LOGO VNBET
III. NHỮNG VỊ DANH TĂNG TIÊU BIỂU
1. Hòa thượng Thiệt Đăng–Chánh Trí–Bửu Quang
實 燈 正 智 寳 光 (1699–1782): Chùa Sơn Long
 


Bảo tháp Tổ Thiệt Đăng (năm 2005)

Hòa thượng pháp húy Thiệt Đăng, tự Chánh Trí, hiệu Bửu Quang, nối pháp đời 35 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 2 pháp phái Chúc Thánh. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết quê quán, tên họ và hành trạng của Ngài. Căn cứ vào long vị thờ tại chùa Sơn Long, chúng ta biết Tổ sinh giờ Tý ngày mồng 8 tháng 5 năm Kỷ Mão (1699) và viên tịch giờ Thìn ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782)(52), hưởng thọ 84 tuổi.
Căn cứ vào địa thế của chùa Sơn Long hiện tại, chúng ta có thể đoán rằng Hòa thượng Bửu Quang sau
khi đắc pháp với tổ Minh Hải–Pháp Bảo đã theo đường biển vào Quy Nhơn hoằng pháp và lập Giang Long thiền thất vào những năm đầu và giữa thế kỷ XVIII. Trải qua bao thăng trầm biến thiên của lịch sử, những tư liệu về Ngài hoàn toàn bị thiêu hủy, chỉ xin ghi nhận nơi đây công đức của vị Tổ sư đầu tiên của dòng Chúc Thánh vào hoằng pháp tại tỉnh Bình Định.
 

(52) Theo cách tính của văn bản Lược sử Tổ đình Sơn Long do Thượng tọa Đồng Đức cung cấp thì tính năm sinh của tổ Thiệt Đăng-Bửu Quang là năm Kỷ Mão (1639) và năm tịch là năm Nhâm Dần (1722). Nhưng theo thiển ý của chúng tôi thì tổ sinh năm Kỹ Mão (1699) và tịch năm Nhâm Dần (1782) thì đúng hơn.
 

* Trang 288 *
device

2. Hòa thượng Toàn Định–Vi Quang–Bảo Tạng
全 定 爲 光 寳 藏 (1789–1842): Chùa Thắng Quang
 


Long vị Tổ Bảo Tạng

Hòa thượng thế danh Ngô Văn Thụy, sinh giờ Mùi ngày mồng 6 tháng 10 năm Kỷ Dậu (1789) tại ấp Hội An, xã Ô Liêm, huyện Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn, trấn Bình Định (nay là thôn An Hội, xã Hoài Nhơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định).
Năm lên 14 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia với tổ Pháp Kiêm–Minh Giác tại chùa Phước Lâm, Hội An với pháp danh Toàn Định, tự Vi Quang, hiệu Bảo Tạng, nối pháp đời 37 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh.
Tháng 12 năm Tân Tỵ (1821), sau 18 năm tu học tại
Phước Lâm, Ngài xin Bổn sư được về thăm song thân tại Bình Định. Ngày 17 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1822), Minh Mạng năm thứ 3, nhân đi ngang cổ tích Thắng Quang tại quê nhà, thấy tượng Phật hảo tướng uy nghiêm nhưng chùa lại tiêu điều bởi chinh chiến; lại gặp các hương lão khẩn khoản thỉnh nên Ngài về trú trì để trùng hưng thắng tích, hướng dẫn tín đồ tu tập.
Năm sau, Minh Mạng năm thứ 4, Quý Mùi (1823), Ngài trở về Phước Lâm trình với Hòa thượng Bổn sư về tâm nguyện của mình. Tổ Minh Giác lấy làm hoan hỷ hứa khả, Ngài bèn đảnh lễ Bổn sư, trở về trú trì chùa Thắng Quang và gắn bó với ngôi cổ tự này suốt cả cuộc đời.
Tháng 8 năm Canh Dần (1830), Ngài được triều đình sắc ban Giới đao Độ điệp cử làm trú trì chùa Phước Lâm. Tuy nhiên đối với trách nhiệm của mình tại chùa Thắng Quang không thể bỏ được

* Trang 289 *
device

nên Ngài khẩn khoản từ chối. Tháng Giêng năm Bính Thân (1836), Minh Mạng thứ 17, Ngài cùng với hương chức trong làng và bổn đạo trùng tu lại chánh điện chùa Thắng Quang. Công việc trùng tu kéo dài đến tháng 8 cùng năm thì hoàn tất. Năm sau (1837), Ngài lại kiến thiết Đông đường để có nơi cho chư Tăng tu học.
Năm Đinh Dậu (1837), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê tại giới đàn chùa Linh Phong, Phù Cát do Hòa thượng Chánh Tôn làm Đàn đầu.
Ngày 24 tháng 4 năm Mậu Tuất (1838), Ngài thiết lập đàn tràng lễ bái Tam thiên Hồng danh chư Phật, chẩn tế cô hồn để cầu quốc thái dân an. Đến tháng 5, Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma A–xà–lê tại giới đàn chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi do Hòa thượng Bảo Ấn làm Đàn đầu.
Năm Canh Tý (1840), cảm niệm hồng ân chư Tổ, Ngài trùng tu lại tháp vọng của Tổ sư khai sơn. Năm sau Tân Sửu (1841), Ngài kiến lập Tây đường, lập long vị Tổ sư để thờ phụng.
Đầu năm Nhâm Dần (1842), Ngài dự định tổ chức trường Kỳ, mở đàn thí giới cho chư Tăng nhưng ngặt nỗi thân lại mang trọng bệnh nên không thực hiện được. Vào giờ Tuất ngày 22 tháng Chạp năm Nhâm Dần (1842), Ngài viên tịch, hưởng dương 54 tuổi, tháp lập tại chùa Thắng Quang.
3. Hòa thượng Toàn Ý–Vi Tri–Phổ Huệ
全 意 爲 知 普 慧 (1799–1872): Chùa Phổ Bảo
Hòa thượng thế danh Lê Tấn Viên, pháp danh Toàn Ý, tự Vi Tri, hiệu Phổ Huệ, nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Kỷ Mùi (1799) tại tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Tấn Đạt pháp danh Ngộ Giác và thân mẫu là cụ bà Dương Thị Mãn pháp danh Hải Nguyệt. Ngài xuất gia đắc pháp với tổ Pháp Kiêm–Minh Giác tức là tổ “Bình Man Tảo Thị” tại chùa Phước Lâm, Hội An.
Năm Bính Thân (1836), Ngài kế thừa thiền sư Ngộ Giác trú trì am Phổ Giác. Từ đó, Ngài thiên di tái thiết thành chùa Phổ Bảo cho đến nay.

* Trang 290 *
device

Là một người đạo cao đức trọng, Ngài biến chùa Phổ Bảo thành một trong những trung tâm hoằng pháp của dòng Chúc
 


Long vị Tổ Phổ Huệ

Thánh tại tỉnh Bình Định. Với đạo hạnh của mình, Ngài đã đào tạo được nhiều vị đệ tử ưu tú ra khai sơn, trùng kiến nhiều tự viện tại tỉnh Bình Định.
Vào năm Tự Đức nguyên niên, Mậu Thân (1848), Ngài cùng với đệ tử là ngài Chương Trí–Quảng Giác vận động trùng khắc bộ Truy môn cảnh huấn để phổ biến tinh hoa Phật pháp trong chốn thiền lâm thời bấy giờ.
Hòa thượng viên tịch vào ngày mồng 3 tháng 7 năm Nhâm Thân (1872), hưởng thọ 73 tuổi. Đồ chúng lập tháp phụng thờ trong khuôn viên Tổ đình Phổ Bảo.
4. Hòa thượng Chương Thiện–Tuyên Giác–Hoằng Đạo
彰 善 宣 覺 弘 道 (1797–1865): Chùa Phổ Quang

Hòa thượng thế danh Lý Văn Giám, sinh ngày 12 tháng 2 năm Đinh Tỵ (1797) tại Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lý Tây và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Nguyên. Tổ tiên Ngài gốc người Trung Hoa sang định cư tại Bình Định.
Ngài xuất gia, đắc pháp với tổ Toàn Ý–Phổ Huệ tại chùa Phổ Bảo nên có pháp danh Chương Thiện, tự Tuyên Giác, hiệu Hoằng Đạo(53), nối pháp đời 37 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 5 pháp phái Chúc Thánh.
 

(53) Có tư liệu cho rằng Ngài là đệ tử của ngài Toàn Nhật-Quang Đài. Tuy nhiên theo phổ hệ chùa Phổ Bảo để Ngài là đệ tử tổ Toàn Ý-Phổ Huệ.
 

* Trang 291 *
device

Sau khi đầy đủ giới pháp, vào năm Tự Đức thứ 7, Ất Mão (1855), Ngài khai sơn chùa Phổ Quang tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
 


Long vị Tổ Hoằng Đạo

Từ đây, Ngài bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp của mình. Ngài được mời làm pháp sư tại các trường hương, trường kỳ tại bổn tỉnh và được triều đình ban Khâm đao Độ điệp. Vì thế, trên long vị Ngài ghi như sau: “Lâm Tế Phổ Từ Tổ Tam Thập Bát Thế Khâm Lãnh Đao Điệp Phổ Quang Đường Thượng Húy Chương Thiện Thượng Hoằng Hạ Đạo Pháp Sư Hòa Thượng Giác Linh Nghê Tọa”.
 Hòa thượng Hoằng Đạo là một trong những vị Cao tăng của Phật giáo Bình Định vào giữa thế kỷ XIX. Từ sự khai
sáng của Ngài mà chùa Phổ Quang trở thành một trong những ngôi Tổ đình của dòng thiền Chúc Thánh tại tỉnh Bình Định.
Hòa thượng viên tịch vào ngày 26 tháng 9 năm Ất Sửu (1865), hưởng thọ 69 tuổi. Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được kiến tạo bên phải khuôn viên Tổ đình Phổ Quang.
5. Hòa thượng Chơn Hương–Chí Bảo
眞 香 志 寳 (1860–1948): ): Chùa Hưng Khánh
Hòa thượng thế danh Phan Chơn Hương, sinh năm Canh Thân (1860) tại thôn Hưng Nghĩa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Phan Công Dật, một trong những Phật tử thuần thành của chùa Hưng Khánh.
Được sinh ra trong một gia đình thuần tín Tam bảo, lại thêm thiện duyên nhà cạnh chùa Hưng Khánh nên từ nhỏ ngài đã có

* Trang 292 *
device

chí thoát tục cầu đạo. Vì thế, Ngài xuất gia với Hòa thượng Ấn Tổ–Phước Minh, Đệ nhị tổ chùa Hưng Khánh. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Hương, hiệu Chí Bảo nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
 


Hòa thượng Chí Bảo

Năm Canh Tý (1900), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài được tông môn cung cử làm trú trì Tổ đình Hưng Khánh. Từ đó, Ngài đem hết nguyện lực của mình để xiển dương chánh pháp, phát triển tông môn.
Năm Ất Sửu (1925), niên hiệu Khải Định thứ 10, Ngài vận động đại trùng tu Tổ đình Hưng Khánh. Hiện tại di tích của đợt trùng tu này còn lại cổng tam quan cổ kính.
Năm Tân Mùi (1931), Hòa thượng được cung thỉnh Chứng minh giới đàn tại chùa Phước Sơn, huyện Bồng
Sơn do Hòa thượng Tường Quang làm Đàn đầu.
Là một thiền tăng đa văn quảng bác, tinh thông kinh luật, phạm hạnh thanh tịnh, Ngài đã 2 lần được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới tại chùa Hưng Khánh. Lần thứ nhất vào năm Đinh Sửu (1937), giới tử đắc pháp có cố Hòa thượng Thích Huyền Quang. Lần thứ 2 vào năm Nhâm Ngọ (1942) có các giới tử như Hòa thượng Thích Bảo An trú trì chùa Phổ Bảo, Hòa thượng Thích Đồng Thiện trú trì tu viện Nguyên Thiều, Hòa thượng Thích Kế Châu trú trì Tổ đình Thập Tháp v.v...
Trong lần tái thí này có sự tham dự của các vị Danh tăng trong bổn tỉnh và Thừa Thiên–Huế. Kỷ niệm còn lại là hai bức hoành tặng mừng của chư sơn tỉnh Bình Định và Thừa Thiên. Chư sơn Bình Định đi 4 chữ “Phật pháp vương chương”, chư sơn

* Trang 293 *
device

Thừa Thiên đi 4 chữ “Y bát trường tồn”.
Trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo, Ngài là một trong những người đi đầu. Sự đóng góp của Ngài đã được nhà sử học Nguyễn Lang ghi lại như sau: “Các thiền sư Chí Bảo (chùa Hưng Khánh), Viên Minh (Chùa Linh Phong), Chí Thanh (Chùa Thiên Thọ), Chí Mẫn (Chùa Nhạn Sơn), Cao Minh (chùa Tịnh Liên) và Tường Quang (Chùa Phước Sơn) đều đã đóng góp nhiều cho Phật sự địa phương…”(54)
Hòa thượng viên tịch vào năm Mậu Tý (1948), hưởng thọ 89 tuổi(55). Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được kiến tạo trong khuôn viên Tổ đình Hưng Khánh.
6. Hòa thượng Chơn Giám–Đạo Quang–Trí Hải
眞 監 道 光 智 海 (1876–1950): Chùa Bích Liên
 


Hòa thượng Trí Hải (Bích Liên)

Hòa thượng thế danh Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Năm 31 tuổi, Ngài thi Hương ở Bình Định và đỗ Tú tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học.
 

(54) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Văn học Hà Nội, 1994, tr 150-151.
(55) Theo lời của Hòa thượng Thích Bảo An thì ngài Chí Bảo thọ 89 tuổi. Từ năm tịch, chúng tôi tính ra năm sinh của Ngài là 1860.
 

* Trang 294 *
device

Năm Mậu Ngọ (1918), có một nhà sư đem cho Ngài hai quyển Long Thơ Tịnh Độ là bộ sách thuyết minh pháp môn niệm Phật để cầu sanh về cõi Tây phương Cực Lạc. Sau khi đọc xong, Ngài ngộ cảnh đời tìm đường xuất gia học đạo.
Năm Kỷ Mùi (1919), Ngài đến chùa Thạch Sơn ở Quảng Ngãi quy y thọ giới với Hòa thượng Ấn Lãnh–Hoằng Thạc được ban pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Nhờ tinh thông Hán học, lại gặp thiện duyên, sau vài năm tham học và đắc pháp với Hòa thượng Hoằng Thạc (năm 1921), Ngài đã diệu nhập Phật tạng, thông suốt yếu lý giải thoát. Tuy mới xuất gia, nhưng Ngài sớm trở thành một Tăng sĩ quảng kiến đa văn, đạo cao đức trọng.
Năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Khánh Hòa, trú trì chùa Tuyên Linh ở Bến Tre mời Ngài vào nam hoạt động cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Năm Tân Mùi (1931), Hòa thượng Khánh Hòa cùng các pháp hữu thành lập Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và xuất bản tờ báo Từ Bi Âm, Hòa thượng được mời làm chủ bút tạp chí Phật học đầu tiên này. Ngài phụ trách về nội dung trong sáu năm đóng góp rất nhiều trong việc phổ thông hóa Phật học bằng Quốc ngữ, giữ vai trò hoằng pháp đáng kể trong giai đoạn chấn hưng.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài về quê khai sơn chùa Bích Liên tại sinh quán Bình Định. Từ đó, để tỏ lòng kính trọng, trong tòng lâm ít người gọi đạo hiệu của Ngài, mà thường tôn xưng Ngài là Hòa thượng Bích Liên.
Năm Đinh Sửu (1937), Ngài trở về chùa Bích Liên, nhằm lúc Hội Đà thành Phật học xuất bản tạp chí Tam Bảo, mời Ngài làm chủ bút. Nửa năm sau, Mậu Dần (1938) tạp chí Tam Bảo bị đình bản. Từ đó Ngài dành thời giờ cho công tác Phật sự tại tỉnh nhà.
Năm Kỷ Mão (1939), Ngài phụ giảng tại Phật học đường Long Khánh do Hòa thượng Chánh Nhơn thành lập. Ngài giảng dạy trong hai năm ngắn ngủi, nhưng phần lớn Tăng sinh ở đây thọ ơn pháp vũ của Ngài, tinh tấn tu học. Sau này có nhiều vị là Cao tăng của Giáo hội như Hòa thượng Thích Trí Độ, Hòa thượng Thích

* Trang 295 *
device

Huyền Ấn, Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Giải An v.v...
Hóa duyên đã mãn, ngày mồng 3 tháng 6 năm Canh Dần (1950) Ngài viên tịch tại chùa Bích Liên, thọ 74 tuổi, xuất gia 31 năm.
Về công việc trước tác và phiên dịch, ngoài những bài đăng trên báo Từ Bi Âm, Ngài còn viết các sách bằng chữ Hán:
Liên tông thập niệm yếu lãm
– Tịnh độ huyền Cảnh
– Tây song ký
– Tích lạc văn
Văn phong chữ Nôm của Ngài rất chỉnh. Ngài đã sáng tác nhiều áng văn hay cùng nhiều bài sám nghĩa lưu truyền. Quy Sơn Cảnh SáchMông Sơn Thí Thực Khoa Nghi là hai tác phẩm dịch Nôm nổi tiếng, tiêu biểu cho sự nghiệp văn chương của Ngài.
7. Hòa thượng Như Phước–Giải Tiềm–Huyền Ý
如 福 解 潜 玄 懿 (1891–1951): Chùa Liên Tôn
 


Hòa thượng Huyền Ý

Hòa thượng thế danh Võ Trấp, hiệu Đồng Gian, sinh ngày 19 tháng 9 năm Tân Hợi (1891) tại làng Hưng Trị, xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông tú tài Võ Toản và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Viện pháp danh Trừng Viện. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng nên khi vừa 8 tuổi, Ngài được gia đình cho mời thầy về tận nhà để dạy học, với ước nguyện mai sau Ngài sẽ tiếp nối con đường khoa bảng, vinh hiển như cha, anh. Vì thế Ngài đã sớm làu thông chữ Hán lẫn Quốc
 

* Trang 296 *
device

ngữ. Thuở nhỏ Ngài quy y với Hòa thượng Từ Mẫn tại chùa Tịnh Lâm, Phù Cát với pháp danh Trừng Phước.
Ngài thi đỗ bằng Tú tài năm 21 tuổi nhờ vào sức học tinh tấn và sự hỗ trợ của gia đình. Năm 23 tuổi, Ngài tốt nghiệp ngành sư phạm và được bổ ngay học vị Giáo sư.
Thời gian tiếp theo, Ngài vừa dạy học vừa chuyên tâm nghiên cứu kinh tạng. Nhờ uyên thâm Hán học và khả năng nhận thức tốt, Ngài dễ dàng thâm nhập vào tinh hoa Phật pháp. Đồng thời Ngài hướng dẫn gia đình cùng tu, khuyến hóa người chung quanh đến với Phật giáo. Trong quá trình tham cứu nội tạng kinh điển, Ngài đặc biệt chú ý đến bộ sách Long Thơ Tịnh Độ (Hòa thượng Bích Liên–Trí Hải cho mượn). Đó là nhân duyên phát khởi và cũng là nội dung hành hóa được Ngài mang theo suốt cả quãng đời.
Năm Kỷ Tỵ (1929), lúc 38 tuổi, Ngài đến xin xuất gia với Hòa thượng Chơn Giám–Trí Hải, được Hòa thượng ban pháp danh Như Phước, tự Giải Tiềm, hiệu Huyền Ý, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Tuy xuất gia muộn, nhưng khi còn tại gia Ngài đã nghiên cứu giáo điển, hơn nữa, nhờ được gần gũi với Hòa thượng Trí Hải, nên Ngài sớm tỏ ngộ thiền lý và nhanh chóng trở nên một vị Tăng học hạnh kiêm toàn. Trong giai đoạn này, Ngài đã sáng tác bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán tựa là Đáo liên thành lộ.
Năm Tân Mùi (1931) Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học mời Ngài vào Nam để nhận trọng trách Phó chủ bút tạp chí Từ Bi Âm, cùng điều hành tòa soạn với Hòa thượng Bích Liên.
Nhờ sự hợp lực tâm đắc ấy trong thời gian từ 1932 đến 1938, Ngài đã góp phần đưa tạp chí Từ Bi Âm trở thành một phương tiện truyền bá Phật học uy tín nhất, nổi tiếng nhất thời bấy giờ, góp phần vào công cuộc chấn hưng Phật giáo đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Năm Nhâm Thân (1932), Ngài về lại quê nhà, khai sơn chùa Liên Tôn. Sau đó, Ngài trở vào Nam tiếp tục làm Phó chủ bút báo Từ Bi Âm và danh từ Liên Tôn theo truyền thống miền Trung được dành gọi thay tên Ngài.
Năm Mậu Dần (1938) báo Từ Bi Âm bị đình bản, Ngài về lại quê nhà tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp của mình.

* Trang 297 *
device

Năm Bính Tuất (1946), Ngài kiến lập giới đàn tại chùa Liên Tôn, cung thỉnh Hòa thượng Bổn sư Trí Hải làm Đàn đầu Hòa thượng.
Năm Kỷ Sửu (1949), trong tình hình đất nước đang bước vào giai đoạn quan trọng, Ngài đã hoan hỷ nhận lời mời làm Hội trưởng hội Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5.
Trong cương vị mới ấy, Ngài đã được các vị cùng thời hỗ trợ và ủng hộ rất nhiệt tình. Trong ban lãnh đạo Hội có Hòa thượng Phước Hộ và Hòa thượng Trí Nghiêm là hai ủy viên và Hòa thượng Huyền Quang là Tổng thư ký.
Từ đó về sau, Ngài luôn thể hiện tinh thần tiến thủ mang nhiều hình thái cách tân và củng cố nếp sống thiền gia cho Tăng chúng theo tinh thần Phật giáo phát triển. Đáng kể nhất là chủ trương Thiền Tịnh song tu. Kế nữa là việc rộng mở theo giới luật tìm mọi phương cách khả thi để Ni giới có điều kiện thực nhập tiến tu theo đà phát triển, đúng với chủ trương chấn hưng.
Năm Tân Mão (1951), Tỉnh hội Phật giáo Bình Định tổ chức khóa huấn luyện cán sự hành chánh tại xã Cát Thắng, huyện Phù Cát vào ngày 18 tháng giêng. Trong hàng tứ chúng có sự hiện diện của Ngài. Đến ngày 27 tháng giêng, khóa học được bế mạc và theo lời mời của Ngài, toàn thể nhân sự của khóa huấn luyện đều về chùa Liên Tôn thọ trai. Chính trong ngày ấy, Ngài đã thị tịch trước sự hiện diện của đại chúng, hưởng thọ 60 tuổi đời, 22 giới lạp.
Ngoài bài thơ Đáo Liên Thành Lộ, Ngài còn có trước tác và phiên dịch một số tác phẩm như sau:
Sa–di Luật diễn nghĩa
– A Di Đà kinh diễn nghĩa
– Kim Cang Bát–nhã diễn nghĩa
– Chứng Đạo Ca diễn nghĩa
– Kinh Pháp Bảo Đàn
– Luận về Nhân quả
– Luận về Niết–bàn
– Nghiên cứu duy thức A–lại–da

* Trang 298 *
device

– Luận về sáu pháp Ba–la–mật
– Luận về Chánh tín–Mê tín
Tiểu thuyết:
– Hiếu nghĩa cảm phẩm
– Tu là cội phúc
Rất tiếc, các tác phẩm này, đáng kể nhất là bài thơ Đáo Liên Thành Lộ, cho đến ngày nay vẫn còn thất lạc chưa tìm được.
8. Hòa thượng Như Hòa–Tâm Ấn
如 和 心 印  (1907–1963): Chùa Hưng Khánh
 


Hòa thượng Tâm Ấn

Hòa thượng pháp húy Như Hòa, hiệu Tâm Ấn, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Đinh Mùi (1907) tại thôn Hưng Nghĩa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Phan Lân, là em của Hòa thượng Chí Bảo. Vì thế, Ngài xuất gia từ nhỏ với Hòa thượng Chơn Hương–Chí Bảo cũng là bác ruột tại Tổ đình Hưng Khánh.
Năm Nhâm Thân (1932), Ngài được hương quyền, bổn tộc cung thỉnh về trú trì Tổ đình Phổ Bảo.
Là người tài đức, học hạnh kiêm ưu, đối xử hành hoạt mau lẹ nên Ngài được các giới hương quyền ủng hộ. Năm Ất Hợi (1935), Ngài tiến hành trùng tu Tổ đình Phổ Bảo và đến năm Canh Thìn (1940), Ngài chuyển hướng chùa từ nam bắc qua đông tây.
Năm Mậu Tý (1948), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài về thọ tang và được cử kế thế trú trì chùa Hưng Khánh. Ngài giao trách nhiệm trú trì Tổ đình Phổ Bảo lại cho trưởng tử là Hòa thượng Bảo An.

* Trang 299 *
device

Trong suốt thời gian tu học và hành đạo, Ngài chú tâm đến việc trùng tu tôn tạo các chùa trong môn phái bị hư hoại bởi chiến tranh hay sự tàn phá của thời gian. Ngài có công rất lớn trong việc tu chỉnh các tự viện trong môn phái Chúc Thánh tại huyện Tuy Phước nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung.
Vào giờ Thân ngày mồng 5 tháng Giêng năm Quý Mão (1963), Hòa thượng viên tịch, hưởng thọ 57 tuổi, bảo tháp được kiến lập trong khuôn viên chùa Hưng Khánh.
9. Hòa thượng Như Huệ–Thanh Nguyên–Hoằng Thông
如 慧 清 源 弘 通 (1894–1972): Chùa Bạch Sa
 


Hòa thượng Hoằng Thông
 
Hòa thượng thế danh Nguyễn Độ, sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn An Định, ấp Háo Đức, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Doanh và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huân.
Ngài xuất gia từ nhỏ với Hòa thượng Chơn Tâm–Phước Quang tại Tổ đình Sơn Long. Đến tuổi trưởng thành, Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới với pháp danh Như Huệ, tự Thanh Nguyên, hiệu Hoằng Thông, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Kỷ Mùi (1919), Ngài lập chùa Bạch Sa tại làng Cẩm Thượng, phủ Quy Nhơn.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài tập chúng an cư tại chùa Bạch Sa. Năm sau, Nhâm Thân (1932), theo sự thỉnh cầu của ông Võ Chuẩn, huấn đạo tỉnh Kontum, Ngài lên cử hành đại lễ kỳ siêu và đặt đá khai sơn chùa Bác Ái tại Kontum. Sau khi việc kiến

* Trang 300 *
device

tạo hoàn tất, Ngài trạch cử đệ tử Thị Niệm–Từ Vân làm trú trì tại chùa Bác Ái.
 
Ngày 19 tháng 12 năm Nhâm Thân (1932), Bảo Đại năm thứ 7, chùa Bạch Sa được phong Sắc tứ và Ngài được Bộ lễ Nam triều sắc phong Tăng cang ban cho Giới đao Độ điệp.

Giới đao và Độ điệp của Hòa thượng Hoằng Thông
 
Năm Giáp Ngọ (1954), chùa Bạch Sa bị giải tỏa để làm sân bay Quy Nhơn. Vì thế Ngài giao việc trùng kiến lại chùa Bạch Sa cho đệ tử là ngài Thị Niệm–Từ Năng–Giác Nguyên, còn Ngài về đảm nhận trú trì chùa Lộc Hòa tại thôn Tấn Lộc, xã Phước Lộc, thành phố Quy Nhơn. Sau đó, Ngài thiên di tái thiết và đổi tên chùa lại thành Bạch Lộc tự.
Năm Mậu Thân (1968), Giáo hội tỉnh Bình Định khai mở giới đàn tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn đã cung thỉnh Hòa thượng chứng minh đàn giới.
Vào ngày mồng 7 tháng Chạp năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng viên tịch tại chùa Bạch Sa, hưởng thọ 79 tuổi. Nhục thân của Ngài được nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Sắc tứ Bạch Sa.
Hòa thượng Hoằng Thông là một trong những vị cao tăng của Phật giáo Bình Định trong thời cận đại. Ngài đã từng giảng dạy tại các trường Hương, trường Kỳ tại tỉnh nhà. Phần lớn chư tăng

* Trang 301 *
device

tại Bình Định như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Bảo An, Thích Đồng Thiện đều thọ pháp với Ngài. Không những thế, Ngài còn được tăng nhân của cố đô Huế kính ngưỡng.
Hòa thượng Bích Phong, trú trì chùa Quy Thiện, Huế đã có bài thơ tặng Ngài như sau:
三 十 年 前 講 席 時        
慈 容 一 覩 便 相 知        
道 隆 不 愧 為 人 上        
德 大 何 妨 與 眾 隨        
歸 去 夢 魂 長 耿 耿        
重 來 法 體 尚 依 依        
個 中 自 信 無 增 减        
何 害 前 塵 事 事 非        
佛 暦 二 千 五 百 二 年 戊 戌 孟 春 月 順 化 水 月 主 人 碧 峯 恭 贈
Tam thập niên tiền giảng tịch thì
Từ dung nhất đổ tiện tương tri
Đạo long bất quý vi nhân thượng
Đức đại hà phương dữ chúng tùy
Quy khứ mộng hồn trường cảnh cảnh
Trùng lai pháp thể thượng y y
Cá trung tự tín vô tăng giảm
Hà hại tiền trần sự sự phi.
Tạm dịch:
Ba mươi năm trước trên tòa giảng
Trông thấy từ dung đã biết ngay
Đức lớn chúng trung nào kẻ sánh
Đạo cao thiên hạ mấy ai tày
Mộng hồn qua lại y thiên nhỉ!
Pháp thể quay về sáng rỡ thay!

* Trang 302 *
device

Tự tín vốn không tăng với giảm
Tiền trần thây mặc thị phi bày.
Phật lịch 2502, Mậu Tuất (1958) tháng mạnh xuân, Thuận Hóa Thủy nguyệt chủ nhân Bích Phong cung tặng.
(Kim Tâm – Thích Hạnh Niệm kính dịch)
Đồng thời, thiền sư Mật Nguyện cũng đã có lời tán dương Ngài qua bài thơ như sau:
未 得 圓 融 脫 两 間        
高 蒙 過 贈 意 難 安        
塵 心 欲 答 情 深 契        
努 力 勤 修 性 寳 藏        
敬 禮 恩 師 無 量 壽        
包 含 法 界 有 祿 傳        
一 朝 密 願 功 成 满        
大 定 楞 嚴 道 共 完        
暦 二 千 五 百 四 年 润 六 月 初 三 日 春 京 竹 林 晚 生 雲 澤 密 願 合 十
Vị đắc viên dung thoát lưỡng gian
Cao mông quá tặng ý nan an
Trần tâm dục đáp tình thâm khế
Nỗ lực cần tu tánh bảo tàng
Kính lễ ân sư vô lượng thọ
Bao hàm pháp giới hữu lộc truyền
Nhất triêu Mật Nguyện công thành mãn
Đại định Lăng Nghiêm đạo cộng hoàn.
Tạm dịch:
Chưa được viên dung vượt có không
Lại mong quá tặng chẳng an lòng
Tâm trần ước báo tình thâm khế

* Trang 303 *
device

Sức mọn cần tu tánh bảo tàng
Thọ lượng vô cương con kính nguyện
Lộc hàm pháp giới đức từ ban
Một mai Mật Nguyện công thành mãn
Đại định Lăng Nghiêm đạo sánh hàng.
Phật lịch 2504 ngày mồng 3 tháng 6 nhuận. Xuân Kinh Trúc Lâm vãng sinh Vân Trạch Mật Nguyện kính vái.
(Kim Tâm – Thích Hạnh Niệm kính dịch)
Ngoài những vần thơ do các vị cao tăng ở Huế cung tặng, Ngài còn có tài thi phú trác tuyệt, điều này được thể hiện qua bài thơ họa(56) như sau:
白 璧 無 瑕 本 自 然        
沙 門 静 省 如 单 傳
眉 毫 朗 照 光 心 地
面 色 生 輝 透 性 天        
儼 坐 塵 中 禪 慧 劔        
端 居 界 内 駕 慈 船        
才 高 德 重 冲 牛 斗        
戒 行 精 嚴 映 月 圓        
大 德 僧 剛 覆 和
Bạch bích vô hà bổn tự nhiên
Sa môn tịch tĩnh như đơn truyền
Mi mao lãng chiếu quang tâm địa
Diện sắc sanh huy thấu tánh thiên
Nghiễm tọa trần trung thiền tuệ kiếm
Đoan cư giới nội giá từ thuyền
Tài cao đức trọng xung ngưu đẩu
Giới hạnh tinh nghiêm ánh nguyệt viên.
(Đại Đức Tăng cang phúc họa)      
 

(56) Trong đợt nghiên cứu điền dã tại chùa Bạch Lộc, Quy Nhơn vào ngày 7 tháng 12 năm 2008, chúng tôi tìm được những bài thơ này. Tuy nhiên, bài thơ xướng thì chúng tôi không tìm thấy, chỉ tìm được bài thơ họa này mà thôi.
 

* Trang 304 *
device

Tạm dịch:
Ngọc trắng không tỳ vốn bản nhiên
Sa – môn tịch tĩnh tự nhiên truyền
Bạch hào xán lạn ngời tâm địa
Sắc diện tươi nhuần hiển tánh thiên
Kiếm tuệ khéo cầm chơi khắp chốn
Thuyền từ vững lái dạo quanh miền
Đức tài trác việt người khôn sánh
Như ánh trăng rằm–giới hạnh viên
                           (Kim Tâm – Thích Hạnh Niệm kính dịch)
10. Hòa thượng Chơn Phước–Đạo Thông–Huệ Pháp
眞 福 道 通 慧 法 (1887–1975): ): Chùa Minh Tịnh
 


Hòa thượng Huệ Pháp

Hòa thượng thế danh Nguyễn Lộ, sinh ngày 13 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887) tại thôn Bồ Đề, xã Đức Quang, nay là xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Vĩnh, một bậc túc nho đương thời và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Long.
            Thiếu thời Ngài học chữ nho với thân phụ. Ngài thường được cụ bà dắt đi chùa Cảnh Tiên gần nhà để lễ Phật và nghe Đại lão Hòa thượng Hoằng Thanh giảng đạo. Năm Kỷ Dậu (1909), lúc 22 tuổi Ngài xin phép song thân cho xuất gia với Hòa
 

* Trang 305 *
device

thượng Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên, được Bổn sư cho thọ giới Sa–di và ban pháp danh Chơn Phước.
Năm Tân Hợi (1911), Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới tại giới đàn Tổ đình Thiên Ấn và là Thủ khoa Sa–di tại giới đàn này. Năm ấy Ngài 24 tuổi, được truyền Tổ ấn với pháp tự Đạo Thông, đạo hiệu Huệ Pháp, nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Giáp Dần (1914), Ngài xin phép Bổn sư cho vào Bình Định để tham học với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ. Duyên lành đã đến, Ngài gặp hai Phật tử Trừng Quế, Trừng Quy cúng cho Ngài một thảo am tại đồi cát ở khu 6, thành phố Quy Nhơn để tu học và đến năm 1918, Ngài kiến tạo thành chùa Minh Tịnh.
Năm Đinh Tỵ (1917), Ngài được chư sơn thỉnh làm Đệ nhất tôn chứng Giới đàn chùa Trường Giác, Tuy Phước, Bình Định. Năm Giáp Tý (1924), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê tại Giới đàn chùa Linh Phong, Phù Cát, Bình Định. Đến năm Ất Sửu (1925), Giới đàn chùa Phước Quang, Quảng Ngãi cung thỉnh Ngài làm Yết–ma A–xà–lê.
Năm Đinh Mão (1927), Ngài được thỉnh làm Chánh Ký trường Hương chùa Long Khánh, Quy Nhơn, kiêm Giáo thọ sư.
 Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma A–xà–lê trong Đại giới đàn chùa Thiên Đức, huyện Tuy Phước.
Năm Giáp Thân (1944), Bảo Đại năm thứ 19, Ngài được triều đình Huế sắc chỉ khâm ban Đạo điệp Tăng cang và Sắc tứ chùa Minh Tịnh.
Năm Ất Dậu (1945), hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia mặt trận kháng chiến và được bầu làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Định.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh giới đàn chùa Thiên Bình, An Nhơn, Bình Định.
Năm Đinh Dậu (1957), tại Đại giới đàn chùa Nghĩa Phương, Nha Trang, Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới. Cùng năm, Hội Phật giáo Tịnh độ tông thỉnh Ngài vào ngôi vị Chứng minh đại đạo sư Trung phần.

* Trang 306 *
device

Năm Kỷ Hợi (1959), Hội Phật giáo Cổ truyền Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử thỉnh Ngài làm Chứng minh đạo sư Trung phần.
Năm Nhâm Dần (1962), chư sơn thiền đức tỉnh Bình Định tổ chức Đại giới đàn tại Tổ đình Minh Tịnh, cung thỉnh Ngài làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.
Ngài viên tịch ngày 11 tháng 11 năm Ất Mão (1975), thế thọ 89 năm, đạo thọ 65 hạ lạp.
11. Hòa thượng Như Đăng–Giải Chiếu–Trí Độ
如 燈 解 照 智 度  (1894–1979): Chùa Quán Sứ
 


Pháp sư Trí Độ

Hòa thượng thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường sư phạm. Nhờ có sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
Năm Canh Thân (1920), Ngài bắt đầu giảng dạy Phật pháp tại Bình Định và là một trong những yếu nhân trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại tỉnh nhà.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài vào Sài–gòn, cùng với một số Cao tăng sáng lập và xuất bản tạp chí Từ Bi Âm.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài được mời làm Đốc giáo và giảng dạy tại trường An Nam Phật học tại chùa Báo Quốc, Huế. Năm Canh Thìn (1940), Ngài trở vào Bình Định, xin xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng Trí Hải chùa Bích Liên được ban pháp danh Như Đăng, tự Giải Chiếu nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Sau đó Ngài theo thọ học với Hòa

* Trang 307 *
device

thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp. Năm Tân Tỵ (1941), Ngài thọ tam đàn Cụ túc với Hòa thượng Đắc Quang chùa Quốc Ân, Huế, đắc pháp hiệu Trí Độ đại sư.
Ngài tham gia phong trào Phật giáo Cứu quốc từ năm 1945, và thường cổ vũ Tăng ni Phật tử cùng lo việc cứu nước. Năm 1946, Hội Bắc kỳ Phật giáo mời Ngài ra mở trường tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Năm Canh Dần (1950), Ngài được bầu làm Ủy viên Ủy ban Liên Việt tại Thanh Hóa và năm Quý Tỵ (1953) được chỉ định làm Ủy viên Ủy ban Việt Nam Bảo vệ Hòa bình Thế giới.
Năm Giáp Ngọ (1954), hòa bình lập lại ở miền Bắc, Ngài trở về trụ tại tùng lâm Quán Sứ, tích cực vận động Tăng ni Phật tử các tỉnh miền Bắc để thành lập một tổ chức Phật giáo Thống Nhất.
Tháng 3 năm Mậu Tuất (1958), cơ duyên đã hội đủ, Hội Phật giáo Thống nhất được thành lập, Ngài được tiến cử vào Ban lãnh đạo Trung ương và được bầu làm Hội trưởng từ đó và các kỳ đại hội về sau. Trong cương vị Hội trưởng, Ngài xin chính phủ mở nhiều lớp học ngắn hạn để đào tạo cấp tốc một số giảng sư nòng cốt cho các tỉnh, thành. Những lớp ngắn hạn này đều do Ngài trực tiếp tổ chức hướng dẫn và mời những Hòa thượng danh tiếng khác tham gia giảng dạy.
Năm 1968–1969, Ngài tổ chức lớp chuyên nghiên cứu Duy thức và Bách pháp minh môn luận. Đến năm 1970, Ngài mở trường Tu học Phật pháp Trung ương tại chùa Quảng Bá, Hà Nội. Hai năm sau, Ngài mở trường Trung Tiểu học Phật pháp Trung ương (1972–1974), rồi lớp chuyên về “Nhị khóa hiệp giải” (năm 1974–1975).
Năm 1976, Ngài về Bình Định thăm quê, thăm các chốn Tổ đình, nơi Ngài đã xuất gia đầu Phật, cùng những nơi Ngài đã từng khai tràng thuyết pháp năm nào.
Những năm cuối của thập kỷ 70, tuy tuổi cao, sức khỏe giảm sút, nhưng Ngài vẫn minh mẫn và luôn quan tâm đến việc hoằng pháp lợi sinh. Sau khóa lễ chiều ngày 24 tháng 10 năm 1979, tức ngày 4 tháng 11 năm Kỷ Mùi, Ngài gọi thị giả đưa lên chánh điện chùa Quán Sứ lễ Phật và đi quanh chùa thăm các cơ sở Phật sự cùng Tăng chúng trụ xứ, rồi trở về phòng ngồi đọc sách như

* Trang 308 *
device

thường lệ. Thế rồi Hòa thượng an nhiên thị tịch ngay tại tòa đọc, hưởng thọ 85 tuổi với 47 năm hoằng dương đạo pháp. Về trước tác, Ngài đã viết nhiều bài nghiên cứu có giá trị trong tạp chí Từ Bi Âm như:
Luận về sóng thức (Duy thức)
– Pháp lạy hồng danh sám (Giáo lý)
Các kinh sách và tài liệu do Ngài dịch và viết rất nhiều, song vì đất nước chiến tranh, chưa có điều kiện xuất bản như:
– Bách pháp minh môn luận
– Nhân minh nhập chính lý luận
– Phật pháp khái luận
– Toát yếu lịch sử Phật giáo Việt Nam
– Bát–nhã tâm kinh
– Nhân minh khái yếu
– Nhân minh học giải thích
12. Hòa thượng Như Từ–Tâm Đạt  
如 慈 心 達 (1907–1979): Chùa Thiên Bình

 


Hòa thượng Tâm Đạt

Hòa thượng thế danh Nguyễn Giốc, sinh năm Đinh Mùi (1907) tại làng Trung Lý, xã Nhơn Phong, huyện Nhơn An, tỉnh Bình Định. Năm 14 tuổi, Ngài xuất gia với tổ Chơn Dụng–Quang Phước tại chùa Thiên Bình. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Như Từ, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Quý Hợi (1923), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài về chùa Nhạn Sơn y chỉ Hòa thượng Chơn Huệ–Chí Mẫn để tu học. Năm Đinh Mão (1927), khi tuổi vừa đôi mươi,
 

* Trang 309 *
device

Ngài được Hòa thượng Chí Mẫn cho đăng đàn thọ giới Cụ túc tại chùa Nhạn Sơn do ngài Chí Mẫn làm Đàn đầu và ban cho đạo hiệu Tâm Đạt. Đồng thời, Ngài được cử về kế nghiệp Bổn sư trú trì chùa Thiên Bình. Từ đây, đời Ngài gắn liền với chốn Tổ cho đến ngày viên tịch.
Năm Canh Ngọ (1930), Ngài khởi công đại trùng tu chùa Thiên Bình và hai năm sau công việc mới hoàn tất. Từ đó, đạo phong của Ngài tỏa rạng nên vào năm Canh Thìn (1940) chùa Thiên Bình được triều đình ban Sắc tứ.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài khai đại giới đàn tại chùa Thiên Bình và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Năm Nhâm Thìn (1952), Ngài tiếp tục mở giới đàn tại chùa Thiên Bình, cung thỉnh Hòa thượng Huệ Chiếu – trú trì chùa Thập Tháp làm Đàn đầu Hòa thượng, Hòa thượng Phước Hộ chùa Từ Quang, Phú Yên làm Yết–ma và Ngài làm Giáo thọ kiêm Hóa chủ.
Năm Đinh Mùi (1967), khi tuổi vừa lục tuần, Ngài trao quyền trú trì cho đệ tử là Thượng tọa Thích Liễu Không. Từ đó, Ngài lui về sự tịnh tu để làm biểu chứng cho các đàn hậu học về sau.
Ngài có công khai sáng các chùa Thiên Ân ở tại xã Hữu Pháp huyện Phù Cát; chùa Thiên Long tại Huỳnh Giảng, Tuy Phước; chùa Thiên Xá tại huyện Phù Cát v.v...
Vào ngày 29 tháng 11 năm Kỷ Mùi (1979), Hòa thượng thị tịch, thọ thế 73 tuổi. Bảo tháp lưu giữ nhục thân Ngài được môn đồ kiến lập trong khuôn viên Tổ đình Thiên Bình.
13. Hòa thượng Thị Công–Trí An–Đồng Thiện
是 功 智 安 同 善 (1922–2001): Tu viện Nguyên Thiều
Hòa thượng thế danh Trần Đình Hiếu, sinh năm Nhâm Tuất (08/4/1922) tại thôn Vạn Hòa, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Duệ pháp danh Thị Hộ và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Long pháp danh Thị Kính.
Năm lên 9 tuổi, Ngài thọ Tam quy Ngũ giới với Hòa thượng Như Từ–Tâm Đạt với pháp danh là Thị Công tại chùa Thanh Sơn, thôn Thanh Lương, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Năm Quý Dậu (1933), Hòa thượng xuất gia đầu sư tại chùa Thanh Sơn với ngài Thị Thường–Chánh Nguyên được ban pháp danh Đồng Thiện. Theo học với Bổn sư chẳng được bao lâu, Hòa

* Trang 310 *
device

thượng được Bổn sư bố trí vào huyện An Nhơn để tiếp tục thế học và Phật học. Trong thời gian này, Hòa thượng được sự giám hộ của ngài Tâm Đạt tại Tổ đình Thiên Bình.
 

Năm Đinh Sửu (1937), Hòa thượng thọ Sa–di giới tại giới đàn Tổ đình Tịnh Lâm huyện Phù Cát, Bình Định do Hòa thượng Huyền Giác làm Đàn đầu.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài thọ Cụ túc giới tại Tổ đình Hưng Khánh huyện Tuy Phước, do Hòa thượng Chơn Hương–Chí Bảo làm Đàn đầu. Vì không về đảnh lễ Bổn sư thế độ, Ngài tác pháp với Hòa thượng Tâm Đạt tại Tổ đình Thiên Bình để y chỉ cầu thọ Đại giới. Sau khi đắc pháp, Hòa thượng được ngài Tâm Đạt ấn chứng với pháp danh Thị Công, hiệu Trí An. Như vậy Hòa thượng


Hòa thượng Đồng Thiện
chính thức nối thừa dòng pháp Lâm Tế đời 42, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Tuy nhiên, để tỏ lòng hoài niệm ân đức của Bổn sư thế độ, Ngài lấy pháp danh Đồng Thiện làm pháp hiệu lưu thông.
Từ năm 1943 đến năm 1954, Ngài theo học Phật pháp với chư vị cao đức trong địa phận của huyện An Nhơn, Tuy Phước, thường xuyên tham vấn lưu học tại các Tổ đình Hưng Long, Thanh Quang tại An Nhơn, Tổ đình Thiên Đức huyện Tuy Phước và nhiều tự viện khác trong tỉnh. Ngài tham gia tổ chức tập thể “Tăng chúng lục hòa” để thực hiện tinh thần “Thượng cầu hạ hóa” sinh hoạt tại Tổ đình Tịnh Liên, thị trấn Bình Định.
Từ năm 1954 đến năm 1958, Hòa thượng theo học lớp Tăng ở Học Đường Trung Việt tại chùa Long Sơn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa do Tổng hội Phật giáo Trung phần điều hành.
Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng cùng chư vị tôn túc thành lập tu viện Nguyên Thiều để làm trung tâm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo tỉnh nhà.

* Trang 311 *
device

Năm Kỷ Dậu (1969), Hòa thượng được chính thức công cử làm Đệ nhất trú trì tu viện Nguyên Thiều. Từ đó, Hòa thượng phụng hành hoài bão lấy công hạnh hoằng pháp lợi sanh làm sự nghiệp, đem hết tâm lực duy trì và khuếch trương cơ sở Tu Viện cho đến ngày viên tịch.
Trong thời gian này, Hòa thượng chú trọng đến việc giáo dục học Tăng và ít quan tâm đến việc thế độ đệ tử. Mãi đến cuối đời Ngài mới thâu nhận đồ chúng để có nhân sự duy trì cở sở Tu Viện. Hiện tại đồ chúng Hòa thượng thâu nạp lên đến số vài mươi nhưng hầu hết đều còn ngây thơ nhỏ dại, môn hạ trưởng thành được Hòa thượng giáo dưỡng thâm niên hiện còn có 4 vị, đó là Thích Trí Biện (Quảng Bửu), Thích Minh Hạnh (Đồng Luận), Thích Minh Tuấn (Thị Anh), Thích Minh Dung (Thị Viên).
Vào ngày 3 tháng 8 năm Tân Tỵ, nhằm ngày 19/09/2001, Hòa thượng viên tịch sau một thời gian lâm bệnh, thọ thế 80 năm, tăng lạp 58 tuổi.
14. Hòa thượng Như An–Giải Hòa–Huyền Quang
如 安 解 和 玄 光 (1920–2008): Tu viện Nguyên Thiều
 


Hòa thượng Huyền Quang

Hòa thượng thế danh Lê Đình Nhàn, sinh ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân (19–9–1920) tại thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương và thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài xuất gia với Hòa thượng Chơn Đạo–Chí Tâm tại chùa Vĩnh Khánh. Cũng trong năm này, Ngài thọ Sa–di với pháp danh Như An, tự Giải Hòa nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Tháng 9 năm 1935 Hòa
thượng Bổn sư viên tịch, nên Ngài đến cầu pháp tu học với Hòa thượng Trí Hải tại chùa Bích Liên.

* Trang 312 *
device

Năm Đinh Sửu (1937), với học hạnh kiêm ưu, tài trí vượt chúng nên Ngài được Hòa thượng Bích Liên và Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Cụ túc giới tại trường hương Hưng Khánh do Hòa thượng Chơn Hương–Chí Bảo làm Đàn đầu. Sau khi đắc giới, Ngài được Hòa thượng Trí Hải phú pháp hiệu Huyền Quang, pháp danh Ngọc Tân, pháp tự Tịnh Bạch, lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 18 tuổi. Bắt đầu từ đó Ngài lấy pháp hiệu Thích Huyền Quang làm danh xưng phổ thông.
Năm 1938–1945, Ngài theo học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh. Sau khi học xong Ngài ra Huế học với Hòa thượng Trí Độ tại Phật học đường chùa Báo Quốc.
Tháng 8 năm 1945, Ngài tham gia kháng chiến chống Pháp và thành lập Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5, giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký. Năm 1951 vì chống đối chính sách can thiệp vào nội bộ Phật giáo của Việt Minh nên ngài đã bị bắt và an trí ở Phù Mỹ, rồi Sơn Tịnh, tỉnh Quãng Ngãi, cho đến ngày 20/7/1954 Ngài mới được thả tự do.
Từ năm 1955 đến 1957, Ngài được thỉnh cử làm Giám đốc Phật học đường Long Sơn, Nha Trang. Do sự phát triển, từ năm 1957, Phật học đường Long Sơn, Nha Trang và Phật học đường Báo Quốc, Huế hợp nhất thành Phật học viện Trung phần Hải Đức, Nha Trang.
Năm Mậu Tuất (1958), Ngài cùng với chư Tăng Bình Định khai sơn Tu Viện Nguyên Thiều và thành lập Phật học viện Nguyên Thiều. Từ đó, Ngài giữ vai trò Giám viện cho đến cuối đời.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài làm phó Hội trưởng Hội Phật học Trung phần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Thừa Thiên, Huế.
Năm Quý Mão (1963), Ngài tham gia cuộc vận động cho quyền bình đẳng tôn giáo dưới chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và đòi hỏi yêu sách xóa bỏ Dụ số 10. Lúc bấy giờ Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo ra đời, Ngài làm Tổng thư ký kiêm trưởng khối soạn tài liệu đấu tranh. Ngày 20 tháng 8, Ngài cùng bị bắt với chư tôn đức, mãi đến ngày 01/11/1963 mới được thả tự do. Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN ra đời, Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Tổng thư ký Viện hóa đạo kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài đại diện Viện hóa đạo tham dự Đại hội các Tôn giáo Thế giới vì hòa bình lần thứ nhất tại Nhật

* Trang 313 *
device

Bản. Năm 1972, Ngài tham dự Đại hội Hội đồng Tôn giáo Thế giới tại Geneve, Thụy Sỹ.
Đại hội kỳ VI của GHPGVNTN, tổ chức vào ngày 27/12/1974, Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Phó viện trưởng Viện hóa đạo.
Hòa thượng Huyền Quang là một trong những nhà lãnh đạo Phật giáo tài ba lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Đặc biệt, Ngài có trí nhớ hơn người và khả năng hành chánh siêu việt khiến các chính khách của bao chế độ phải nể phục. Là một người yêu chuộng hòa bình, luôn đấu tranh vì sự tự do bình đẳng của tôn giáo nên gần như suốt cả cuộc đời Ngài luôn bị tù tội cầm cố. Trong những tháng ngày bị an trí tại Quảng Ngãi, Hòa thượng đã có cơ duyên đọc hết bộ Đại Tạng Kinh bằng Hán tạng. Đây là một điều hy hữu mà không phải vị tôn đức nào cũng làm được. Đồng thời, Ngài đã phiên dịch, biên soạn một số tác phẩm sau:
– Thiền môn chánh độ
– Sư tăng và thế nhân
– Nghi cúng chư Tổ và chư vị Cao tăng
– Đạo tràng công văn tân soạn
– Thiếu thất lục môn
– Phật pháp hàm thụ
– Pháp sự khoa nghi
– Nghi thức cúng giao thừa
– Phật pháp áp dụng trong đời sống hằng ngày v.v...
Hòa thượng viên tịch vào ngày mồng 3 tháng 6 năm Mậu Tý (5/7/2008), tại phương trượng Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, trụ thế 89 năm và 69 hạ lạp.
15. Hòa thượng Thị Huệ–Hạnh Giải–Bảo An
是 慧 行 解 寶 安:  Chùa Phổ Bảo

* Trang 314 *
device



Hòa thượng Bảo An

Hòa thượng thế danh Lê Bảo An, sinh năm Giáp Dần (1914) tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Phúng, pháp danh Như Kinh; thân mẫu cụ bà Từ Thị Hữu, pháp danh Như Bằng; đức mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cơ, pháp danh Như Duyên.
Năm Bính Dần (1926), do nhân duyên nhiều đời nên Ngài đến Tổ đình Hưng Khánh thuộc thôn Hưng Nghĩa, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước, Bình Định xin đầu sư với Hòa thượng Chơn Hương–Chí Bảo; nhưng bấy giờ, ngài
Chí Bảo vì tuổi đã cao, nên chỉ định đệ tử mình là Như Hòa–Tâm Ấn làm Bổn sư cho Ngài.
Năm Tân Mùi (1931), Hòa thượng thọ Sa–di giới tại Giới đàn Trường kỳ Phước Sơn, Bồng Sơn, do Hòa thượng Tường Quang (ngài Cam Lồ) làm Đàn đầu, ngài Chí Bảo Chứng minh đạo sư, ngài Bích Liên làm Tuyên luật sư. Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Thị Huệ, tự Hạnh Giải, nối pháp đời 42, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Nhâm Thân (1932), Ngài Tâm Ấn được hương quyền tộc thuộc cùng bổn đạo cung thỉnh về trú trì Tổ đình Phổ Bảo. Hòa thượng theo Bổn sư về chùa Phổ Bảo để phụ giúp trông coi việc chùa. Với tâm tinh cần không quản ngại khó khăn cực nhọc, mọi công việc do ngài Tâm Ấn giao phó, Hòa thượng đều cố gắng chu toàn nên được Bổn sư tin tưởng thương mến.
Năm Mậu Dần (1938), vì tuổi cao sức yếu nên ngài Chí Bảo đặc cử ngài Tâm Ấn trực tiếp đảm nhận công việc điều hành Phật sự tại Tổ đình Hưng Khánh. Cùng năm đó, Phật học đường

* Trang 315 *
device

Long Khánh do hội Phật học Bình Định tổ chức tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn, Hòa thượng được Bổn sư giới thiệu theo học dưới sự chỉ dạy của Quốc sư Phước Huệ.
Năm Canh Thìn (1940), ngài Trí Độ – bấy giờ đang là Giám đốc Trường An Nam Phật học từ Huế về Bình Định, xin phép ngài Tâm Ấn để đưa Hòa thượng ra Huế tham học. Cơ duyên đã đến, Hòa thượng theo gót ngài Trí Độ ra Trường An Nam Phật học tại chùa Trúc Lâm, Huế tiếp tục nâng cao kiến thức Phật học. Đồng học với Hoà Thượng có các ngài: Hòa thượng Thích Trí Quang, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Phước Trí, Hòa thượng Thích Tâm Hoàn.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Đại giới đàn được tổ chức tại Tổ đình Hưng Khánh do ngài Chơn Hương hiệu Chí Bảo làm Hòa thượng Đàn đầu. Nhận biết cơ duyên đã đủ, ngài Tâm Ấn cho phép Hòa thượng đăng đàn thọ Cụ túc giới, chính thức nhận y bát, bước lên giới phẩm Tỳ–kheo với pháp hiệu Bảo An.
Năm Quý Mùi (1943), chính trường trong nước có nhiều thay đổi, Trường An Nam Phật học phải tạm thời đóng cửa, Hòa thượng trở về Tổ đình Phổ Bảo tiếp tục phụ giúp Bổn sư trong công việc trùng kiến già–lam, cũng như đảm trách những Phật sự ở tỉnh nhà. Việc theo học tại Trường An Nam Phật học của Hòa thượng bị gián đoạn kể từ đó.
Năm Đinh Hợi (1947), hưởng ứng lời kêu gọi của uỷ ban hành chánh kháng chiến Nam Trung bộ, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hòa thượng cùng chư sơn lúc bấy giờ khởi xướng và sáng lập Đoàn Thanh niên Tăng sĩ Bình Định. Tổ chức này bấy giờ hoạt động nằm trong bí mật, Chủ tịch là Hòa thượng Thích Giác Tánh, Hòa thượng được cử làm Phó chủ tịch, cùng với Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Tâm Hoàn làm Thư ký và Giáo thọ.
Năm Mậu Tý (1948), Hòa thượng Chí Bảo viên tịch, ngài Tâm Ấn về thừa kế Tổ nghiệp tại Hưng Khánh. Hòa thượng được Bổn sư trạch cử làm trú trì Tổ đình Phổ Bảo.

* Trang 316 *
device

Năm Kỷ Sửu (1949), Hòa thượng được cử làm Hội trưởng Hội Phật giáo Tuy Phước. Cùng năm này, Hòa thượng cùng chư tôn đức trong tỉnh đứng ra cổ động thành lập chúng Lục Hòa tỉnh Bình Định, và Hòa thượng được mời giữ chức vụ Chúng trưởng huyện Tuy Phước (năm 1951).
Năm Nhâm Thìn (1952), Hòa thượng được mời làm Cố vấn đoàn chúng A–nan.
Sau hiệp định Genève, Hòa thượng vẫn tiếp tục được cử làm Hội trưởng Hội Phật giáo huyện Tuy Phước.
Năm Mậu Tuất (1958), dù phải đảm trách khá nhiều phật sự của Giáo hội, dù phải lo chu toàn mọi việc tiếp Tăng độ chúng trong chùa giữa thời buổi khó khăn của cuộc chiến, song Hòa thượng vẫn cùng chư tôn đức trong tỉnh, như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Tâm Hoàn,Thích Đồng Thiện, Thích Đỗng Quán v.v... cùng chung bắt tay nhau đứng ra sáng lập Tu viện Nguyên Thiều, dùng làm cơ sở “Bồi dục Tăng tài” cho tỉnh nhà và Giáo hội. Buổi đầu Phật học viện Nguyên Thiều ra đời, Hòa thượng được bầu làm Phó Ban Quản trị khóa I (năm 1960).
Năm Quý Mão (1963), ngài Tâm Ấn viên tịch, Hòa thượng được tín đồ cung thỉnh về giữ trách vụ trú trì chùa Hưng Khánh. Từ đó “một cảnh hai quê”, Hòa thượng đảm trách điều hành và chu toàn mọi Phật sự ở cả hai ngôi Tổ đình Phổ Bảo và Hưng Khánh.
Năm Giáp Thìn (1964), Hòa thượng trùng kiến lại toàn bộ chùa Hưng Khánh một cách quy mô và khang trang như ngày nay. Cùng năm đó, chính trường trong nước gặp nhiều biến cố, cuộc chiến ở miền Trung Việt Nam ngày một trở nên khốc liệt. Trước tình hình đó, Hòa thượng nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt những Tăng sinh đang tu học tại Phật học viện Nguyên Thiều thời bấy giờ vào Sài–gòn lánh nạn. Tại Sài–gòn, Hòa thượng được tín đồ cung thỉnh nhận chức trú trì Niệm Phật Đường ấp Tây Ba, Phú Nhuận. Cuối năm đó, Hòa thượng xây dựng khang trang lại ngôi Niệm Phật Đường này và cải hiệu thành Giác Uyển tự.
Cùng năm, GHPGVNTN tỉnh Bình Định thành lập, Ngài được mời làm Đặc ủy nghi lễ của Giáo hội.

* Trang 317 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh