LOGO VNBET
một trong những cách giáo dục cho thế hệ mai sau. Nhưng tiếc thay, tâm nguyện cuối cùng là hoàn thành kho tàng Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam của Ngài chưa thành tựu thì Ngài đã xả bỏ báo thân về nơi An dưỡng!
IV. SỰ TRUYỀN THỪA CỦA CHƯ NI
Trong sự truyền thừa của chư Ni tại tỉnh Khánh Hòa, có Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Viên trú trì chùa Linh Sơn, Nha Trang có mối liên hệ chặt chẽ với sơn môn Chúc Thánh tại Bình Định. Ni trưởng là đệ tử xuất gia của Hòa thượng Liên Tôn–Thích Huyền Ý. Hòa thượng Huyền Ý trước khi xuất gia đã quy y với Hòa thượng Phổ Huệ tại chùa Tịnh Lâm với pháp danh Trừng Phước. Đến khi xuất gia, Ngài được Hòa thượng Chơn Giám–Trí Hải trú trì chùa Bích Liên cho pháp danh Như Phước, tự Giải Tiềm, hiệu Huyền Ý. Vì thế, khi nhận đệ tử xuất gia, Hòa thượng cho pháp danh theo dòng quy y, tức theo kệ tổ Liễu Quán với chữ TÂM đứng đầu. Khi cho pháp tự thì Ngài lấy tự chữ HẠNH đứng đầu theo bài kệ tổ Minh Hải. Trường hợp Ni trưởng Tâm Đăng cũng vậy, Hòa thượng cho Ni trưởng pháp danh Tâm Đăng, tự là Hạnh Viên. Từ đó, Ni trưởng cho đệ tử xuống pháp tự chữ THÔNG.
Ni trưởng Tâm Đăng–Hạnh Viên–Chơn Như
心 燈 行 圓 眞 如 (1915–2005): Chùa Linh Sơn
Ni trưởng thế danh Bùi Thị Hải, sinh ngày 25 tháng Chạp năm Ất Mão (1915) tại thành nội Huế. Thân phụ là cụ ông Bùi Chương, pháp danh Hồng Huy, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Lan, pháp danh Tâm Đức. Cả gia đình Ni trưởng đều là những Phật tử thuần thành.
Năm Quý Dậu (1933) khi vừa tròn 18 tuổi, Ni trưởng xuất gia và thọ giới Sa–di ni với Hòa thượng thượng Trừng (Như) hạ Phước, hiệu Huyền Ý, tọa chủ chùa Liên Tôn, Bình Định. Được Hòa thượng ban pháp danh Tâm Đăng, tự Hạnh Viên.
Năm Kỹ Mão (1939), Ni trưởng thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Bình Quang ở Phan Thiết do Hòa thượng Tôn Thắng, trú trì chùa Phổ Thiên tại Đà Nẵng làm Hòa thượng Đàn đầu.
Năm Canh Thìn (1940), Ni trưởng được Bổn sư cho phép vào học Phật pháp tại chùa Hội Sơn, Thủ Đức, Sài–gòn.

* Trang 386 *
device



Ni trưởng Tâm Đăng

Mùa An Cư năm Nhâm Ngọ (1942), Ni trưởng tùng Hạ tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng và được thọ giáo với Hòa thượng Tôn Thắng. Tại đây, Ni trưởng được Hòa thượng ban cho pháp hiệu Chơn Như. Sau mùa an cư, Ni trưởng được Hòa thượng Tôn Thắng gởi ra học tại Ni trường Diệu Đức, Huế. Trong thời gian tu học tại đây, Ni trưởng đã phát nguyện chặt ngón út tay phải để cầu cho quốc thái dân an và nhân dân bình yên trong thiên tai bão lụt.
Từ năm 1943–1947, Ni trưởng vân du tham học tại
các Tổ đình danh tiếng từ miền Trung đến miền Nam và có lúc vào tận Sa Đéc tham cầu Phật pháp. Do ý chí cầu học Phật pháp, nên đến nơi nào Ni trưởng cũng được các bậc Danh tăng truyền thọ những tinh hoa của kinh, luật, luận mà quý tôn đức Tăng–già tâm đắc.
Năm Mậu Tý (1948), Ni trưởng mới dừng bước vân du và nhận trú trì chùa Linh Sơn, Vĩnh Nguyên, Nha Trang, Khánh Hòa. Từ đây Ni trưởng bắt đầu thực hiện hoài bão là kiến lập đạo tràng, hoằng dương Chánh pháp.
Năm Tân Mão (1951), Ni trưởng tiếp nhận và thực hiện trùng tu chùa Minh Hương tại Diên Toàn, Diên Khánh, đổi tên chùa Minh Hương thành Minh Phước và trạch cử đệ tử thứ 2 là Ni sư Thông Ấn làm trú trì để đảm đương Phật sự tại đây.
Năm Giáp Ngọ (1954), Ni trưởng khởi công trùng tu chùa Linh Sơn, Vĩnh Nguyên lần thứ nhất.
Năm Nhâm Dần (1962), Ni trưởng kiến lập tịnh thất Linh Sơn tại đồi núi Cầu Đá để hàng năm nhập thất Kết đông, cũng vào năm này Ni trưởng được bầu làm Chánh thư ký Ban kiến thiết

* Trang 387 *
device

sáng lập Ni viện Diệu Quang.
Năm Quý Mão (1963), Ni trưởng tích cực tham gia cuộc tranh đấu bất bạo động chống chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm. Ni trưởng đã phát nguyện thiêu thân để bảo vệ Chánh pháp nhưng mẹ già và huynh đệ khuyên can, do đó Ni trưởng phát nguyện chặt tiếp ngón tay áp út để cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn.
Năm Giáp Thìn (1964), do việc phát nguyện thiêu thân vì đạo pháp vào năm Pháp nạn 1963 không toại, Ni trưởng lại phát nguyện chích lưỡi lấy máu để viết Tâm Kinh Bát–nhãPhẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa tại chùa Hoa Nghiêm, Sài–gòn. Cũng vào năm này, Ni trưởng kiến lập chùa Tịnh Đức tại đồi Trại Thủy, Mã Vòng, Nha Trang làm nơi cư trú cho Ni chúng đang theo học Văn hóa tại các trường Trung học Bồ Đề, Nữ Trung học Nha Trang… và trạch cử trưởng tử là Ni sư Thông Huyền (Thông Thoại) làm trú trì.
Năm Bính Ngọ (1966), Ni trưởng làm Ủy viên Ni bộ Bắc tông kiêm Trưởng ban Ni bộ Bắc tông GHPGVNTN tỉnh Khánh Hòa.
Năm Mậu Thân (1968), Ni trưởng khởi công trùng tu bảo điện chùa Linh Sơn và xây dựng trường Trung–Tiểu học Bồ Đề Linh Sơn, đồng thời mở Cô–Ký Nhi viện tại chùa Linh Sơn. Vào năm này, Ni trưởng làm Đệ nhị tôn chứng Ni tại Đại giới đàn Phước Huệ tổ chức tại chùa Hải Đức, tại Ni viện Diệu Quang, Nha Trang truyền giới cho giới tử Ni.
Năm Nhâm Tý (1972), trước cảnh chiến tranh tàn khốc tại Cổ thành Quảng Trị, Ni trưởng quá đau lòng nhưng chẳng biết làm sao nên phát nguyện chặt ngón út tay trái để cúng dường cầu nguyện cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc.
Ngày 19 tháng 2 năm Quý Sửu (1973), Ni trưởng được thỉnh làm Giáo thọ A–xà–lê truyền giới Sa–di ni tại Tiểu giới đàn chùa Linh Phong, Đà Lạt. Cũng vào năm này (ngày 19 tháng 9 năm Quý Sửu), Ni trưởng được thỉnh làm Phó ban Kiến đàn tại Đại giới đàn Phước Huệ, Phật học viện Hải Đức, Nha Trang. Tại đàn giới chùa Linh Sơn, Ni trưởng làm Đệ nhất tôn chứng Ni tại Đại giới đàn này.

* Trang 388 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh