LOGO VNBET
Nhưng tính theo niên đại 1670–1746 thì lạc khoản ghi: “Khang Hy Thập bát Kỷ Mùi (1679)” trong bản sao chép lại không trùng khớp. Vì thế, chúng tôi có thể đoán định rằng, bài kệ truyền pháp tại Bình Định có những khúc mắc của lịch sử thời đại mà chúng ta cần phải tìm hiểu cho tường tận.
III. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
1. Nguyên nhân phát triển
Kể từ ngày Tổ sư Minh Hải khơi nguồn đạo mạch, đến cuối thế kỷ XVIII các chùa tại tỉnh Quảng Nam đều do các thiền sư dòng Chúc Thánh đảm nhiệm giáo hóa. Đồng thời, tầm ảnh hưởng của dòng Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng vào các tỉnh phía nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Định, Bình Dương.
Với thời gian chưa đầy 100 năm nhưng vì sao thiền phái Chúc Thánh có sự phát triển nhanh chóng như vậy? Chúng ta có thể lý giải vấn đề này qua một số nguyên nhân sau:
– Với gần 50 năm hoằng hóa tại Quảng Nam, đạo phong của tổ Minh Hải đã thấm nhuần, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân bản địa. Quan trọng hơn nữa, Ngài đã đào tạo một thế hệ kế thừa xứng đáng, đủ khả năng kế nghiệp Ngài xiển dương đạo pháp và phát triển tông môn. Đời thứ 2 của dòng Chúc Thánh có các ngài Thiệt Dinh, Thiệt Diệu, Thiệt Thọ, Thiệt Đạo, Thiệt Mẫn, Thiệt Gia v.v... hoằng hóa tại Quảng Nam. Các ngài Thiệt Úy, Thiệt Uyên hoằng hóa tại Quảng Ngãi, các ngài Thiệt Đăng, Thiệt Thuận hoằng hóa tại Bình Định. Đến thế hệ thứ 3 có các ngài Pháp Kiêm, Pháp Chuyên, Pháp Ấn, Pháp Diễn, Pháp Tịnh, Pháp Tràng v.v... đều nhiệt tâm truyền bá chánh pháp làm cho Phật giáo Quảng Nam thêm hưng thịnh, đồng thời tông môn Chúc Thánh nhanh chóng phát triển.
Đặc biệt, thế hệ thứ 3 của dòng thiền Chúc Thánh có hai vị thiền sư lỗi lạc. Đó là thiền sư Pháp Kiêm–Luật Oai–Minh Giác trú trì chùa Phước Lâm, Hội An và Pháp Chuyên–Luật Truyền–Diệu Nghiêm khai sơn chùa Từ Quang, Phú Yên. Cả hai vị đều là những bậc Cao tăng đạo hạnh siêu quần, kiến văn quảng bác nên đã thu hút chư Tăng khắp các tỉnh từ Quảng Nam đến Phú Yên theo học tại hai đạo tràng chính nêu trên. Từ chùa Phước Lâm,

* Trang 123 *
device

Hội An và chùa Từ Quang, Phú Yên, chư Tăng đời thứ 4 dòng Chúc Thánh với pháp danh chữ Toàn ra hoằng pháp khắp các tỉnh miền Trung và Nam bộ. Tại Quảng Nam thì có ngài Toàn Nhâm–Quán Thông; tại Quảng Ngãi có ngài Toàn Chiếu–Bảo Ấn; tại Bình Định có ngài Toàn Ý–Phổ Huệ, Toàn Tín–Đức Thành; tại Phú Yên có ngài Toàn Thể–Linh Nguyên, Toàn Nhật–Quang Đài, Toàn Đạo–Mật Hạnh; tại Bình Dương có ngài Toàn Tánh–Chánh Đắc v.v... Các vị này đều là những bậc long tượng trong nhà thiền đã tích cực xiển dương đạo pháp và phát triển tông môn. Chính vì thế mà tông môn Chúc Thánh nhanh chóng phát triển khắp các tỉnh thuộc Đàng Trong trước đây.
– Các thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân nên dòng thiền này nhanh chóng phát triển. Như chúng ta biết, Hội An là chiếc nôi khai sinh của dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Thời bấy giờ, Hội An là một thương cảng trù phú nên có nhiều người ngoại quốc đến sinh sống làm ăn. Trong đó, cộng đồng người Việt và người Hoa chiếm đại đa số. Với một lực lượng kế thừa hùng hậu, các thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được cả hai cộng đồng người Việt và người Hoa. Các ngài Thiệt Diệu, Thiệt Thọ, Thiệt Mẫn là người Hoa nên ngụ tại Chúc Thánh đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng người Hoa. Còn thiền sư Thiệt Dinh ra khai sơn Phước Lâm với sự hỗ trợ của các pháp đệ Thiệt Đạo, Thiệt Gia đã thu hút được sự quy ngưỡng cũng như đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của người Việt. Như vậy, trong hàng đệ tử xuất gia của tổ Minh Hải có cả người Hoa và người Việt. Các vị người Hoa ở Chúc Thánh và các vị người Việt ở Phước Lâm tạo thành hai trung tâm truyền giáo đầu tiên của dòng Chúc Thánh. Đến đời thứ 3 thì đạo tràng Phước Lâm với sự kế thừa của ngài Pháp Ấn, Pháp Kiêm đã phát triển mạnh và đóng vai trò chủ chốt của sự truyền bá thiền phái này.
 - Với tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế, cộng với nếp sống giản dị, thanh bần các thiền sư dòng Chúc Thánh gần gũi với nhân dân và dễ dàng đi sâu vào lòng quần chúng. Thời bấy giờ, dân Quảng Nam là phần lớn dân di cư từ bắc vào. Từ lâu họ đã sống với sự gò bó hà khắc của Nho gia nên rất chán ngán. Nay đón nhận một trào lưu với những tư tưởng phóng khoáng,

* Trang 124 *
device

không câu nệ tiểu tiết nên họ nhanh chóng tiếp nhận. Lại nữa, đời sống của các thiền sư tại đất Quảng khác hẳn với các vị sống nơi xứ Thuận Hóa. Bởi lẽ, các thiền sư ở tại Thuận Hóa chịu sự ảnh hưởng của cung đình nên có lối sống cầu kỳ, lễ nghi phức tạp. Ngược lại, sự giản dị trong cách sống, chân tình trong giao tiếp của các thiền sư nơi đất Quảng tạo nên sự gần gũi thân mật dễ dàng hòa nhập cùng cộng đồng.
– Về mặt khách quan, thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh và khai tông lập giáo dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì. Sự thanh bình của Đàng Trong kéo dài không bao lâu thì Tây Sơn binh biến. Tiếp đến là cuộc chiến của Nguyễn–Gia Long và Nguyễn–Tây Sơn. Chính sự trong nước bị xáo trộn rối ren ảnh hưởng rất lớn đến sự tu học của chư Tăng. Một số vị phải rời chốn Tổ tại miền Trung để vào Nam hoặc đi nơi khác để giáo hóa.
– Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, triều đình nhà Nguyễn bất lực ký hòa ước đầu hàng. Từ đó, phong trào yêu nước dấy lên khắp nơi, từ phong trào Cần Vương cho đến phong trào Duy Tân v.v... đã ảnh hưởng rất lớn đối với giới Tăng sĩ đương thời. Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ lan rộng khắp các tỉnh Nam–Ngãi–Bình–Phú. Bản thân Võ Trứ là một nhà sư và cuộc khởi nghĩa này đã thu hút rất nhiều chư Tăng tham gia nên sử nhà Nguyễn gọi là “Giặc thầy chùa”. Đồng thời, phần lớn các phong trào yêu nước đều xuất phát từ những ngôi chùa. Bởi lẽ ngoài sự tu học, Tăng nhân còn có trách nhiệm khuông phò xã tắc trong tinh thần “Hộ quốc an dân”. Chính vì vậy mà các chùa tại miền Trung bị triều đình khủng bố. Tình hình xã hội và không khí chính trị miền Trung lúc nào cũng sôi động xáo trộn ngột ngạt. Vì thế, đa phần chư Tăng có dính líu đến các phong trào yêu nước đều phải ẩn mình lánh nạn. Mảnh đất miền Nam là nơi yên bình để chư Tăng vào lánh nạn và cũng để hoằng pháp. Chính những nghịch duyên này đã đưa đẩy chư Tăng xa các chốn Tổ nhưng cũng lại là thuận duyên để họ hoằng truyền Phật pháp đến các miền xa hơn.
Từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan trên đã khiến cho dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh phát triển khắp nơi.

* Trang 125 *
device

Từ Quảng Nam, các Ngài đã đem tông chỉ của Tổ đi hoằng hóa khắp các tỉnh miền Trung và Nam bộ khiến cho tông môn phát triển nhanh chóng sâu rộng. Đồng thời, Tăng nhân Chúc Thánh góp phần rất lớn trong sự phát triển của Phật giáo khắp các tỉnh thành.
2. Phương pháp tu tập và tôn chỉ hành đạo
2.1. Phương pháp tu tập
Sau đời Lục tổ Huệ Năng, thiền tông Trung Quốc phát triển mạnh và hình thành năm thiền phái. Danh xưng và đặc tính tu tập của năm thiền phái được tóm gọn qua bài kệ sau:
Lâm Tế thống khoái
Quy Ngưỡng cẩn nghiêm
Tào Động tế mật
Vân Môn ký cổ
Pháp Nhãn tường minh
Thiền phái Lâm Tế do thiền sư Lâm Tế–Nghĩa Huyền (?–867) sáng lập tại Trung Hoa. Ngài thuộc thế hệ thứ 6 sau ngài Huệ Năng và là Sơ tổ của thiền phái này. Sự truyền thừa của tông Lâm Tế đến đời 21 thì có thiền sư Vạn Phong–Thời Ủy chùa Thiên Đồng xuất kệ: “Tổ đạo giới định tông”. Đến đời 31, ngài Thông Thiên–Hoằng Giác tức Mộc Trần–Đạo Mân ở chùa Thiên Khai xuất kệ: “Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên”. Khi các tổ Nguyên Thiều, Minh Hải, Minh Lượng sang An Nam thì tông Lâm Tế phát triển mạnh tại Đàng Trong. Ngài Nguyên Thiều thuộc đời thứ 33 truyền theo bài kệ của ngài Vạn Phong–Thời Ủy, phái này phát triển mạnh ở Bình Định với Tổ đình chính là chùa Thập Tháp. Ngài Minh Lượng đời 34 truyền theo bài kệ của ngài Mộc Trần–Đạo Mân, phái này phát triển ở Gia Định với Tổ đình Giác Lâm là trung tâm. Ngài Minh Hải đời 34 biệt xuất bài kệ mà sử gọi là Lâm Tế Chúc Thánh phát triển tại Quảng Nam và chùa Chúc Thánh là Tổ đình chính. Đời 35 có ngài Thiệt Diệu–Liễu Quán, đệ tử của ngài Minh Hoằng–Tử Dung biệt xuất kệ truyền thừa nên pháp phái Lâm Tế Liễu Quán được hình thành và phát triển chính tại Thuận Hóa với Tổ đình Thiền Tôn.

* Trang 126 *
device

Trở lại với môn phái Lâm Tế Chúc Thánh, cho đến nay chúng ta chưa có một nguồn tư liệu cụ thể nào ghi sự tu tập cũng như những thiền ngữ của thiền sư Minh Hải. Tuy nhiên, đây là một chi phái của tông Lâm Tế nên sự tu tập của các thiền sư của dòng Chúc Thánh cũng không ra ngoài tông chỉ của phái này. Qua bài thuật sự tích của thiền sư Pháp Chuyên–Luật Truyền, thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh, chúng ta cũng có thể phần nào thấy được sự tu tập của các thiền sư thời bấy giờ.
Trong cuốn Sa–môn Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm Thiền Sư Xuất Thế Nhân Do Tích Chí có ghi sơ lược sự tu hành của Ngài như sau: “…Phật thừa ư trung nhật thực, viễn ly tài sắc, bất thiệp thế duyên, cần khán kinh luật, tinh cần cầu đạo, tụng Đại bi chú nhất tạng, đảnh lễ Tam thiên vạn Phật hồng danh các hữu ngũ biến, dĩ thử thiện căn cầu chướng tội tiêu, tảo thành Phật đạo…”. Nghĩa là: Ngài ngày ăn một bữa, xa lìa tài sắc, không màng đến chuyện thế sự, thường xem kinh luật, tinh tấn cầu đạo, tụng chú Đại Bi một tạng, đảnh lễ Tam Thiên, Vạn Phật, Hồng Danh mỗi loại năm lần, đem thiện căn này cầu cho tội chướng tiêu trừ, sớm thành Phật đạo.
Đồng thời, trong sách còn có ghi một đoạn pháp ngữ giữa Ngài và Bổn sư Thiệt Dinh như sau:
“…Đảnh lễ Bổn sư bạch vân:
– Tiên giác hữu vân: học đạo bất thông lý, hậu thân hoàn tín thí. Vân hà thông lý, nguyện Bổn sư chỉ thị?
Bổn sư thị viết:
– Đản tùy pháp sự tu hành, cùng sự chí lý, lãnh noãn tự tri, tuyệt ngôn ngữ đạo.
Hựu vấn viết:
–     Luật vân: Cổ nhân tâm địa vị thông, bất viễn thiên lý cầu sư phỏng đạo. Thử sự vân hà?
Bổn sư thị viết:
– Cổ nhân xuất gia bất vị danh lợi, duy cầu chí đạo, đốn liễu sanh tử, tâm địa tự như, minh kiến tự tánh, bổn lai thành Phật.
Bổn sư tri hữu đại thừa căn khí, đạo niệm siêu quần, nãi ấn chứng vi Diệu Nghiêm chi hiệu.
Nghĩa là:

* Trang 127 *
device

Ngài đảnh lễ Bổn sư và thưa:
– Người xưa nói: “Kẻ học đạo không thông lý, thân sau phải hoàn trả của tín thí”, thế nào là thông lý? Nguyện Thầy chỉ dạy cho!
Thầy bèn trả lời:
– Tùy theo pháp mà tu hành, cùng tột của sự thì đến lý, nóng lạnh tự biết, tuyệt đường ngôn ngữ.
Lại hỏi:
– Trong luật có dạy: “Người xưa tâm địa chưa thông, không quản ngàn dặm tìm thầy học đạo”. Việc ấy như thế nào?
Thầy lại dạy:
– Người xưa xuất gia không màng danh lợi, duy chỉ cầu đến chỗ rốt ráo của Đạo, đoạn trừ sanh tử, tâm địa như vậy, thấy rõ tự tánh thì thành Phật.
Bổn sư biết Ngài là bậc có căn khí Đại thừa, đạo niệm siêu quần xuất chúng, bèn ấn chứng hiệu là Diệu Nghiêm.
Qua đoạn trích về sự tu hành của thiền sư Pháp Chuyên–Luật Truyền, một thiền sư danh tiếng thuộc thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh, ta có thể thấy được sự tu tập của các vị thiền sư lúc bấy giờ là kết hợp hài hòa giữa Thiền–Tịnh, theo chủ trương Thiền–Tịnh song tu của thiền sư Vĩnh Minh–Diên Thọ (904 –975). Nghĩa là các thiền sư tụng đọc kinh văn, lạy Phật sám hối để cầu tội chướng tiêu trừ theo pháp môn Tịnh Độ. Đồng thời, tham thiền nhập định, tham vấn đạo để cầu Thầy ấn chứng sở đắc theo truyền thống thiền tông.
Tóm lại, với tư tưởng “Lâm Tế thống khoái” nên các thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh có pháp môn tu phù hợp tùy với điều kiện xã hội. Sự vận dụng kết hợp Thiền–Tịnh song tu đã đem lại sự lợi lạc cho hành giả và tha nhân. Về tự thân, các thiền sư đạt được sự an lạc do thiền định đem lại, thân tâm an lạc, nội lực tăng trưởng nên thấy rõ thật tướng của mọi sự mọi vật. Với pháp môn Tịnh Độ, các Ngài đã giúp cho dân chúng ổn định tinh thần, có một niềm tin hướng về Tam bảo. Đặc biệt, với tâm lý của những người mới di cư vào vùng Quảng Nam lúc bấy giờ, tín

* Trang 128 *
device

ngưỡng Di Đà, quy kính Tịnh Độ là chỗ dựa tinh thần vững chắc, an ổn nơi mảnh đất đầy sơn lam chướng khí này. Đây cũng là một trong những điều kiện giúp cho thiền phái Chúc Thánh nhanh chóng lan tỏa, phát triển trong các tầng lớp nhân dân tại Quảng Nam và các tỉnh thành.
2.2. Tôn chỉ hành đạo
Đức Phật Thích–ca ra đời và thuyết pháp nhằm mục đích đem lại sự hòa bình an lạc cho mọi loài chúng sanh. Đứng về mặt tôn giáo, Ngài chỉ bày con đường cho mọi người thoát khỏi sự bức bách khổ đau do tham, sân, si gây nên. Đứng về mặt xã hội, Ngài chủ trương đem lại sự bình đẳng tự do tuyệt đối cho con người với lời nói đầy minh triết: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, dòng nước mắt cùng mặn”.
Vì thế, các thế hệ Tăng lữ về sau cũng không ra ngoài tôn chỉ ấy. Phật giáo đi đến đâu là hòa bình đến đó. Tinh thần “Hộ quốc an dân” là một tôn chỉ xuyên suốt trong lịch sử 2000 năm truyền đạo trên đất Việt. Tôn chỉ của thiền phái Chúc Thánh cũng không ra ngoài nguyên tắc ấy.
Ngoài việc tu hành chứng ngộ tâm linh, các thiền sư dòng Chúc Thánh với chủ trương nhập thế tích cực với tinh thần vô nhiễm. Điều này được thể hiện qua cuộc đời của thiền sư Pháp Kiêm–Luật Oai–Minh Giác, thế hệ thứ 3 dòng Chúc Thánh. Sau khi xuất gia, Ngài lại về quê đăng lính đánh giặc lập nhiều công to được phong đến chức Chỉ huy. Đến lúc hưởng phú quý thì Ngài từ bỏ tất cả, về phát nguyện quét chợ Hội An trong thời gian 20 năm. Về sau, Ngài được triều đình và dân chúng suy tôn hiệu là Minh Giác thiền sư, thỉnh về kế nghiệp trú trì Tổ đình Phước Lâm. Tiếp nối gương của bậc Cổ đức, các thế hệ Tăng đồ dòng Chúc Thánh luôn nhiệt tâm tham gia vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập cho tổ quốc và tự do cho dân tộc. Thiền sư Ấn Bổn–Vĩnh Gia thuộc thế hệ thứ 6 dòng Chúc Thánh là một bậc Cao tăng được triều đình Huế kính trọng, thường thỉnh ra kinh đô thuyết giảng. Tuy nhiên, không vì sự kính trọng, ưu ái ấy mà Ngài quên đi nỗi đau mất nước. Ngài đã âm thầm cố vấn cho nhà chí sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên trong phong trào Duy Tân. Các thiền sư tại chùa Cổ Lâm huyện Đại Lộc đã che giấu Trần

* Trang 129 *
device

Cao Vân một thời gian dài. Nhà yêu nước họ Trần cũng đã có một thời gian tu hành tại đây với pháp danh Như Ý.
Tinh thần nhập thế của các Tăng sĩ dòng Chúc Thánh lại một lần nữa được thể hiện qua phong trào đấu tranh đòi tự do bình đẳng tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Điểm cao của tinh thần ấy là sự hy sinh cao cả của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Ngài đã thiêu thân cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn. Tâm nguyện Bồ–tát của Ngài đã để lại trái tim bất diệt mà ngàn đời Tăng ni kính ngưỡng. Bồ–tát Quảng Đức pháp danh Thị Thủy, tự là Hành Pháp thuộc thế hệ thứ 9 của dòng Chúc Thánh. Sự hy sinh của Ngài chính là đỉnh cao của tinh thần xả thân phụng sự Đạo pháp và Dân tộc. Ngọn lửa từ bi được Ngài thắp sáng, soi rõ lương tri của thời đại, cứu Phật giáo đồ cũng như mọi người dân thoát khỏi một chế độ độc tài hà khắc.
Tôn chỉ hành đạo của thiền phái Chúc Thánh kể từ ngày Tổ sư khai sơn cho đến nay vẫn không thay đổi. Nhập thế tích cực cứu đời nhưng vẫn thong dong tự tại trước mọi lợi danh. Tùy duyên hành đạo và bất biến giữ đạo luôn được áp dụng tùy từng hoàn cảnh cụ thể đã thể hiện được bản hoài của người Thích tử theo tinh thần: Phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật.
3. Sinh hoạt và tổ chức của sơn môn
3.1. Sinh hoạt của sơn môn
Như phần trên đã trình bày, kể từ khi thiền sư Minh Hải xuất kệ truyền thừa, trong vòng một thế kỷ, thiền phái Chúc Thánh phát triển mạnh tại Quảng Nam và lan rộng theo bước chân Nam tiến vào đến miền Gia Định. Riêng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến cuối thế kỷ XVIII, phần lớn các thiền sư thuộc dòng Chúc Thánh đảm nhiệm công việc hoằng pháp tại các chùa trong mỗi tỉnh.
Tại Quảng Nam đã hình thành ba trung tâm truyền giáo chính như sau: Trung tâm Hội An nằm ở phía đông với các Tổ đình Chúc Thánh, Vạn Đức, Phước Lâm; trung tâm Ngũ Hành Sơn nằm ở phía bắc với hai ngôi Quốc tự Tam Thai và Linh Ứng; trung tâm Đại Lộc nằm ở phía tây với Tổ đình Cổ Lâm. Cả ba trung tâm truyền giáo của dòng Chúc Thánh tại Quảng Nam đã

* Trang 130 *
device

có sự liên hệ mật thiết và hỗ tương cho nhau. Trong đó, các chùa Chúc Thánh, Phước Lâm đóng vai trò trung tâm đào tạo Tăng tài, phân bổ đến các chùa trong tỉnh để truyền đạo.
Tại Quảng Ngãi, Thiên Ấn là Tổ đình chính chi phối toàn bộ mọi sự sinh hoạt của chư Tăng trong tỉnh. Tổ đời thứ 4 Chương Khước–Giác Tánh trú trì, Ngài độ chúng và phú pháp với chữ Hoằng rất đông. Phần lớn, tông phong Chúc Thánh từ tổ Toàn Chiếu–Bảo Ấn và Chương Khước–Giác Tánh mà hình thành.
Tại Bình Định có Tổ đình Long Sơn, Phổ Bảo, Thiên Hòa, Thanh Long, Thiên Bình v.v... thiết lập một hệ thống các ngôi chùa truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh và có những sinh hoạt rất chặt chẽ từ trước đến nay. Nơi đây đã đào tạo được nhiều Tăng tài góp phần cho sự phát triển của tông môn.
Đặc biệt tại tỉnh Phú Yên, kể từ khi thiền sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm lập chùa Từ Quang ngôi chùa này trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo miền Trung từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Phần lớn chư Tăng các tỉnh đều về đây học kinh, luật, luận. Đa phần các vị Danh tăng của các tỉnh miền Trung trong thế kỷ XIX đều trải qua thời gian dài tại ngôi chùa Từ Quang lịch sử này.
Lúc bấy giờ, việc sinh hoạt của sơn môn cũng còn đơn giản. Thiền tông với chủ trương “Bất lập văn tự” nên các thiền sư không có mở trường dạy học như bây giờ, mà chủ yếu là thầy trò truyền dạy cho nhau, thực tập thiền định và ấn chứng sở ngộ. Sự sinh hoạt hỗ tương qua lại của các chùa trong tông môn được thể hiện rõ nét nhất là qua các giới đàn truyền giới.
Đàn truyền giới được khai mở mỗi khi có giới tử phát nguyện thọ giới để thăng tiến trong việc tu học. Theo Ngũ hành sơn lục, thiền sư Từ Trí mô tả việc đàn giới như sau: “…Tiền nhất niên, thỉnh chư sơn tự tăng ước nhật tề tựu thuyết vấn luận nghị khai đại giới đàn tiếp dẫn hậu côn tăng đẳng. Đồng ứng hộ trợ, nhiên hậu, bố cáo các tỉnh chư sơn tự tăng dự tri cẩn trạch.. niên…nguyệt…nhật. Túc thỉnh quang lâm y tự tiền tam nhật, trí thỉnh chư tôn an bài chức sự. Nhất vị Chủ kỳ Hòa thượng, nhất vị Đàn đầu Hòa thượng, nhất vị Yết–ma Hòa thượng, nhất vị Giáo–

* Trang 131 *
device

thọ Hòa thượng, thất vị Tôn chứng Xà–lê, tứ vị Dẫn thỉnh sư, tuyên luật sư, truyển trạch thủ vĩ Sa–di nhị vị…”. Nghĩa là: Trước đó một năm, thỉnh chư Tăng các chùa quy ước một ngày hội họp luận nghị về việc mở đại giới đàn tiếp dẫn Tăng chúng hậu học. Chư Tăng đồng tâm hỗ trợ, sau đó, công bố cho chư Tăng các chùa khắp nơi đều biết mà chuẩn bị, chọn năm.. tháng… ngày v.v... Trước đó 3 ngày, kiền thỉnh chư Tăng quang lâm đến chùa đã được định trước, cung thỉnh chư tôn an bài chức sự: một vị Hòa thượng Chủ kỳ, một vị Hòa thượng Đàn đầu, một vị Hòa thượng Yết–ma, một vị Hòa thượng Giáo thọ, bảy vị Xà–lê tôn chứng, bốn vị dẫn lễ, một vị Tuyên luật sư, chọn hai vị Sa–di thủ vĩ…
Qua sự mô tả này, ta thấy việc tổ chức Đại giới đàn đều tuân theo quy củ giới luật Phật chế, đầy đủ Hội đồng Thập sư. Tuy nhiên, theo lời của các vị tôn túc, giới đàn ngày xưa được mở sau khi kết thúc 3 tháng An cư kiết hạ, còn gọi là trường Kỳ hoặc trường Hương. Nghĩa là giới tử phải tập trung trong 3 tháng an cư, theo vị Đàn đầu Hòa thượng học tập oai nghi giới luật sau đó mới chính thức đăng đàn thọ giới.
Trong quá trình tiếp Tăng độ chúng, các vị thiền sư dòng Chúc Thánh thường tổ chức giới đàn để truyền trao y bát, tuyển người kế thừa sự nghiệp hoằng pháp. Đã có nhiều giới đàn khai mở nhưng không có tư liệu ghi lại.
Theo bản Phó chúc của tổ Toàn Định–Bảo Tạng ghi: “Vào tháng 5 năm Mậu Tuất (1838), Hòa thượng Toàn Chiếu–Bảo Ấn có mở giới đàn tại chùa Thiên Ấn và đã thỉnh Ngài vào ngôi vị Yết–ma A–xà–lê”.
Trong Ngũ Hành Sơn Lục, thiền sư Từ Trí ghi: “Vào tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1869), niên hiệu Tự Đức thứ 22, thiền sư Chương Tư–Huệ Quang kiến lập đàn giới tại chùa Phước Lâm, giới đàn này do thiền sư Toàn Nhâm–Quán Thông làm Hòa thượng Đàn đầu”, và giới tử đắc pháp là thiền sư Ấn Bổn–Vĩnh Gia, một Cao tăng cận đại của xứ Quảng.
Năm Quý Tỵ (1893), thiền sư Vĩnh Gia cùng Hòa thượng Ấn Thanh–Chí Thành khai mở Đại giới đàn tại chùa Chúc Thánh (Quảng Nam). Thiền sư Chí Thành được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu và ngài Vĩnh Gia làm Giáo thọ A–xà–lê tại giới

* Trang 132 *
device

đàn này, ngài Chơn Tâm–Pháp Tạng trú trì chùa Phước Sơn, Phú Yên làm Yết–ma A–xà–lê.
Năm Canh Tuất (1910), thiền sư Vĩnh Gia khai giới đàn và làm Hòa thượng Đàn đầu tại chùa Phước Lâm. Giới đàn này đã cung thỉnh thiền sư Ấn Tham–Hoằng Phúc trú trì chùa Thiên Ấn làm Giáo thọ A–xà–lê; các ngài Ấn Kim–Hoằng Tịnh trú trì chùa Phước Quang, Quảng Ngãi làm Đệ ngũ tôn chứng; ngài Ấn Chí–Hoằng Chương trú trì chùa Long Tiên, Quảng Ngãi làm Đệ lục tôn chứng. Giới đàn này quy tụ trên 200 giới tử xuất gia và hàng ngàn giới tử tại gia. Trong đó có một số vị đắc giới và trở thành lương đống trong Phật pháp như các Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Thích Giác Nhiên, (Đệ nhất và Đệ nhị Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất). Về phần tại gia thì có Tuy Lý vương–Miên Trinh, Đô thống Lê Viết Nghiêm cũng như nhiều hoàng thân quốc thích khác thọ giáo với Ngài.
Năm Mậu Thìn (1928), niên hiệu Bảo Đại thứ 4, Hòa thượng Chơn Pháp–Phước Trí khai giới đàn và làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Từ Vân–Đà Nẵng. Giới đàn đã cung thỉnh Hòa thượng Chơn Thông–Pháp Ngữ trú trì chùa Từ Quang, Phú Yên và Hòa thượng Ấn Kim–Hoằng Tịnh trú trì chùa Phước Quang, Quảng Ngãi làm Chứng minh đạo sư. Trong hàng giới tử đắc pháp với Ngài có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những Cao tăng của Phật giáo Việt Nam hiện đại.
Qua các đàn giới mà ngày nay chúng ta còn biết được, phần nào đó tái hiện lại sinh hoạt của cộng đồng Tăng lữ ngày xưa tại Quảng Nam. Điều này thể hiện được mối quan hệ khắng khít của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh thời bấy giờ. Các đàn giới đã đào tạo những thế hệ Tăng lữ kế thừa nên môn phái ngày càng phát triển rộng khắp. Đồng thời, thông qua các giới đàn này, đã nói lên được mối liên hệ của chư Tăng Quảng Nam đối với các tỉnh lân cận như Thừa Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v... Bởi vì, các giới đàn được khai mở tại Quảng Nam đều có sự tham dự của chư Tăng các tỉnh trong Hội đồng Thập sư cũng như giới tử cầu thọ giới. Cũng thế, khi các tỉnh mở giới đàn đều cung thỉnh các thiền sư ở Quảng Nam vào chức Thập sư và chư Tăng Quảng Nam cũng đến các tỉnh khất cầu thọ giới.

* Trang 133 *
device

Ngoài việc lập đàn truyền giới, sự quan hệ của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh được biểu hiện qua các ngày giỗ Tổ, khánh thành chùa, tang lễ v.v... Trong những Phật sự này, chư Tăng tề tựu hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, thể hiện tình pháp lữ đồng môn gắn bó tương thân tương trợ.
3.2. Tổ chức của sơn môn
Những ngày đầu hình thành, môn phái Chúc Thánh chỉ sinh hoạt đơn giản với danh từ Chư tự sơn môn. Lúc đó, sự tổ chức còn sơ sài, ở chùa nào có bậc Cao tăng thạc đức là Tăng chúng trong môn phái quy tụ về theo học. Thông thường, các thiền sư danh tiếng tại Quảng Nam đều trụ tại Phước Lâm. Ngay cả các vị đi các tỉnh khác hoằng hóa cũng đều xuất thân từ Phước Lâm. Tổ đình Phước Lâm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong vấn đề phát triển của môn phái Chúc Thánh.
Qua các sử liệu về đàn giới, ta thấy được vài nét sinh hoạt của chức Tăng Chúc Thánh. Tuy rằng thời bấy giờ phương tiện đi lại còn thô sơ và thông tin liên lạc không có, nhưng trong những Phật sự lớn tại những chùa Tổ đều được các Ngài lo lắng chu đáo. Theo lời của chư tôn đức tại Bình Định thì chùa Linh Sơn, Phù Cát có mối liên hệ chặt chẽ với Tổ đình Chúc Thánh. Những pho tượng La–hán tại chùa Linh Sơn cũng chính là dòng tượng tại chùa Chúc Thánh, Hội An. Trong phần lược sử của chùa Thiên Bình có nói đến ngài Gia Khánh có chuyến đi về Chúc Thánh nhưng không rõ năm nào. Điều đó, càng thấy được mối quan hệ khắng khít giữa chư sơn trong tông môn tại các tỉnh thành.
Cũng trên tinh thần đó, vào thời Gia Long, ngài Toàn Đức–Thiệu Long, trú trì chùa Khánh Sơn, Phú Yên đứng in kinh đã cung thỉnh thiền sư Thiên Trường chùa Sắc tứ Tập Phước, Gia Định chứng minh. Lúc bấy giờ tuy môn phái Chúc Thánh không có một tổ chức xuyên suốt cụ thể nhưng qua một số bản kinh còn lại, chúng ta thấy các Ngài có mối quan hệ chặt chẽ trong những sinh hoạt Phật sự.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, tình hình chính trị đất nước biến chuyển phức tạp. Các giáo sĩ Thiên chúa theo bước chân lính Pháp sang truyền giáo và chủ trương đập chùa làm nhà thờ. Minh chứng cụ thể là chùa Bửu Châu do chúa Tiên–Nguyễn

* Trang 134 *
device

Hoàng lập năm Đinh Mùi (1607) tại Trà Kiệu, nhưng bị người Thiên chúa san bằng để làm nhà thờ Trà Kiệu. Các chùa Kim Chương, Từ Ân, Chưởng Phước v.v... đều bị san bằng không còn dấu vết. Đồng thời, trong giai đoạn này Tăng chúng suy đồi, chỉ chú trọng đến việc ứng phú. Trước tình hình như vậy, chư sơn tại các tỉnh thành đều có tổ chức để chỉnh đốn Tăng–già, chấn hưng đạo pháp.
Tại Quảng Nam, vào năm Tân Dậu (1921), Hòa thượng Ấn Nghiêm–Phổ Thoại đứng ra thành lập Bản tỉnh chư sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng–già, chỉnh đốn Thiền môn đồng thời bảo vệ các chùa trước sự tàn phá của binh lính Pháp. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị sự đầu tiên.
 Cơ cấu của tổ chức Bản tỉnh chư sơn Hội gồm có một Hội trưởng, một Thư ký, mỗi huyện thị có một vị Chánh kiểm tăng và một vị Phó kiểm tăng. Lúc bấy giờ tỉnh Quảng Nam chia làm 9 phủ huyện như sau: Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, Tiên Phước, Hội An.
 Tổ chức Bản tỉnh chư sơn Hội đã bảo vệ được các chùa trước sự tàn phá của lính Pháp cũng như củng cố Tăng–già làm tiền đề cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Tổ chức này chính là tiền thân của Giáo hội Tăng Già về sau.
Tại các tỉnh thành những tổ chức Tăng–già dưới nhiều danh xưng khác nhau cũng ra đời không ngoài mục đích chấn chỉnh thiền gia. Các nơi đều đặt những vị Kiểm tăng để giám sát sự tu học của Tăng chúng. Đây chính là tiền đề cho phong trào chấn hưng Phật giáo sau này.
Vào những thập niên 1980, Hòa thượng Thích Huyền Ấn và Hòa thượng Thích Đỗng Quán tìm về Chúc Thánh để lập lại hệ đồ truyền thừa. Tại Quảng Nam lúc bấy giờ có các Hòa thượng Thích Trí Giác, Thích Trí Nhãn, Thích Long Trí cũng rất quan tâm về vấn đề này. Từ đó, các Ngài có sự liên hệ nối kết nhau để hình thành nên môn phái Lâm Tế Chúc Thánh.
Đến năm Nhâm Thân (1992), nhân dịp khánh thành Bảo tháp Tổ sư Minh Hải, môn phái Chúc Thánh mới được chính thức thành lập. Đây là nhu cầu thiết yếu để duy trì truyền thống và sự phát triển của tông môn. Chư Tăng ni thuộc môn phái khắp các

* Trang 135 *
device

tỉnh thành trong cả nước đều vân tập về Chúc Thánh để tổ chức hội nghị thành lập môn phái. Danh xưng chính thức được gọi là Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh và đặt trụ sở chính tại Tổ đình Chúc Thánh, Hội An. Cơ cấu tổ chức bao gồm 2 Hội đồng: Hội đồng Trưởng lão và Hội đồng Điều hành. Hội đồng Trưởng lão gồm các vị tôn túc tiêu biểu cho giới luật, có nhiệm vụ chứng minh các đại lễ, đàn giới của môn phái. Hội đồng Điều hành có trách nhiệm điều hành mọi công tác Phật sự của môn phái. Đứng đầu môn phái có một vị Trưởng môn phái và nhiều vị Phó trưởng môn phái, Chánh–Phó thư ký và các Ủy viên. Các vị Phó trưởng môn phái là Chi phái trưởng tại các tỉnh thành. Hội nghị cũng đã thông qua bản Nội Quy của môn phái bao gồm 7 chương 16 điều. Đồng thời, trong hội nghị này, môn phái cũng đã quy định 3 năm một lần vào ngày giỗ tổ Minh Hải mồng 7 tháng 11 các năm thuộc chi Dần, Tỵ, Thân, Hợi, Tăng ni các nơi tổ chức “Về nguồn” để họp bàn tổng kết đánh giá những thành tựu, ưu khuyết của môn phái, từ đó, vạch ra chương trình sinh hoạt trong những năm tới. Thông lệ này được thực hiện một cách đều đặn từ ngày đó đến nay.
Xuyên suốt 300 năm truyền thừa trên đất Quảng, thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh hình thành và phát triển theo thời gian. Dần theo năm tháng, với những chuyển biến của dân tộc, môn phái Chúc Thánh có những tổ chức cụ thể để duy trì truyền thống của tông môn. Sự kiện thành lập Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh vào năm Nhâm Thân (1992) là đỉnh cao của tinh thần hòa hợp Phật giáo. Đây là một tổ chức kiện toàn nhất của dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ trước đến nay.

* Trang 136 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh