LOGO VNBET
PHẦN KẾT LUẬN
 
“Chim bay không cầm bóng
Nước trôi chẳng giữ màu
Phất phơ vài lá trúc
Như gió thoảng vườn sau”.
Từ trước đến nay, chư vị Tổ sư như cánh nhạn lưng trời, đến đi không lưu lại dấu vết. Xét về phương diện Chân đế, các Ngài đã thấu rõ thật tướng các pháp không sanh, không diệt, không đến, không đi; đã không có đến đi thì làm gì có cái để lưu lại. Tuy nhiên, đứng về mặt Tục đế, chúng ta còn thấy có sanh, có diệt, có đến, có đi và vẫn còn có vết dấu để lưu lại cho hậu thế nương theo. Chính vì lẽ đó, việc ghi chép lại lịch sử của tông môn cũng là điều thiết yếu để mỗi chúng ta tường tận nguồn mạch tâm linh của mình.
Trong quá trình tìm tòi các nguồn sử liệu ghi lại những mật hạnh, công hạnh và cuộc đời các Ngài, chúng ta có những kết luận ban đầu dưới đây:
– Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo là một trong những vị thiền sư lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Trải qua bao biến thiên của lịch sử Dân tộc, cho đến nay sử liệu trong tông môn chúng ta không lưu lại được gì nhiều về pháp ngữ của Ngài ngoại trừ bài kệ truyền pháp. Thế nhưng, qua pháp kệ truyền thừa, chúng ta thấy được sở tu, sở ngộ của Ngài. Đặc biệt, sự truyền thừa sâu rộng của các thế hệ đệ tử, đồ tôn trong tông môn đã minh chứng phước đức của Ngài bao trùm tất cả, vượt thoát không gian và thời gian.
- Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh là một trong những dòng thiền thuần chất Việt Nam. Tuy rằng Tổ khai tông là người Trung Hoa nhưng qua bài kệ của Tổ, ta thấy Ngài vẫn có nỗi ưu tư đối với quốc vận Việt Nam. Giai đoạn các Tổ qua Việt Nam là lúc nền chính sự của Đàng Trong rất thịnh trị, các chúa Nguyễn nhiệt tình hộ trì Phật pháp, vì thế Việt Nam đã trở thành quê hương của các Ngài. Lại nữa, kế thừa tổ Minh Hải–Pháp Bảo là thiền sư Thiệt Dinh–Ân Triêm, Ngài là người Việt đầu tiên đắc

* Trang 545 *
device

pháp với Tổ. Theo phổ hệ truyền thừa, Tổ sư Minh Hải có trên 10 vị đệ tử truyền pháp nhưng trong đó xuất sắc và nổi bậc hơn cả là thiền sư Ân Triêm, cũng từ tổ Ân Triêm, dòng thiền Chúc Thánh lan rộng khắp khác tỉnh thành. Cho đến nay, theo sự tìm hiểu được của chúng tôi, đa phần các chi nhánh của thiền phái Chúc Thánh đa phần đều xuất phát từ hệ của ngài Thiệt Dinh–Ân Triêm. Như vậy, sự truyền thừa của dòng Lâm Tế Chúc Thánh mang tính chất thuần Việt chứ không mang nặng sắc thái Trung Hoa như một số các nhà nghiên cứu lịch sử đã ngộ nhận.
- Đặc tính của các vị Tổ sư dòng thiền Chúc Thánh là luôn sống cuộc đời ẩn dật ở những nơi núi rừng tịch mịch. Vì thế, phần lớn những ngôi Tổ đình của dòng thiền Chúc Thánh luôn nằm ở những nơi hẻo lánh, ít người lui tới. Các Ngài không màng danh lợi, không màng sự tôn xưng của các bậc đế vương khanh tướng, không màng sự phụng dưỡng của các đại thí chủ nên thường lập đạo tràng ở nơi núi rừng hẻo lánh. Các Ngài chỉ lấy đời sống phạm hạnh, thiểu dục theo chủ trương của Tổ Quy Sơn “Bất tác bất thực” để nuôi dưỡng giới thân huệ mạng. Bởi vậy, trong dân gian vẫn còn lưu truyền những câu nói rất bình dân, đời thường mà qua đó ta thấy rõ đặc tính “Nông thiền” của các chùa tổ này. Chẳng hạn ở Hội An, chùa Chúc Thánh dân gian gọi là chùa Lúa; chùa Phước Lâm được gọi là chùa Khoai, chùa Vạn Đức được gọi là chùa Cây Cau(83) v.v...Tại Bình Định, đặc tính nông thiền của một số ngôi chùa Tổ cũng được đặt thành vần như “Phổ Bảo nhiều bánh, Hưng Khánh nhiều nhang, Phổ Quang nhiều lúa”. Qua những câu ví von bình dân này, chúng ta thấy rõ nét hơn cuộc sống đạm bạc tri túc của các bậc Tổ sư dòng Chúc Thánh. Như tổ Ấn Bổn–Vĩnh Gia, Ngài là một trong những thiền sư lỗi lạc dưới triều Nguyễn, thường xuyên được triều đình mời ra kinh đô thuyết pháp và giảng kinh luật cho chư Tăng. Với uy tín ấy, Ngài có thể ở lại kinh đô Thuận Hóa đảm nhận chức Tăng cang một ngôi Quốc tự để hành đạo và phát triển tông môn, nhưng Ngài không làm như vậy. Sau những lần lai kinh hành đạo, Ngài trở về lại chốn tổ Phước Lâm
 

(83) Chùa sở dĩ được gọi là Chùa Cây Cau vì trước sân chùa có một cây cau rất cao mà người đi ngoài biển có thể nhìn thấy. Cây cau không phải là cây nông nghiệp, nhưng nó lại rất gần gũi trong đời sống tình cảm của người Việt chúng ta.
 

* Trang 546 *
device

sống đời thanh bần bên cạnh đệ tử. Có những vị mệnh phụ phu nhân muốn được giặt cho Ngài một bộ đồ để cầu tăng trưởng phước đức nhưng không bao giờ được toại nguyện. Dù hôm nay, với sự phát triển của đô thị, các ngôi chùa Tổ không còn vẻ phong quang tĩnh mịch như xưa, nhưng những ai một lần đến với các chùa tổ Từ Quang, Phước Sơn, Triều Tôn, Khánh Sơn ở Phú Yên, Thắng Quang ở Bình Định mới thấy được sự hoang sơ của những ngày đầu chư Tổ trác tích khai sơn hoằng hóa.
– Trong giai đoạn Đàng Ngoài–Đàng Trong, các Tổ sư dòng Chúc Thánh phát triển sâu rộng vào miền Nam Việt Nam. Điều này cũng thật dễ hiểu, bởi tại kinh đô Thuận Hóa trở ra Thăng Long đã có một bề dày lịch sử phát triển của Phật giáo. Các thiền phái có mặt từ thời Lý–Trần với hàng ngàn tự viện, với những bậc cao Tăng dày công giáo hóa nên ân pháp vũ đã thấm nhuần khắp nơi, đời sống tinh thần của người dân ổn định. Riêng từ Quảng Nam trở vào đến Nam bộ, những nơi này đa phần là vùng đất mới khai hoang và dân chúng là những người di cư từ miền ngoài vào, đời sống tinh thần và vật chất chưa mấy ổn định. Chính vì lẽ đó mà các Thiền sư từ những Tổ đình Chúc Thánh, Phước Lâm theo bước chân đoàn người Nam tiến trong thuở ban sơ đến các địa phương lập chùa hoằng pháp và ngôi chùa đã trở thành điểm hội tụ gặp gỡ của những người con xa xứ. Trong những lúc khắc khoải nhớ quê hương, người dân lại đến chùa, gặp vị sư cùng cố hương, trao đổi một vài tâm sự thì thấy lòng ấm áp hẳn lên và vững tin hơn trong cuộc sống hiện tại. Sự bao dung, chan hòa cởi mở trong giao tiếp, thật thà chân chất trong cách ứng xử của các vị thiền sư xứ Quảng đã nhanh chóng đi vào tâm khảm của người dân. Từ đó, tông môn phát triển và đạo pháp ngày càng huy hoàng.
- Ngoài việc phát triển tông môn, trong những lúc đạo pháp lâm nguy các Ngài lại tích cực bảo vệ. Có người cho rằng, Phật pháp xưa nay vốn hiện hữu, làm gì có sanh, diệt, thịnh, suy mà các thầy phải tranh đấu bảo vệ v.v... Lối lập luận này cũng đúng, nhưng đúng với những ai nhập vào dòng Thánh, thể nhập vào sự vi diệu của chánh pháp. Tuy nhiên, đứng về mặt hiện tướng, chúng ta cần phải có kinh điển, cần phải có chùa chiền, có chư Tăng để hoằng truyền chánh pháp. Vì lẽ đó, trong những khi

* Trang 547 *
device

Phật giáo bị pháp nạn, tất cả chư Tăng đều phải cùng nhau bảo vệ chánh pháp, bằng chứng là trong vụ Ngô triều đàn áp Phật giáo năm 1963.
Có lẽ lịch sử Phật giáo không thể quên được những tháng ngày bi hùng tang tóc dưới sự đàn áp khốc liệt của chế độ Ngô Đình Diệm. Một tôn giáo gắn liền với sự thịnh suy của Dân tộc trên 2000 năm bị gán ghép như một hiệp hội. Không những thế, chùa chiền bị phong tỏa, sư Tăng bị ngược đãi, tín đồ bị hạch sách sỉ nhục v.v... Đó là nguyên nhân đưa đến cuộc tranh đấu đòi tự do tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam. Tất cả các hệ phái, tông môn từ Quảng Trị trở vào đều hợp thành Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, trong đó sự góp mặt của chư Tăng dòng Chúc Thánh chiếm số lượng không nhỏ. Trong pháp nạn này, có một hình ảnh thiêng liêng đã đi vào lịch sử và thi ca dân tộc, đó là hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức ngồi an nhiên trong ngọn lửa đỏ để bảo vệ chánh pháp. Đặc biệt hơn nữa, quả tim của Ngài không cháy sau khi được hỏa thiêu dưới sức nóng của 10000C.
Hòa thượng Quảng Đức pháp danh Thị Thủy, tự Hành Pháp, truyền thừa đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Ngài xuất thân từ chùa Long Sơn ở Vạn Ninh, Khánh Hòa và vào hoằng pháp khắp các tỉnh miền Nam. Đứng trước pháp nạn 1963, Ngài đã phát nguyện thiêu thân cúng dường chư Phật và cầu nguyện cho đạo pháp sớm quang huy. Trái tim của Ngài bất diệt đã nói lên pháp hành của chư Tổ từ trước đến nay vẫn được gìn giữ kế thừa không gián đoạn. Sự hy sinh của Ngài đã làm cho Đạo pháp sớm hồi sinh. Vì vậy, tất cả Tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam tôn xưng Ngài là hiện thân của Bồ tát.
- Với ý chỉ “lấy giới luật làm gốc”, Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo đã khẩn khoản nhắc lại lời dặn dò tha thiết của Đức Thế Tôn: “Sau khi ta diệt độ, các con hãy lấy giới luật làm Thầy…”. Bởi vậy, trong các thế hệ kế thừa, chúng ta gặp không ít các vị hành trì giới luật rất tiêu biểu, đặc trưng. Lịch sử của chư Tổ thì chúng ta không có tư liệu nhiều, nhưng cận đại đây, trong dòng Chúc Thánh có những vị tiêu biểu về sự hành trì giới luật mà Tăng ni đều kính ngưỡng. Đó là Hòa thượng Thích Phước Hộ, trú trì chùa Từ Quang, Phú Yên; Hòa thượng Thích Hành Trụ, trú trì chùa

* Trang 548 *
device

Đông Hưng, Sài–gòn; Hòa thượng Thích Đỗng Minh, chùa Long Sơn, Nha Trang. Cả ba vị Hòa thượng đều có pháp danh chữ THỊ và thuộc đời 42 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Suốt một đời hành trì và xiển dương giới luật của cả 3 vị Hòa thượng là những tấm gương sáng trì giới cho các thế hệ Tăng chúng noi theo. Đặc biệt, tư thế nằm Cát tường trong khi viên tịch của Hòa thượng Thích Đỗng Minh là một bài pháp sống động, minh chứng cụ thể nói lên được sự an lạc tuyệt đối cho những ai sống khép mình trong giới luật.
– “Hộ quốc an dân” là lập trường quan điểm hành đạo của Tăng già Việt Nam từ trước đến nay. Điều này càng được khẳng định hơn nữa qua bài pháp kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo “Chúc Thánh thọ thiên cửu, Kỳ quốc tộ địa trường”. Vì thế, Tăng nhân dòng Chúc Thánh luôn luôn đi đúng tinh thần chỉ dạy của Tổ khai tông. “Động vi binh, tịnh vi Tăng” là câu nói của các bậc cổ đức thường nhắc nhở hậu lai.
Thật vậy, khi đất nước lâm nguy, dân tộc bị đô hộ thì bản thân người Tăng sĩ không thể làm ngơ trước thực trạng của đất nước và dân tộc. Lúc đó các Ngài cũng phải tùy duyên trong tinh thần Bồ tát đạo để bảo vệ đất nước. Đất nước có thanh bình, dân tộc có tự chủ thì đạo pháp mới quang huy.
Đời thứ 3 của dòng Chúc Thánh có thiền sư Pháp Kiêm–Minh Giác là bậc Cao tăng thạc đức thực hành hạnh nguyện này. Ngài xuất gia ở Phước Lâm 10 năm, sau về nhà thăm quê gặp giặc Đá Vách quấy phá, Ngài tòng quân dẹp giặc làm đến chức Chỉ huy. Khi chiến tranh kết thúc, Ngài về Hội An quét chợ 20 năm. Đến lúc đạo quả viên thành, Ngài về lại Phước Lâm trùng tu chốn tổ. Hành trạng của Tổ sư Minh Giác quả thật là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Kế đến thời Cần Vương, cuộc khởi nghĩa do nhà sư Võ Trứ lãnh đạo chống triều Nguyễn và chính phủ bảo hộ Pháp có sự tham gia của chư Tăng hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Cuộc khởi nghĩa này được lịch sử nhà Nguyễn gọi là “Giặc thầy chùa”. Danh từ Giặc được triều đình và chính quyền bảo hộ gán cho. Nhưng với đại đa số nhân dân, họ là những vị thần Tăng vung tích trượng để bảo vệ sơn hà, bảo bọc chở che cho những mảnh đời bị ức hiếp, bóc lột.

* Trang 549 *
device

Đến phong trào Duy Tân, chùa Cổ Lâm ở Quảng Nam lại là trọng điểm của những cuộc hội họp bàn bạc. Chí sĩ Trần Cao Vân trong những năm hoạt động đã tu tập ở đây với pháp danh Như Ý. Vụ án “Trung Thiên Dịch, Trung Thiên Đạo” xảy ra đối với Trần Cao Vân trong lúc ông đang ở Cổ Lâm. Vì thế, chùa Cổ Lâm luôn bị quan lại Nam triều và mật thám Pháp dò xét. Tuy bị hạch sách, khủng bố mọi bề, nhưng chư Tăng tại Cổ Lâm nói riêng và Quảng Nam nói chung đã âm thầm chở che cho Chí sĩ họ Trần trong công cuộc phục quốc. Thiền sư Vĩnh Gia cũng đã nhiều lần cố vấn cho Chí sĩ Trần Cao Vân trong phong trào khởi nghĩa Duy Tân.
Trong thời kỳ 9 năm kháng Pháp, chư Tăng các tỉnh Nam–Ngãi–Bình–Phú tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Huyền Quang trong mặt trận Phật giáo Cứu quốc Liên khu V. Tổ chức này góp phần không nhỏ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thời bấy giờ.
Tóm lại, qua mỗi thời kỳ lịch sử của Dân tộc, khi nào đất nước lâm nguy thì lúc đó chúng ta thấy có hình bóng chư Tăng xuất hiện. Các Ngài nhập thế tích cực để đem lại sự an vui cho Dân tộc. Khi đại cuộc hoàn thành, các Ngài trở về lại chùa xưa vui với câu kinh tiếng kệ, không màng lợi danh của thế tục phù phiếm. Đó mới đích thực là tinh thần Hộ quốc an dân mà Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo khẳng định trong bài kệ của mình.
Trong 300 năm phát triển, các thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh đóng góp rất lớn trong lãnh vực phát triển văn hóa Phật giáo và Dân tộc. Đặc biệt, thiền sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm và Toàn Nhật–Quang Đài là những tác gia lớn của nền văn học Phật giáo nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Thiền sư Diệu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh. Ngài vốn làm quan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát và sau đó xuất gia với tổ Ân Triêm tại Phước Lâm. Suốt một đời, Ngài hành đạo khắp các tỉnh miền Trung. Đạo hạnh và học vấn của Ngài ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều thế hệ Tăng sĩ sau này. Ngài đã chú giải, trước tác trên 20 tác phẩm về kinh, luật, luận rất có giá trị như: Tam bảo biện hoặc luận, Hoằng giới đại học chi thư, Tam giáo pháp số v.v...

* Trang 550 *
device

Nhận xét về vai trò của thiền sư Diệu Nghiêm, Hòa thượng Khánh Anh đã ghi nhận như sau: “Nay xin nói xét lại, đối với Tăng sử, các Tổ trong Phật học ở nước nhà; về đạo đức và tu chứng thì còn thấy hoặc nghe được đôi ba vị ở Bắc, Trung, Nam từ xưa; chứ riêng thêm về Nho học, Phật học đều được uyên thâm thì chắc chưa có vị nào hơn và bằng tổ Pháp Chuyên, vì còn những thành tích rất vẻ vang trên các kinh sách đã lưu thông và khẩu bí truyền tụng đều vang dội từ Trung ra Bắc vào Nam Việt”(84). Đồng thời, Giáo sư Lê Mạnh Thát cũng có nhận định: “Thiền sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm (1726–1798) là một tác gia lớn của nền văn học thế kỷ XVIII. Những gì do ông sáng tác và biên tập, cho đến nay đã phát hiện đến những 20 công trình, trong đó quan trọng và lôi cuốn nhất là Tam Bảo Biện Hoặc Luận. Đây là một tác phẩm ghi lại cuộc đấu tranh gay gắt về mặt tư tưởng giữa ý thức Tống Nho suy tàn và hệ tư tưởng Phật giáo đang lên”(85).
Qua hai lời nhận xét trên, chúng ta có thể thấy được những đóng góp rất lớn của thiền sư Pháp Chuyên–Diệu Nghiêm cho nền văn học của nước nhà.
Sau Hòa thượng Diệu Nghiêm là thiền sư Toàn Nhật–Quang Đài. Ngài vốn là mưu sĩ của Tây Sơn, sau đó xuất gia theo thiền sư Diệu Nghiêm học đạo. Sự nghiệp văn học của ngài Toàn Nhật cũng có thể sánh với Bổn sư của mình. Đặc biệt, ngài Toàn Nhật chỉ chuyên sáng tác thơ văn cũng như bình giảng kinh điển bằng chữ Nôm. Điều này đã nói lên được tinh thần tự hào Dân tộc của Toàn Nhật thiền sư. Những tác phẩm: Hứa sử truyện vãn; Tham thiền vãn v.v... là những áng văn thơ chữ Nôm trác tuyệt, làm giàu thêm cho kho tàng Hán Nôm dân tộc: “Toàn Nhật là một trong những nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam”(86).
 

(84) Phật tử Khánh Anh, Khánh Anh Văn Sao, phần “Trích dịch”, nhà in Thanh Mau,1952, tr 57-58.
(85) Lê Mạnh Thát, Nguyệt san Giác Ngộ 83, tr 25.
(86) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Toàn Nhật Quang Đài, tập 1, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2005, tr 10.
 

* Trang 551 *
device

Đến thời cận đại, trong dòng Chúc Thánh còn có một số vị phiên dịch kinh điển như Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Bích Liên–Trí Hải, Liên Tôn–Huyền Ý v.v... Đặc biệt là Hòa thượng Trí Hải trong cương vị chủ bút Tạp chí Từ Bi Âm đã góp phần rất lớn vào công cuộc chấn hưng Phật giáo. Ngài phiên dịch khoa nghi thỉnh Thập loại Cô hồn từ Hán văn ra Việt văn vô cùng súc tích khiến người đọc, người nghe phải mủi lòng trước những vong linh vô mồ, không nơi tế tự.
Từ chốn tổ Chúc Thánh, chư Tăng đi khắp nơi để hoằng hóa. Tính đến nay đã có hàng ngàn tự viện trong nước và hải ngoại là con cháu truyền thừa của tông môn Chúc Thánh. Tùy theo điều kiện mỗi vùng, tùy theo đặc tính văn hóa mỗi miền mà việc kiến tạo tự viện có phần khác nhau, góp phần đa dạng cho nền văn hóa Phật giáo và Dân tộc.
Nghi lễ là một trong những phương tiện đưa đạo vào đời một cách thiết thực. Trong những năm tháng đầu của công cuộc Nam tiến hay những tháng ngày loạn ly tan tác của Dân tộc, các vị thiền sư với những lễ nghi qua hình thức cầu an, cầu siêu đã an ủi rất nhiều đối với quảng đại quần chúng nhân dân. Tùy theo âm hưởng mỗi vùng mà có cách thức hành lễ tán tụng khác nhau. Từ đó, các lễ nghi cúng Phật, cúng Tổ, cúng Giác linh, cúng linh, cúng chẩn tế cô hồn v.v...được chư Tổ tập thành từ những kinh điển hoặc điển tích nhà thiền. Đặc biệt, cận đại đây, Hòa thượng Huyền Quang đã phiên dịch các nghi thức từ Hán văn sang Việt văn, đồng thời sáng tác các nghi thức cúng Phật, cúng chư Hòa thượng v.v... góp phần làm phong phú cho Nghi lễ nói riêng và văn hóa Phật giáo nói chung.
Trải qua 3 thế kỷ song hành cùng với Dân tộc, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đóng góp rất nhiều trong các lãnh vực văn hóa xã hội. Âm hưởng ngôi chùa với tiếng chuông hai thời sớm tối, hình ảnh chư Tăng dưới nhiều hình thức khác nhau: đang cử hành pháp sự, đang thăng tòa thuyết pháp, đang chẩn mạch bốc thuốc, đang cuốc đất ngoài đồng, đang quét dọn chợ chiều v.v...đều là những bài pháp vô giá, duy trì nền tảng của đạo đức xã hội và giữ gìn truyền thống thiền môn.
Kể từ đời Tổ sư Minh Hải đến nay, dòng thiền Chúc Thánh đã

* Trang 552 *
device

truyền xuống được 12 đời, nghĩa là đến chữ Thánh, có nơi xuống tới chữ Thọ. Trong thời gian đầu, đa phần chư Tăng đều truyền theo pháp kệ của Tổ. Tuy nhiên, trong những thập niên giữa thế kỷ XX đến nay thì có một số chư Tăng cho pháp danh lệch với bài kệ hoặc không truyền theo bài kệ của Tổ, tạo nên sự xáo trộn trong việc truyền thừa của tông môn.
Trong các chương III và IV, chúng tôi đã trình bày những nguyên nhân không cho theo bài kệ của Tổ cũng như cho trại chữ trong bài kệ đặt pháp danh của một số chư tôn đức. Hiện nay có một số vị lại bác bỏ việc đặt pháp danh theo bài kệ vì cho rằng làm như vậy sẽ gây chia rẽ trong nội bộ Phật giáo do có sự phân biệt trong các môn phái. Hoặc cũng có vị có ý đổi một số chữ trong bài kệ của Tổ như chữ “Thiên, Địa” v.v... viện lẽ khó đặt pháp danh. Các vị là những bậc tôn túc với đầy đủ học vị nên chúng tôi không dám luận bàn việc làm ấy, suy nghĩ ấy đúng hay là sai. Tuy nhiên, với tính cách là một người nghiên cứu lịch sử chư Tổ chúng tôi có quyền nói lên cảm nhận của mình để duy trì truyền thống tông môn.
Từ xưa đến nay, các vị Tổ sư khai tông lập giáo đều có sở ngộ, sở tu của mình. Sự xuất kệ truyền thừa là một trong những điểm đặc thù của lịch sử thiền tông. Qua việc đặt pháp danh theo bài kệ của từng dòng thiền giúp cho chúng ta dễ dàng nhận biết vị thiền sư đó thuộc đời thứ mấy và truyền theo dòng phái nào. Từ đó, các thế hệ về sau thuận lợi hơn trong việc tìm về nguồn cội tông môn pháp phái.
Lẽ dĩ nhiên, là người xuất gia ai cũng là đệ tử Phật cả. Nhưng nếu không có chư Tổ hoằng truyền thì chúng ta làm sao biết Phật ở đâu mà tìm, pháp ở đâu mà tu. Vì thế, mỗi Tăng sĩ cần phải biết rõ nguồn cội thầy tổ mình xuất thân từ đâu, truyền thừa theo thiền phái nào và tu theo pháp môn gì v.v...Từ đó, chúng ta mới có niềm tự hào để vững tiến trên con đường và lý tưởng của mình đã chọn.
Trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo, một số chư tôn đức đã chủ trương không truyền theo một bài kệ nào, không còn trao truyền bản Chánh pháp nhãn tạng, bỏ đi một số nghi thức cổ xưa của thiền môn v.v...Trong bối cảnh xã hội thời bấy giờ, các Ngài cũng

 

* Trang 553 *
device

có những khúc mắc nên có những quan điểm như vậy. Tuy nhiên, việc cách tân này sẽ đưa đến hệ quả là một vài thế hệ nữa sẽ không biết đến sự truyền thừa của mình bắt nguồn từ đâu. Như vậy cũng là điều hụt hẫng đối với đàn hậu học khi muốn tìm về lịch sử của tông môn.
Theo thiển ý của chúng tôi, không nên đặt pháp danh ra ngoài bài kệ của Tổ hay thay đổi một số chữ, vì làm như vậy, chúng ta sẽ đánh mất đi truyền thống bao đời nay. Nếu làm như vậy, vô tình chúng ta đã chối bỏ nguồn cội tâm linh của mình. Chúng ta không thể lấy tri thức thế gian mà đem đi bình phẩm sở ngộ, sở chứng của chư Tổ. Nếu ngày hôm nay, chúng ta chối bỏ những gì của tiền nhân gây tạo, thì chắc chắn trong tương lai đàn hậu học sẽ chối bỏ chúng ta. Đây là quy luật tất yếu của cuộc sống.
Nên chăng, có một việc cấp thiết mà trong tông môn cần phải làm, đó là nên có một bài Tục Kệ để kế tiếp cho bài kệ truyền thừa của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo. Bởi lẽ, cho đến thời điểm này (2008) sự truyền thừa của tông Lâm Tế Chúc Thánh có nơi đã xuống đến chữ THỌ. Như vậy, chỉ còn lại 7 chữ nữa là hết bài kệ truyền pháp danh, pháp tự. Việc Tục Kệ là một việc quan trọng cần phải làm để truyền thống tông môn được tiếp nối. Hiện tại chư vị tôn đức đạo lực uyên thâm vẫn còn khắp các tỉnh thành nên hợp nhất để làm bài Tục Kệ kế thừa. Và bài Tục Kệ này phải được tông môn khắp các nơi công nhận để lưu truyền. Bởi vì, càng ngày chúng ta càng đi xa thời tượng pháp, căn trí và đạo lực không thể bằng người xưa, khó mà thâm ngộ được ý Tổ sư. Thiết nghĩ việc Tục Kệ từ trước đến nay chư Tổ đã làm(87) và hôm nay chư vị tôn đức nên làm, trước là kế thừa sự nghiệp chư Tổ để nguồn mạch không đoạn dứt, sau là định hướng cho các lớp hậu lai, ngõ hầu việc truyền thừa theo đúng thứ hệ và con cháu sau này tỏ rõ nguồn cội của Tổ tông.
 

(87) Việc tục kệ này tổ Ngộ Thiệu-Minh Lý, trú trì chùa Thập Tháp, Bình Định đã làm. Ngài Ngộ Thiệu-Minh Lý nối pháp đời 38 dòng Lâm Tế Nguyên Thiều. Lúc đó, chỉ còn 2 chữ CHƠN và KHÔNG nữa là hết bài kệ từ Trung Quốc sang. Vì thế, Ngài có bài Tục Kệ kế tiếp: NHƯ NHẬT QUANG THƯỜNG CHIẾU v.v… Bài Tục Kệ này được chư tôn đức trong pháp phái Nguyên Thiều khắp các tỉnh thành công nhận và áp dụng vào việc đặt pháp danh truyền thừa.
 

* Trang 554 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh