LOGO VNBET
TIẾT 5
THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
TẠI CÁC TỈNH CAO NGUYÊN
 
Các tỉnh Cao Nguyên bao gồm: Lâm Đồng, Daklak, Daknong, Gia Lai và Kontum được thành lập vào những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Từ đó, dòng người từ các tỉnh miền Trung vào định cư ở vùng đất mới này ngày một đông. Theo dòng người ấy, chư Tăng cũng có mặt để hoằng truyền chánh pháp, cùng chung cộng khổ với nhân dân từ thời chinh chiến cho đến ngày thái bình.
I. TỈNH LÂM ĐỒNG

                                                    Chùa Linh Phước – Đà Lạt
Vào năm Tân Dậu (1921), Hòa thượng Nhơn Thứ từ tỉnh Khánh Hòa lên khai sơn chùa Linh Quang tại thành phố Đà Lạt. Đây là ngôi Tổ đình đầu tiên đánh dấu sự có mặt của Phật giáo tại xứ sở sương mù này. Từ đó, chư Tăng các nơi kế tục đến đây hoằng hóa.

* Trang 508 *
device


                                                                             Tu viện Bát Nhã – Bảo Lộc
 
Tại tỉnh Lâm Đồng, chư Tăng thuộc dòng Chúc Thánh có mặt đầu tiên là Hòa thượng Thích Minh Đức. Năm 1960, Hòa thượng được Tổng hội Phật giáo Trung phần cử làm trú trì chùa Linh Phước, Trại Mát. Từ đó, Hòa thượng dày công trùng tu và khai sơn các chùa như: chùa Linh Thứu (Chi Lăng, Đà Lạt); chùa Quan Âm (Khe Sanh, Đà Lạt) v.v...Tiếp theo, có các vị Hòa thượng như Hòa thượng Thích Thiện Phước, trú trì chùa Bửu Sơn; Hòa thượng Thích Tâm Thanh, khai sơn Vĩnh Minh tự viện v.v... Gần đây, có các vị như: Thượng tọa Thích Tâm Mãn(76) khai sơn chùa Sư Tử Hống, Đại Ninh; Thượng tọa Thích An Túc(77) khai sơn chùa An Sơn, Bồng Lai, Đức Trọng; Thượng tọa Thích Đức Nghi(78) khai sơn các chùa An
 

(76) Thượng tọa Thích Tâm Mãn, tự Hạnh Toàn, là trưởng tử cố Hòa thượng Như Bình-Giải An-Huyền Tịnh tại chùa Từ Quang, Quảng Ngãi.
(77) Thượng tọa Thích An Túc pháp danh Thị Thọ, tự Trí Hạnh. Thượng tọa xuất gia năm 1957 với ngài Như Ngân-Giải Lương-An Minh tại chùa An Phước, Châu Sa, Bình Sơn. Thượng tọa thọ Sa-di năm 1959 tại chùa Nghĩa Phương với pháp tự Trí Hạnh, thọ Tỳ-kheo năm 1964 được Hòa thượng Thích Trí Hưng phú pháp hiệu An Túc.
(78) Thượng tọa Thích Đức Nghi pháp danh Thị Can, sinh quán tại Tam Quan, Bình Định. Thuở nhỏ, Thượng tọa quy y với Hòa thượng Như Thông-Giải Minh-Huyền Ngộ trú trì Tổ đình Thắng Quang, Hoài Nhơn, Bình Định. Về sau, Thượng tọa xuất gia với Hòa thượng Thiện Thành tại chùa Giác Sanh, Sài-gòn. Tuy nhiên,
 

* Trang 509 *
device

Lạc, Bát Nhã tại thị xã Bảo Lộc; chùa Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Phổ Hiền ở huyện Bảo Lâm; Thượng tọa Thích Thanh Thế(79) khai sơn chùa Thánh Đức ở Đức Trọng v.v...
Từ đó, sự truyền thừa của chư Tăng ngày càng sâu rộng. Một số chùa và các vị tôn túc tiêu biểu như sau:
1. Sự truyền thừa của chư Tăng
1.1. Hòa thượng Chơn Trung–Đạo Thứ–Minh Đức
眞 忠 道 恕 明 德 (1902–1985): Chùa Linh Phước

 
Hòa thượng Minh Đức
Chùa Linh Phước được Tổng hội Phật giáo Trung phần xây dựng năm 1949 tại Trại Mát, Đà Lạt. Trải qua các đời trú trì: Hòa thượng Thích Minh Thể, Hòa thượng Thích An Hòa, Hòa thượng Thích Quảng Phát và kế đến là Hòa thượng Thích Minh Đức. Năm 1960, Hòa thượng Thích Minh Đức được cử làm trú trì.
Hòa thượng Thích Minh Đức thế danh Nguyễn Khắc Dần, sinh năm Nhâm Dần (1902) tại làng Hiệp Phổ, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Khắc Côn pháp danh Chơn Đạt và thân mẫu là cụ bà Phan Thị Lễ pháp danh Chơn Nghĩa.
Năm 17 tuổi, Ngài đầu sư thọ giáo với Hòa thượng Ấn Kim–
 

khi truyền pháp, Thượng tọa cho đệ tử xuống chữ Đồng và pháp tự chữ Thông theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
(79) Thượng tọa Thích Thanh Thế, pháp danh Đồng Thanh, đệ tử Hòa thượng Thích Trí Hữu tại chùa Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn. Thượng tọa hiện cũng trú trì chùa Bảo Tịnh, quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh
 

* Trang 510 *
device

Hoằng Tịnh tại Tổ đình Sắc tứ Phước Quang, Quảng Ngãi và được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Thứ, nối pháp đời thứ 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Năm Giáp Tuất (1934)(80), Ngài thọ Cụ túc tại giới đàn chùa Thạch Sơn do Hòa thượng Hoằng Thạc làm Đàn đầu, đắc pháp hiệu Minh Đức. Năm 1940, Ngài về trú trì chùa Long Bửu thuộc xã Thành Đức, huyện Nghĩa Hành.
Năm Bính Tuất (1946) Ngài nhận chức Hội trưởng hội Phật giáo Cứu quốc huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm Canh Tý (1960) Tổng hội Phật giáo Trung phần bổ nhiệm Ngài trú trì chùa Linh Phước thuộc Chi hội Phật giáo Trại Mát, Đà Lạt. Từ đó, Hòa thượng chủ trương xây dựng các khuôn hội Sào Nam chùa Pháp Hoa, chùa Tịnh Quang khóm Tự Phước, chùa Linh Thứu khóm Chi Lăng, chùa Quan Âm ở Khe Sanh, Đà Lạt v.v... Năm Quý Sửu (1973), Tỉnh giáo hội Tuyên Đức khai giới đàn truyền giới, đã cung thỉnh Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng.
Năm Nhâm Tuất (1982) GHPGVN tỉnh Lâm Đồng được thành lập, Ngài được cung thỉnh vào hàng giáo phẩm Chứng minh của Tỉnh giáo hội.
Mùa hạ năm Giáp Tý (1984), Hòa thượng lâm bệnh và vào Sài–gòn chữa trị. Sau đó, Ngài về thăm chùa Long Bửu tại quê nhà. Vào ngày 19 tháng Giêng năm Ất Sửu
 

(80) Căn cứ vào cuốn “Lược Sử Những Ngôi Chùa Tỉnh Lâm Đồng” do Thượng tọa Thích Không Trú chủ biên ghi rằng Ngài thọ Tỳ-kheo năm 1936 tại chùa Phước Quang (tư liệu 1). Còn theo bảng tiểu sử do môn đồ cung cấp ghi rằng Ngài thọ giới năm 1933 tại Phước Quang do Bổn sư Hoằng Tịnh làm Đàn đầu, ngài Tăng cang chùa Từ Hiếu, Huế làm Yết-ma, ngài Tăng Cang chùa Chúc Thánh, Quảng Nam làm giáo thọ (tư liệu 2). Qua sự nghiên cứu của chúng tôi thì cả hai nguồn chưa hoàn toàn chính xác.
Theo chúng tôi được biết, chùa Phước Quang trong thời Hòa thượng Hoằng Tịnh trú trì chỉ mở 3 giới đàn vào các năm: 1920, 1925, 1932 chứ không có năm 1936 như nguồn tư liệu 1 đã nói. Theo nguồn tư liệu 2 cho rằng Ngài thọ giới năm 1933 do Bổn sư Hoằng Tịnh làm Đàn đầu thì không đúng. Vì ngày 17 tháng 10 năm 1932 Hòa thượng Hoằng Tịnh đã viên tịch. Còn giới đàn có hai vị Hòa thượng chùa Từ Hiếu và Chúc Thánh làm Yết-ma, Giáo thọ là giới đàn năm Giáp Tuất (1934) tại chùa Thạch Sơn, Quảng Ngãi do Hòa thượng Hoằng Thạc làm Đàn đầu. Lại nữa, căn cứ vào pháp hiệu Minh Đức thì chắc chắn không phải do Bổn sư Hoằng Tịnh cho. Bởi vì Hòa thượng Hoằng Tịnh phú pháp cho đệ tử với đạo hiệu chữ KHÁNH hoặc chữ PHƯỚC đứng đầu.
 

* Trang 511 *
device

(1985), Hòa Thượng viên tịch và nhục thân được an táng tại chùa Long Bửu, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Hòa thượng Thích Minh Đức là một trong những vị Cao tăng cận đại của Phật giáo Quảng Ngãi và Lâm Đồng. Không những thế, Ngài còn là một trong những vị Danh y nổi tiếng một thời chữa được nhiều bệnh ngặt nghèo cho nhân dân.
Về sự truyền thừa, khi còn hành đạo tại Quảng Ngãi, Ngài vẫn cho đệ tử xuống chữ NHƯ theo bài kệ của Tổ sư Minh Hải–Pháp Bảo. Các vị đệ tử mang pháp danh chữ NHƯ có: Hòa thượng Thích Như Nghĩa, trú trì chùa Liên Hoa, quận 4, Sài–gòn; Cố Thượng tọa Thích Viên Lâm, pháp danh Như Liễu, trú trì chùa Quan Âm, Quảng Ngãi. Tuy nhiên, khi lên tỉnh Tuyên Đức (tức Lâm Đồng ngày nay), để hòa đồng cùng chư tôn đức trong công việc, Hòa thượng cho đệ tử xuống pháp danh chữ TÂM, nhưng pháp tự vẫn đặt chữ GIẢI. Tại đây, Hòa thượng có hai vị đệ tử chính: Thượng tọa Thích Tâm Vị, pháp tự Giải Phẩm, hiệu Quảng Không, trú trì chùa Linh Phước, Trại Mát; Đại đức Thích Giải Hiền, pháp danh Tâm Chánh, hiệu Quảng Học trú trì chùa Linh Ẩn, Nam Ban.
Đến đời Thượng tọa Thích Tâm Vị trú trì, ban đầu Thượng tọa vẫn cho xuống chữ THỊ như Đại đức Thích Thị Lực. Nhưng về sau, Thượng tọa cho đệ tử pháp danh chữ NGUYÊN và pháp tự chữ HẠNH như: Đại đức Thích Hạnh Trí pháp danh Nguyên Long; Đại đức Thích Hạnh Tấn pháp danh Nguyên Ủy v.v...
1.2. Hòa thượng Đồng Quả–Thiện Phước–Nghiêm Tịnh
同 果 善 福 嚴 凈 (1930–1998): Chùa Linh Sơn

Hòa thượng thế danh Nguyễn Bản, pháp danh Đồng Quả, tự Thiện Phước, hiệu Nghiêm Tịnh(81), đời thứ 43 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Hòa thượng sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Thuận Phú, xã Phú Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Bổng và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lưu. Năm 12 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia đầu Phật với Bổn sư là Hòa thượng Thích
 

(81) Pháp hiệu Nghiêm Tịnh do Hòa thượng Thích Từ Mãn đặt sau khi Ngài viên tịch.
 

* Trang 512 *
device

Tâm Nhơn tại chùa Vĩnh Phước, làng Lý Hòa gần quê nhà. Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài đậu Thủ khoa Sa-di tại giới đàn chùa Vĩnh Phước và năm Tân Mão (1951), đắc giới Cụ túc tại giới đàn chùa Phổ Minh, thị xã Đồng Hới do Hòa thượng Bổn sư làm Đàn đầu.
 
Hòa thượng Thiện Phước
Đến năm Nhâm Thìn (1952), Ngài vào học khóa Trung đẳng Phật học tại Phật học viện Báo Quốc, Huế. Năm Bính Thân (1956), sau khi tốt nghiệp, Hòa thượng gia nhập vào đoàn Như Lai Sứ Giả của Tổng hội Phật giáo Trung phần. Ngài đã đi hoằng pháp lợi sanh khắp các vùng duyên hải miền Trung.
Năm Đinh Dậu (1957), Hòa thượng đến tỉnh Lâm Viên và dừng chân tại chùa Tỉnh hội Linh Sơn. Sau đó, Hòa thượng đảm nhận trú trì chùa Bửu Sơn tại La Ba, Đức Trọng.
Năm Bính Ngọ (1966), do nhu cầu của Giáo hội nên Hòa thượng về lại Linh Sơn cộng tác cùng chư tôn đức trong công việc hoằng pháp. Năm 1982, GHPGVN tỉnh Lâm Đồng thành lập, Hòa thượng lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Ủy viên hoằng pháp, Ủy viên hướng dẫn nam nữ Phật tử. Trong Đại hội nhiệm kỳ V (1997), Hòa thượng được cung thỉnh vào chức vụ Phó Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng. Ngài là bậc tôn túc chuyên hành trì và đi sâu nghiên cứu luật học, nên vào năm 1990, trường Cơ bản Phật học Lâm Đồng thành lập, Ngài được mời đảm trách bộ môn Luật học trong hai khóa I và II.
Đầu mùa an cư năm Mậu Dần (1998), Phật lịch 2542, tại trường hạ Linh Sơn, Hòa thượng đột ngột viên tịch vào lúc 1 giờ

* Trang 513 *
device

40 sáng ngày 21 tháng 5 năm Mậu Dần (20/6/1998) sau một cơn bệnh nhẹ. Bảo tháp Ngài được kiến tạo tại nghĩa trang Phật giáo Du Sinh.
1.3. Hòa thượng Tâm Thanh–Giải Tịnh–Chơn Nghiêm
心 清 解 凈 眞 嚴 (1931–2004): Vĩnh Minh tự viện


Hòa thượng Tâm Thanh    
Hòa thượng thế danh Lê Thanh Hải, pháp danh Tâm Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, sinh năm Tân Mùi (1931) tại làng Mã Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Lê Nghiêm pháp danh Thị Tịnh và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Qua.
Xuất thân trong một gia đình gia giáo nên Ngài được theo học cả Đông-Tây học. Từ nhỏ, Hòa thượng quy y thọ 5 giới với Hòa thượng Thích Tôn Thắng tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng và được Hòa thượng ban cho pháp danh Tâm Thanh, theo pháp kệ dòng thiền Liễu Quán.
Năm Quý Mão (1963), trong mùa tranh đấu bảo vệ chánh pháp, Hòa thượng phát tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Long Trí tại chùa Viên Giác, Hội An. Năm Giáp Thìn (1964), Ngài thọ giới Sa-di, được Hòa thượng Long Trí ban pháp tự là Giải Tịnh theo pháp kệ dòng thiền Chúc Thánh; sau đó, Hòa thượng vào Nam theo học tại lớp Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Năm Bính Ngọ (1966), Hòa thượng thọ Cụ túc giới tại giới đàn Quảng Đức do Hòa thượng Thích Thanh Thạnh làm Đàn đầu và được Hòa thượng Thích Tôn Thắng ban cho pháp hiệu Chơn Nghiêm.
Sau khi tốt nghiệp lớp Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm khóa

* Trang 514 *
device

đầu tiên, Hòa thượng trở thành một vị giảng sư nổi tiếng của Giảng sư đoàn Viện hóa đạo GHPGVNTN.
Năm Kỷ Dậu (1969), Hòa thượng về nhận chức Chánh đại  diện GHPGVNTN khu Bảy Hiền, Gia Định - nơi các đồng bào Quảng Nam vào an cư lạc nghiệp. Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng lên Đại Ninh thăm Hòa thượng Thích Thiền Tâm - Giáo thọ trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm đang nhập thất tại trú xứ Hương Nghiêm. Được Hòa thượng Thiền Tâm giới thiệu, Ngài nhận một quả đồi phía trên tu viện Hương Nghiêm do Phật tử Mười hiến cúng. Hòa thượng bắt đầu xây dựng một thạch thất nơi núi rừng hoang vắng này để về tịnh dưỡng sau những ngày đi thuyết pháp.
 
 
                                                              Vĩnh Minh Tự Viện - Đức Trọng
Năm Quý Hợi (1983), nhận thấy duyên hoá độ có nhiều thuận lợi, Hòa thượng quyết định xây chùa ngay phía trên tịnh thất Chơn Nghiêm lấy hiệu là Vĩnh Minh Tự Viện với ý xiển dương giáo pháp Tịnh Độ.
Năm Quý Dậu (1993), Hòa thượng lại vận động đại trùng tu Vĩnh Minh tự viện, từ đó về sau cứ mỗi năm Hòa thượng lại

* Trang 515 *
device

khánh thành một công trình nhân ngày kỵ tổ Phổ Thiên, như: Giảng đường, Khách đường, Tăng xá, Pháp bảo, các tượng đài, Bảo tháp v.v..., khiến Vĩnh Minh tự viện trở thành một tòng lâm nổi tiếng với cảnh trí hài hòa u nhã. Từ đó, pháp âm nơi núi rừng Đại Ninh vang xa, nên chư Tăng ni và Phật tử khắp mọi nơi về thọ giáo quy y rất đông. Hòa thượng cũng từng ra đảm nhiệm chức vụ Phó Ban trị sự kiêm Trưởng Ban hoằng pháp Giáo hội tỉnh Lâm Đồng, Hiệu phó kiêm Giám luật trường Cơ bản Phật học Lâm Đồng khóa I và II; đồng thời đi giảng dạy truyền đạt kinh nghiệm giảng sư cho Tăng ni sinh khắp nơi.
 


Bảo tháp Hòa Thượng Tâm Thanh
Đầu năm Quý Mùi (2003), Hòa thượng trao quyền trú trì cho trưởng tử Thích Nguyên Hiền và nhập thất tịnh tu cho đến khi viên tịch vào ngày 13 tháng 2 nhuần năm Giáp Thân (02/04/2004), thế thọ 74 tuổi, Tăng lạp 40 hạ.
Về mặt truyền thừa, Hòa thượng thọ giáo với hai vị Hòa thượng truyền thừa theo hai bài kệ của tổ Liễu Quán và tổ Minh Hải. Về 5 giới thì Ngài thọ pháp dòng thiền Liễu Quán với pháp danh Tâm Thanh. Về thế độ thì Ngài thọ pháp dòng Lâm Tế
Chúc Thánh với pháp tự Giải Tịnh. Tuy nhiên, khi truyền pháp, Hòa thượng truyền theo pháp kệ của tổ Thiệt Diệu–Liễu Quán.
1.4. Hòa thượng Như Trực–Trí Giác–Vĩnh Châu
如 直 智 覺 永 珠 (1930–2006): Chùa Linh Thứu

Hòa thượng thế danh Lương Năng, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thuở nhỏ, Ngài quy y

* Trang 516 *
device



Hòa thượng Trí Giác

với Hòa thượng Chơn Khai–Quang Lý tại chùa Bửu Long nên có pháp danh Như Trực. Về sau, Ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Giải Hậu tại chùa Hội Phước, Quảng Ngãi; thọ đại giới năm Tân Sửu (1961) tại chùa Linh Quang nên được Bổn sư phú pháp hiệu Trí Giác. Từ đó, Ngài đảm nhiệm trú trì các chùa như: chùa Long Quang tại tỉnh Kontum (1964–1965); chùa Giác Hoàng tại Lâm Đồng (1966–1969). Năm 1968, Hòa thượng Giải Hậu viên tịch, Ngài về kế nghiệp Bổn sư trú trì chùa Hội Phước. Đến năm 1990, Hòa thượng Thích Quang Lý trú
trì chùa Linh Thứu, Đà Lạt viên tịch; Ngài được môn phong cử vào trú trì chùa Linh Thứu. Từ đây cho đến ngày viên tịch, Hòa thượng gắn liền với những sinh hoạt của Phật giáo Lâm Đồng.
Hòa thượng còn là người yêu thích thơ văn nên lấy bút hiệu Vĩnh Châu. Hòa thượng viên tịch ngày 16 tháng 7 năm Bính Tuất (2006).
1.5. Hòa thượng Thích Thanh Từ
釋 清 慈: Thiền viện Trúc Lâm

Hòa thượng Thích Thanh Từ, thế danh Trần Hữu Phước, sinh ngày 14 tháng 7 năm Giáp Tý (1924) tại ấp Tích Khánh, xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long). Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Thiện Hoa tại chùa Phật Quang, Trà Ôn được Hòa thượng đặt pháp danh là Thanh Từ. Tính theo thứ hệ, Ngài thuộc đời 42 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Cùng năm, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa–di tại chùa Phước Hậu do Hòa thượng

* Trang 517 *
device



Hòa thượng Thanh Từ

Khánh Anh làm Đàn đầu. Năm Quý Tỵ (1953), Ngài được thọ Cụ túc giới do Hòa thượng Huệ Quang làm Đàn đầu và theo học lớp Cao đẳng Phật học tại chùa Ấn Quang. Từ năm 1960 đến năm 1964, Hòa thượng là Giáo thọ sư nổi tiếng của Phật học viện Huệ Nghiêm, Dược sư, Từ Nghiêm, Đại học Vạn Hạnh v.v... Năm Bính Ngọ (1966), Ngài phát nguyện nhập thất tu tập thiền. Sau khi ra thất, Ngài thành lập thiền viện Chơn Không và chủ trương xiển dương khôi phục dòng thiền Trúc Lâm–Yên Tử. Từ đó, Hòa thượng khai
sáng các thiền viện Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu, Phổ Chiếu v.v... để có nơi cho các Tăng ni tu tập.
 

                                                               Thiền viện Trúc Lâm – Đà Lạt

* Trang 518 *
device

Năm Quý Dậu (1993), Hòa thượng khai sơn thiền viện Trúc Lâm tại thành phố Đà Lạt và Ngài thường trụ tại đây để hướng dẫn đồ chúng tu học.
Hiện tại, hệ thống dòng thiền Trúc Lâm do Hòa thượng lãnh đạo có trên 20 cơ sở thiền viện khắp Bắc–Trung–Nam và hải ngoại, có vai trò rất lớn trong sự nghiệp hoằng truyền chánh pháp trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam hiện tại.
2. Sự truyền thừa của chư Ni
Trong quá trình phát triển của Ni bộ tại tỉnh Lâm Đồng, có hai ngôi chùa truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh, đó là chùa Tuệ Quang và chùa Từ Thuyền.
2.1. Ni trưởng Như Tịnh và chùa Tuệ Quang
Vào năm 1971, Ni trưởng Thích Nữ Như Tịnh thể theo lời thỉnh cầu của đạo hữu Phật tử từ Ni trường Dược Sư, Sài–gòn lên nhận trú trì chùa Tuệ Quang, Đà Lạt. Từ đó, Ni trưởng dần dần kiến tạo chùa Tuệ Quang thành một trú xứ của chư Ni góp phần phát triển Ni bộ tại tỉnh Lâm Đồng.
Ni trưởng Thích Nữ Như Tịnh pháp danh Thị Thanh, tự Hạnh Nguyện, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Ni trưởng là đệ tử của Hòa thượng Như Từ–Tâm Đạt tại chùa Thiên Bình, nhưng xuất gia với Sư bà Diệu Hoa tại chùa Long Quang, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ni trưởng truyền thừa theo pháp kệ của tổ Minh Hải–Pháp Bảo cho đệ tử xuống chữ ĐỒNG và pháp tự là chữ TỊNH.
2. 2. Ni sư Từ Thuần và chùa Từ Thuyền
Vào năm 1975, theo lời chỉ dạy của Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Từ, Ni sư Thích Nữ Từ Thuần từ chùa Từ Thuyền, quận Gò Vấp lên Đà Lạt lập chùa với tên hiệu Từ Thuyền. Từ ngôi chùa mái tôn vách ván, Ni sư từng bước kiến tạo Từ Thuyền thành một ngôi chùa khang trang để tiếp độ nữ lưu, khuyến hóa người vào cửa Phật.
Ni sư Thích Nữ Từ Thuần (1944–1996), thế danh Trần Thị Sáu, sinh năm 1944 tại huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. Năm 15 tuổi, Ni sư xuất gia với Hòa thượng Thích Pháp Minh tại chùa Từ Phước, Đức Phổ. Sau đó, Ni sư vào tham học tại Ni trường Dược Sư, cầu

* Trang 519 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh