LOGO VNBET
III. CÁC VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Ấn Chí–Tổ Chấp–Hoằng Chỉnh
印 志 祖 執 弘 整 (1862–1940): Chùa Phước Hậu

 


Hòa thượng Hoằng Chỉnh

Hòa thượng thế danh Hà Thế Nhã, sinh năm Nhâm Tuất (1862) tại xã Tú Sơn, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Chương Khước–Giác Tánh tại chùa Thiên Ấn nên có pháp danh Ấn Chí, tự Tổ Chấp, hiệu Hoằng Chỉnh, nối pháp đời 39 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, Ngài vào phương Nam hoằng hóa. Năm Canh Tuất (1910), bà Lê Thị Huỳnh sửa lại chùa Phước Hậu và mời Ngài về trú trì. Từ đó, đời Ngài gắn liền với
sinh hoạt Phật giáo tại Vĩnh Long và các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Năm Canh Thân (1920), Hòa thượng Hoằng Tịnh khai Đại giới đàn tại chùa Phước Quang, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê.
Hòa thượng viên tịch vào năm Canh Thìn (1940), hưởng thọ 79 tuổi, bảo tháp lập tại chùa Phước Hậu, Trà Ôn.
2. Hòa thượng Chơn Thành– Đạo Tín–Khánh Ngọc
眞 誠 道 信 慶 玊 (1895–1947): Chùa Đông Phước
Hòa thượng thế danh Bùi Văn Lượng, sinh tháng 8 năm Ất Mùi (1895) tại xã Ba La, tổng Nghĩa Hạ, huyện Chương Nghĩa, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Dậu

* Trang 493 *
device

(1909), Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Tham–Hoằng Phúc(75) tại chùa Phước Quang, tỉnh Quảng Ngãi, được Bổn sư ban pháp danh Chơn Thành, tự Đạo Tín, truyền thừa đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
 


Hòa thượng Khánh Ngọc

Năm Bính Thìn (1916), Bổn sư viên tịch nên Ngài y chỉ Hòa thượng Hoằng Tịnh để tu học. Năm Canh Thân (1920), Ngài thọ Cụ túc tại giới đàn Sắc tứ Phước Quang do Hòa thượng Ấn Kim–Hoằng Tịnh làm Đàn đầu. Sau khi đắc giới, Ngài được Hòa thượng Hoằng Tịnh phú pháp hiệu Khánh Ngọc đại sư.
Vào những năm 1930, Hòa thượng theo chân pháp huynh Khánh Anh vào miền Nam giáo hóa. Ngài đảm nhận trú trì chùa Đông Phước, xã Đông Phước, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian này, Ngài cùng
Hòa thượng Khánh Anh mở lớp học gia giáo tại chùa Đông Phước để dạy chư Tăng và sau này có các vị thành danh như: Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Hòa thượng Thích Hoàn Tâm, Hòa thượng Thích Hoàn Phú v.v...
Vào chiều ngày 1 tháng 4 năm Đinh Hợi (1947), Hòa thượng và chư Tăng trong chùa bị sát hại, lúc bấy giờ Ngài tròn 53 tuổi, mộ tháp lập tại chùa Đông Phước.
3. Hòa thượng Chơn Quý–Đạo Trân–Khánh Anh
眞 貴 道 珍 慶 瑛 (1895–1961): Chùa Phước Hậu
Hòa thượng thế danh Võ Hóa (Võ Bổng), pháp danh Chơn Quý, pháp tự Đạo Trân, pháp hiệu Khánh Anh, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh
 

(75) Lúc bấy giờ ngài Hoằng Phúc đang là Phó tự chùa Phước Quang.
 

* Trang 494 *
device

năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
 


Hòa thượng Khánh Anh

Năm Bính Thìn (1916), khi vừa tròn 21 tuổi Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Tịnh–Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên, Quảng Ngãi. Năm Đinh Tỵ (1917), Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, thọ giới Sa–di với pháp tự Đạo Trân. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt nghiên cứu kinh, luật, luận rồi thọ giới Tỳ–kheo, Bồ–tát tại giới đàn chùa Sắc tứ Phước Quang vào năm Canh Thân (1920) do ngài Tăng cang Hoằng Tịnh làm Đàn đầu và đắc pháp với pháp
hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
Năm Đinh Mão (1927), Ngài được mời vào Nam làm Pháp sư dạy tại trường gia giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu. Năm Mậu Thìn (1928), Ngài lại về dạy Phật pháp tại chùa Hiền Long tỉnh Vĩnh Long. Qua năm Tân Mùi (1931), Ngài nhận lời mời làm trú trì chùa Long An, xứ Đồng Đế, tỉnh Cần Thơ.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài hợp tác với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Pháp Hải v.v... lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật học đặt trụ sở tại chùa Long Phước tỉnh Trà Vinh, mở Phật học đường tại đây để đào tạo Tăng tài, truyền trì đạo pháp và cộng tác với Tạp chí Duy Tâm – cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội.
Năm Canh Thìn (1940), Ngài được mời làm Pháp sư dạy 3 tháng tại chùa Thiên Phước ở Tân Hương, tỉnh Tân An. Qua năm sau, Ngài lại đến dạy Phật học trong 3 tháng cho Đại giới đàn chùa Linh Phong ở Tân Hiệp.

* Trang 495 *
device

Năm Tân Tỵ (1941), Ngài về trú trì chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ mở các lớp giáo lý cho Tăng ni và tín đồ tại đây. Năm Ất Dậu (1945), Ngài được Hòa thượng Huệ Quang mời về dạy trường gia giáo tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Ngài về nhập thất tại chùa Phước Hậu để tâm nghiên cứu Tam tạng kinh điển. Năm Ất Mùi (1955), Hội Phật học Nam Việt thành lập, cung thỉnh Ngài vào Ban chứng minh.
Năm Đinh Dậu (1957), Đại hội Giáo hội Tăng Già Nam Việt kỳ III họp tại chùa Ấn Quang đã suy tôn Ngài lên ngôi vị Pháp chủ để lãnh đạo Phật giáo miền Nam. Đến năm 1959, Đại hội Giáo hội Tăng Già toàn quốc kỳ II đã long trọng suy tôn Ngài lên ngôi vị Thượng Thủ để cầm cương lĩnh vận mệnh Phật giáoViệt Nam.
Vào ngày 30 tháng Giêng năm Tân Sửu (16/4/1961), Ngài viên tịch hưởng thọ 66 tuổi đời với 45 năm sống với đạo.
Sự nghiệp trước tác và dịch phẩm của Ngài để lại gồm có:
– Hoa Nghiêm nguyên nhân luận
– Nhị khóa hiệp giải
– 25 Bài thuyết pháp của Thái Hư Đại sư
– Tại gia cư sĩ luật
– Duy thức triết học
– Quy nguyên trực chỉ
– Khánh Anh văn sao (3 tập)
4. Hòa thượng Như Quả–Giải Nhơn–Hoàn Tuyên (Thích Thiện Hoa)
如 果 解 因 完 宣 (1918–1973): ): Chùa Phước Hậu
Hòa thượng thế danh Trần Văn Nở, sinh ngày 7 tháng 8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Thế pháp danh Thiện Huệ và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sáu pháp danh Diệu Tịnh.
Thuở bé, Ngài quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc được Tổ đặt pháp danh Hồng Nở, hiệu Thiện Hoa.
Năm lên 7 tuổi, Ngài xuất gia với Hòa thượng Chơn Quý–Khánh Anh được ban pháp danh Như Quả, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

* Trang 496 *
device



Hòa thượng Hoàn Tuyên
(Thích Thiện Hoa)

Năm Ất Hợi (1935), Ngài thọ Sa–di với pháp tự Giải Nhơn và theo học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên.
Từ năm 1938 đến năm 1945, Ngài ra miền Trung tham học tại các học đường: Tây Thiên, Báo Quốc, Kim Sơn ở Huế và chùa Long Khánh ở Quy Nhơn.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài hợp tác cùng Hòa thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang tại rạch Bang Chang, xã Thiện Mỹ, Trà Ôn.
Năm Bính Tuất (1946), Ngài thọ giới Tỳ–kheo Bồ–tát tại giới đàn chùa Kim Huê, Sa Đéc. Sau khi đắc giới, Ngài được tổ Khánh Anh ban pháp hiệu Hoàn Tuyên. Tuy nhiên vì kính ngưỡng ân đức của tổ Phi–Lai Chí Thiền nên Bổn sư đã để Ngài lưu thông đạo hiệu Thích Thiện Hoa cũng như Ngài đổi tên mình thành Trần Thiện Hoa.
Năm Quý Tỵ (1953), Giáo hội Tăng Già Nam Việt cử Ngài giữ chức Trưởng Ban giáo dục và Trưởng Ban hoằng pháp, kiêm Đốc giáo Phật học đường Nam Việt. Ngoài việc đích thân giảng dạy cho học Tăng, Ngài còn dạy các Phật học Ni trường Từ Nghiêm và Dược Sư.
Năm Đinh Dậu (1957), Ngài lại chủ xướng mở những khóa huấn luyện trú trì lấy tên là Như Lai Sứ Giả, Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược Sư. Ngài chủ trương mở các lớp giáo lý Phật học phổ thông tại các chùa Ấn Quang, Phước Hòa, Xá Lợi, Giác Tâm, Dược Sư... để giảng dạy cho Phật tử, làm cho phong trào học Phật miền Nam trỗi dậy mạnh mẽ, người người hăng say tu học.

* Trang 497 *
device

Năm Bính Ngọ (1956), Ngài giữ chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, cùng với Thượng tọa Nhất Hạnh xuất bản Nguyệt san “Phật giáo Việt Nam”. Ngài tổ chức phát thanh Phật giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài–gòn. Ngoài ra, Ngài còn lập ra nhà xuất bản Phật giáo lấy tên “Hương Đạo” do mình chịu trách nhiệm và chủ trương mục “Phật học Tùng thư” với tám chuyên đề sách.
Năm Quý Mão (1963), chống sự áp bức của chế độ nhà Ngô, Ngài đã tích cực đấu tranh cho Phật giáo, nhận chức Phó chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo.
Năm Giáp Thìn (1964), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài nhận chức Đệ nhất Phó viện trưởng Viện hóa đạo.
Năm Bính Ngọ (1966), Ngài đảm nhận chức Viện trưởng Viện hóa đạo GHPGVNTN. Trong giai đoạn này mặc dù có nhiều sóng gió, nhưng Ngài vẫn vững vàng chèo chống, lấy sự tồn tại của đạo pháp trong sự tồn tại của dân tộc làm đường lối lãnh đạo.
Đầu năm 1973, bệnh tình càng nặng, Ngài phải giải phẩu và không trở dậy được nữa. Cho đến ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tý, nhằm ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Ngài đã an lành viên tịch, thọ 55 tuổi, 26 Tăng lạp.
Ngài trước tác, phiên dịch nhiều tác phẩm Phật học rất có giá trị, làm nền tảng căn bản cho người học Phật như:
– Phật học Phổ thông (12 quyển)
– Bản đồ tu Phật (10 quyển)
– Duy thức học (6 quyển)
– Phật học giáo khoa các trường Bồ Đề
– Giáo lý dạy Gia đình Phật tử
– Nghi thức tụng niệm
– Bài học ngàn vàng (8 tập)
– Đại cương kinh Lăng–nghiêm
– Kinh Viên Giác lược giải
– Kinh Kim Cang
– Tâm kinh
– Luận Đại thừa khởi tín
– Luận Nhân minh

* Trang 498 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh