Ngãi cũng đã xây tháp vọng thờ trong khuôn viên Tổ đình Thiên Ấn và suy tôn Ngài lên ngôi vị Đệ lục Tổ tại tỉnh Quảng Ngãi.
11. Thánh tử đạo Thị Hoàng–Hạnh Đức–Giác Bình
是 皇 行 德 覺 平 (1948–1967): Chùa Viên Giác
 


Thánh tử đạo Hạnh Đức

Thầy Thích Hạnh Đức, thế danh là Trần Văn Minh, sinh ngày mồng 2 tháng 3 năm Mậu Tý (10/4/1948) tại xã Bình Đức, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Tháng 6 năm Kỷ Hợi (1959), Thầy được gia đình đồng ý cho xuất gia tu học nơi chùa Viên Giác – Thanh Thanh Sơn (núi Thình Thình thuộc hạt Sơn Tịnh, giáp ranh với Bình Sơn) làm đệ tử của Hòa thượng Thích Huyền Đạt. Thầy được bổn sư ban cho pháp danh Thị Hoàng, nối truyền đời 42 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Sau lưng chùa Viên Giác–Thanh Thanh Sơn là cả một vùng đồi thoai thoải thuộc quyền sở hữu Tăng chúng trong chùa, ngoài việc tu học còn phải tham gia công việc trồng tỉa, thực hiện phương châm của Tổ Bách Trượng “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Công tác nông thiền ấy không ngoại trừ bất cứ ai. Thầy tuy chưa đến tuổi phải nhọc sức như các sư huynh vì còn ưu tiên cho việc học, nhưng vẫn xông xáo bằng tất cả những thì giờ rảnh rang để phụ giúp phần nào công việc.
Năm Quý Mão (1963), như bao ngôi chùa khác, chùa Viên Giác cũng hòa mình vào công cuộc đấu tranh chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm, vì họ đang ra sức tận diệt Phật giáo. Ngày ngày cắp

* Trang 253 *
device

sách đến trường quận lỵ xa xôi, nhưng với tuổi 15 nhanh nhẹn ấy, Thầy mang đi mang về những thông tin liên lạc từ chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội tỉnh với Bổn sư là Cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi.
Những ngày tháng này, trước cảnh đau thương của Phật giáo, đã chuyển biến tâm hồn Thầy trở nên trầm tư trước tuổi, từ đó bao nỗi uẩn khúc khi được bày giải, đã làm ngạc nhiên Bổn sư và chư huynh đệ được nhân lên dành cho Thầy.
Năm Bính Ngọ (1966), Thầy đã thọ Sa–di giới tại Giới đàn chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng Thích Huyền Tế làm Đàn đầu truyền giới. Thầy được Bổn sư ban cho pháp tự Hạnh Đức, hiệu Giác Bình. Từ đó, việc học và việc tu của Thầy ngày càng tiến bộ, là niềm kỳ vọng của Bổn sư và các vị tôn túc trong tông môn. Khi thọ Sa–di giới cũng là lúc trình độ nhận thức của Thầy đã trưởng thành. Do vậy, Thầy đã chạm phải một thực trạng đau đớn khác đến với Giáo hội, có bàn tay đối nghịch thâm độc của chính quyền kế sau Diệm. Vết rạn nứt trong lòng Giáo hội đã manh nha từ lâu, nay lại thêm tác động xấu ấy đã trở nên trầm trọng, khiến Viện tăng thống và Viện hóa đạo phải tạm lánh bỏ mảnh đất Việt Nam Quốc Tự của mình về đặt trụ sở tạm tại chùa Ấn Quang.
Chính quyền không chỉ dừng lại ở mức chia rẽ giới lãnh đạo Giáo hội, mà ngấm ngầm hậu thuẫn cho một số tín đồ đã không ngần ngại khiêu khích tính địa phương, biến nơi hòa ái tiến tu trở nên đôi bờ thù hận, chia rẽ Nam–Bắc, khiến cục diện ngày càng trở nên xấu đi. Sự khích động ấy của chính quyền đã gây ra bao đau thương cho trang sử Phật giáo, hình thành ra cái gọi là “Giáo hội Việt Nam Quốc Tự” cùng “Giáo hội Ấn Quang” hết sức đau buồn.
Để hợp pháp hóa “Giáo hội Việt Nam Quốc Tự”, chính quyền tạo ra “Hiến chương 23/67” để phát triển ý đồ công nhận cái mới xóa bỏ cái cũ. Phật giáo đang đứng bên bờ thảm họa mới, chưa biết rồi sẽ đến mưu chước gì nữa trong những ngày tháng tới.
Ngày 11 tháng 9 năm 1967, đức Tăng thống triệu tập các hệ phái đồng sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964, để nêu rõ lập trường của Giáo hội và khẩn trương thành lập ngay Ủy ban Bảo vệ Hiến Chương. Ngày 14/9, Viện tăng thống, Viện hóa đạo đã gởi thư lên tướng Nguyễn Văn

* Trang 254 *
device

Thiệu với 51 chữ ký của các tỉnh–miền, yêu cầu hủy bỏ “Hiến chương 23/67”. Thế nhưng lời khẩn cầu thiết tha chính đáng ấy đã không được đoái hoài, một thái độ xem thường tổ chức Phật giáo Việt Nam. Từ đó, máu xương Tăng ni, Phật tử tha thiết vì đạo mầu lại tiếp tục tuôn rơi!
Ngày 31 tháng 10 năm 1967, trước hiểm họa thống hận ấy, Thầy không ngần ngại hiến dâng tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ Hiến chương Giáo hội bằng ngọn đuốc rực hồng trước sân chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi. Năm ấy, Ngài vừa đúng 19 tuổi đời, 9 năm trau dồi đạo hạnh.
12. Hòa thượng Như Chánh–Giải Trực–Huyền Tấn
如 正 解 直 玄 進  (1911–1984): Chùa Thiên Ấn
 


Hòa thượng Huyền Tấn

Hòa thượng thế danh Lê Nghiêm, sinh ngày 19 tháng 2 năm Tân Hợi (1911), tại làng Mỹ Lai, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Lê Văn Tuyên pháp danh Chơn Phúc và thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Thẩn.
            Năm 14 tuổi Ngài xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng Chơn Trung–Diệu Quang được Bổn sư ban pháp danh Như Chánh, tự Giải Trực. Năm Tân Mùi (1931), tổ Diệu Quang khai đàn truyền trao Sa–di giới cho Ngài. Bốn 
năm sau, ngày mồng 4 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934), Ngài được đăng đàn thọ giới Cụ túc tại Đại giới đàn chùa Thạch Sơn do Hòa thượng Hoằng Thạc làm Đàn đầu, đắc pháp hiệu Huyền Tấn, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Quý Mùi (1943), Ngài được cử về trú trì chùa Kim Liên. Thời điểm này đến cách mạng mùa thu 1945, Ngài vừa lo Phật

* Trang 255 *
device

sự tham gia phát triển An Nam Phật học Chi hội Quảng Ngãi, vừa góp sức bảo vệ đất nước qua các phong trào Phật giáo liên lạc, Phật giáo Cứu quốc thuộc liên khu 5.
Ngày 16 tháng Giêng năm Ất Mùi (1955), Ngài được cử giữ trọng trách trú trì Tổ đình Thiên Ấn. Ngài đã tổ chức trọng thể lễ cung nghinh Phật tượng, pháp khí bị di tản từ chùa Khánh Vân về Tổ đình Thiên Ấn vào ngày 1 tháng 3 năm Bính Thân (1956).
Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài khởi công đại trùng tu Tổ đình Thiên Ấn. Sau 2 năm thi công, lễ lạc thành được tổ chức vào ngày 4 tháng 3 năm Tân Sửu (1961) dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết – Hội chủ Giáo hội Tăng Già Trung phần.
Những năm 1961–1963, trước nạn kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, với tư cách là Trị sự trưởng, Ngài lãnh đạo Tăng ni, tín đồ tỉnh Quảng Ngãi cùng với phong trào Phật giáo cả miền Nam kiên quyết đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng trên cơ sở đường lối bất bạo động.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN thành lập, Ngài được Hội đồng Viện hóa đạo công cử vào cương vị Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi.
Đầu năm Đinh Mùi (1967), Ngài từ nhiệm không đảm nhận công việc trú trì cũng như việc Giáo hội, chỉ tập trung vào nghiên cứu, tu trì. Ngài lâm bệnh nhẹ rồi thị tịch ngày 7 tháng 12 năm Giáp Tý (1984), trụ thế 73 tuổi đời, 50 tuổi đạo.
13. Hòa thượng Chơn Khai–Đạo Chánh–Quang Lý
眞 開 道 正 光 理 (1918–1990): Chùa Bửu Long
Hòa thượng thế danh Nguyễn Khắc Cát, sinh ngày 15 tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1918) tại làng Hiệp Phố Bắc, xã Nghĩa Hưng, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Khắc Côn pháp danh Đạt, hiệu Quang Huy và thân mẫu là cụ bà Phan Thị Lễ pháp danh Chơn Nghĩa.
Vốn sinh trưởng trong một gia đình Thích giáo lưu truyền, có đường thúc là Hòa thượng Thích Huệ Chiếu, trú trì chùa Phổ Chiếu, Quận 8, Sài–gòn và bào huynh cũng xuất gia là Hòa thượng Thích Minh Đức, trú trì chùa Linh Phước, Đà Lạt nên Ngài theo gương sáng ấy xuất gia học đạo.

* Trang 256 *
device



Hòa thượng Quang Lý

Năm Tân Mùi (1931), Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Thiền–Hoằng Chí tại chùa Thiên Ấn. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Khai, tự Đạo Chánh, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Đinh Sửu (1937), Ngài được Bổn sư cho thọ Tam đàn Cụ túc tại giới đàn chùa Sắc tứ Thạch Sơn do Hòa thượng Ấn Lãnh–Hoằng Thạc làm Đàn đầu. Cũng trong năm này, Ngài khai sơn chùa Bửu Long tại quê nhà. Năm Tân Tỵ (1941), Ngài làm dẫn thỉnh sư tại giới đàn do ngài Diệu
Nguyên làm Đàn đầu Hòa thượng.
Trong thời gian 9 năm kháng chiến, Ngài tham gia với chức vụ Hội trưởng Quận hội Phật giáo Nghĩa Hành, kiêm Ủy viên hoằng pháp của tỉnh hội. Năm 1951, Ngài trùng tu và thiên di chùa Bửu Long từ làng Hiệp Phố về làng Xuân Vinh, Nghĩa Chánh, Nghĩa Hành.
Năm Giáp Thìn (1964), Ngài đảm nhận trú trì chùa Thiên Bút, Quảng Ngãi. Năm Ất Tỵ (1965), Ngài khai sơn chùa Thiên sơn và Bửu Quang tại huyện Tư Nghĩa. Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng đại trùng tu chùa Thiên Bút và khai sơn chùa Bửu Quang tại huyện Nhà Bè, Sài–gòn.
Sau ngày đất nước thống nhất, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư của Tỉnh hội Phật giáo Nghĩa Bình. Năm Ất Sửu (1985), tuy trong giai đoạn khó khăn nhưng Ngài vẫn cố gắng đại trùng tu chùa Bửu Long.

* Trang 257 *
device

Là một bậc tôn túc uyên thâm giáo điển và thông thạo các khoa nghi nên Ngài thường được cung thỉnh vào các Đàn giới để thí giới cho chư Tăng tu học. Ngài làm Đệ nhất tôn chứng tại giới đàn chùa Nghĩa Phương, Nha Trang năm Kỷ Hợi (1959) do Hòa thượng Huệ Pháp làm Đàn đầu; Giáo thọ A–xà–lê tại giới đàn chùa Từ Lâm, Quảng Ngãi năm Tân Sửu (1961) do Hòa thượng Trí Hưng làm Đàn đầu, giới đàn chùa Liên Quang, Bình Sơn năm Giáp Thìn (1964) do Hòa thượng Phước Huy làm Đàn đầu; Tuyên Luật sư tại các giới đàn: chùa Thiên Bút năm Bính Ngọ (1966), do Hòa thượng Khánh Vinh làm Đàn đầu và năm Canh Tuất (1970) do Hòa thượng Từ Minh làm Đàn đầu, giới đàn chùa Thiên Phước, Mộ Đức năm Tân Hợi (1971) do Hòa thượng Khánh Cẩm làm Đàn đầu.
Năm Mậu Thân (1968), Ngài khai kỳ kết hạ tại chùa Bửu Quang. Sau khi mãn hạ, Ngài khai đàn truyền giới và được đại chúng cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Các năm 1987, 1988, 1989, Ngài được cung thỉnh chứng minh trường hạ chùa Linh Sơn tỉnh Lâm Đồng cũng như trường hạ chùa Long Bửu, quận 4, Sài–gòn.
Năm Canh Ngọ (1990), bào huynh của Ngài là Hòa thượng Minh Đức, viện chủ chùa Linh Phước, Đà Lạt viên tịch, Ngài được Giáo hội tỉnh Lâm Đồng và môn phong cung thỉnh trú trì chùa Linh Thứu để Đại đức Thích Tâm Vị về kế nhiệm trú trì chùa Linh Phước. Tại đây, Ngài trùng tu nhà tổ chùa Linh Thứu khang trang hơn.
Mùa hạ năm Canh Ngọ (1990), Ngài được tỉnh Giáo hội Lâm Đồng cung thỉnh Chứng minh trường hạ chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Nhập hạ chưa bao lâu, sau vài ngày thân thể khiếm an, Ngài thị tịch vào lúc 5 giờ 45 ngày 19 tháng 6, hưởng thọ 73 tuổi và 53 hạ lạp. Nhục thân Ngài tôn trí trong bảo tháp tại chùa Linh Phước, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Hòa thượng Thích Quang Lý là một trong những bậc Danh tăng của tỉnh Quảng Ngãi. Cuộc đời hành đạo của Ngài trải khắp các tỉnh miền Trung và cao nguyên. Hàng đệ tử của Ngài phú pháp với đạo hiệu chữ Long rất nhiều và đang kế tục sự nghiệp thầy tổ hoằng pháp khắp các tỉnh miền Trung và Nam bộ.

* Trang 258 *
device

14. Hòa thượng Chơn Sử–Đạo Thị–Khánh Tín
眞 史 道 是 慶 信 (1896–1992): Chùa Thọ Sơn
 


Hòa thượng Khánh Tín

Hòa thượng thế danh Phạm Quang Sứ, sinh ngày 22 tháng 10 năm Bính Thân (1896) tại xóm Trung Hòa, làng Bình Yến, hải đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Phạm Quang Mưu và thân mẫu là cụ bà Dương Thị Cống.
Sinh ra trong một gia đình trung nông thấm nhuần Phật pháp nên Ngài sớm có thiện duyên với cửa Phật. Năm Mậu Thân (1908), khi vừa tròn 13 tuổi, Ngài xuất gia tu học với tổ Hoằng Tịnh tại chùa Phước Quang.
Ngày 15 tháng 5 năm Tân Hợi (1911), Ngài được Bổn sư thế độ ban cho pháp danh
Chơn Sử. Đến ngày 17 tháng 11 cùng năm, nhân ngày thánh đản Đức A Di Đà, Ngài được Bổn sư cho thọ Sa–di giới với pháp tự Đạo Thị. Tháng 4 năm Đinh Tỵ (1917), thể theo lời thỉnh cầu của Sa–di ni Ấn Thận, Ngài được tổ Hoằng Tịnh cử làm trú trì chùa Thọ Sơn, núi Bà Nhưng, lúc ấy Ngài vừa tròn 21 tuổi và chỉ mới giới phẩm Sa–di.
Ngày 14 tháng 3 năm Canh Thân (1920) Ngài thọ Cụ túc giới tại chùa Phước Quang do Bổn sư làm Đàn đầu truyền giới, đắc pháp hiệu Khánh Tín, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Giáp Tý (1924), Hòa thượng Hoằng Thạc cử Ngài làm Tri Sự chùa Thạch Sơn.
Ngày mồng 8 tháng 6 năm Ất Sửu (1925), Hòa thượng Hoằng Tịnh khai mở giới đàn tại chùa Phước Quang, Ngài được cung

* Trang 259 *
device

thỉnh làm Đệ ngũ Tôn chứng. Năm Nhâm Thân (1932), Hòa thượng Bổn sư tiếp tục khai đàn truyền giới tại chùa Phước Quang, Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhất Tôn chứng.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài khai sơn chùa Hải Lâm tại đảo Lý Sơn và thường ra vào giảng dạy. Từ đây, Phật giáo tại vùng hải đảo thêm khởi sắc khi có bóng dáng hành đạo của bậc Cao tăng.
Năm Quý Mùi (1943), Ngài được sơn môn cung thỉnh làm trú trì Tổ đình Thiên Ấn. Được khoảng hai năm thì Ngài xin từ nhiệm, lui về tu niệm tại chùa Thọ Sơn.
Năm Ất Dậu (1945), cách mạng tháng 8 bùng nổ, tiếp đến là toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược. Khắp các nơi, phong trào Phật giáo cứu quốc diễn ra mạnh mẽ, Ngài được bầu làm Chủ tịch hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi trực thuộc hội Phật giáo cứu quốc Liên khu 5.
Năm Canh Tý (1960), Ngài được GHTG tỉnh Quảng Ngãi cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư của Hội. Thời gian này, Ngài ra sức khai hoang kiến tạo khiến cho ngôi chùa Thọ Sơn ngày một khang trang hơn. Nhưng chiến tranh ngày càng ác liệt, chùa nằm trong khu vực chiến trận nên vào năm Bính Ngọ (1966), Ngài thiên di chùa về thôn Xuân Quang, xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa.
Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN thành lập, Ngài được cung thỉnh vào Hội đồng Trưởng lão Viện tăng thống.
Năm Canh Tuất (1970), GHPGVNTN tỉnh Quảng Ngãi mở Đại giới đàn tại chùa Tỉnh Hội, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu truyền giới.
Năm Ất Mão (1975), đất nước thống nhất, thời cuộc có nhiều chuyển biến nhiêu khê nên Ngài đóng cửa ẩn tu tại chùa Thọ Sơn. Vào ngày 11 tháng 5 năm Nhâm Thân (1992), Ngài xả báo an tường tại Tổ đình Thọ Sơn, hưởng thọ 97 tuổi đời và 72 hạ lạp.
Gần một thế kỷ trụ thế với 80 năm tu học và hành đạo, Hòa thượng đã để lại nhiều dấu ấn kỷ niệm đầy đạo vị trong lòng Tăng ni Phật tử Quảng Ngãi. Ngài tác thành đạo nghiệp cho những vị đệ tử hữu danh như: Hòa thượng Thích Giải An, khai sơn chùa Từ Quang, Nghĩa Lộ; Ni trưởng Thích Nữ Như Hường, trú trì chùa Bảo Thắng, Hội An, Quảng Nam v.v...

* Trang 260 *
device

15. Hòa thượng Như Bình–Giải An–Huyền Tịnh
如 平 解 安 玄 凈 (1914–2003): Chùa Từ Quang
 


Hòa thượng Giải An

Hòa thượng Thích Giải An, thế danh Nguyễn Hòa, pháp danh Như Bình, hiệu Huyền Tịnh, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh ngày 1 tháng 6 năm Giáp Dần (1914), tại xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Âu và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Bàn.
Ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mão (1927), Ngài xuất gia với Hòa thượng Khánh Tín tại chùa Thọ Sơn. Năm sau, Mậu Thìn (1928), vào ngày 14 tháng 4 Ngài được Bổn sư
cho thọ Sa–di giới. Sau 6 năm theo thầy học đạo, Ngài được phép Bổn sư cho thọ Tỳ–kheo Bồ–tát giới tại giới đàn chùa Phước Sơn, huyện vào ngày 19 tháng 6 Quý Dậu (1933), do Danh tăng Đại lão Tường Quang làm Đàn đầu Hòa thượng.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài nhập chúng tu học tại chùa Bích Liên, Bình Định dưới sự chỉ giáo, giáo thọ của Hòa thượng Chơn Giám–Trí Hải, được Hòa thượng ban cho đạo hiệu Huyền Tịnh.
Năm Giáp Thân (1944), Ngài về Quảng Ngãi đảm nhận trú trì cổ tự danh thắng Thiên Bút. Năm Ất Dậu (1945), Ngài tham gia Phật giáo Cứu quốc thuộc Liên khu 5.
Từ năm 1950 đến 1951, Ngài tham học tại chùa Báo Quốc và Linh Quang tại Huế và ra tận miền Bắc tham cứu luật học.

* Trang 261 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh