LOGO VNBET
Phạm, thấy cây bách cổ ở núi Thiên Mục mà đại ngộ, được Sư Phạm ấn khả truyền pháp.
Năm Quý Sửu (1253), niên hiệu Bảo Hựu năm đầu, đời vua Lý Tông, Nam Tống, Sư ra trú trì và hoằng pháp tại chùa Long Hưng, Đàm Châu (Trường sa, Hồ Nam) rồi lần lượt trụ tại các chùa Đạo Lâm ở Sơn Tây, Phật Nhật Thiền tự ở Nam Minh (Triết Giang), Hộ Thánh Thiền tự, Quang Hiếu Thiền tự ở Tiên Cư (Triết Giang).
Năm Kỷ Tỵ (1269), niên hiệu Hàm Thuần thứ 5 đời vua Độ Tông triều Nam Tống, Sư về trú trì Ngưỡng Sơn Thiền tự ở Viên Châu (Nghi Xuân, Giang Tây), đồ chúng đến tham học rất đông. Đến đời Nguyên Thế Tổ (Bột–nhi–chỉ–cân Hốt–tất–liệt) lại càng kính trọng Sư và ban cho Tử y.
Vào năm Đinh Hợi (1287), niên hiệu Chí Nguyên thứ 24 đời vua Thế Tổ triều Nguyên, Sư thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Tác phẩm có: Tuyết Nham Hòa thượng ngữ lục. Đệ tử nối pháp có ngài Nguyên Diệu.
Tổ Thứ 55
Đời Thứ 18 Tông Lâm Tế
Thiền sư CAO PHONG – NGUYÊN DIỆU

(1238 – 1295)
 
Sư họ Từ, tự Cao Phong, sinh năm Mậu Tuất (1238), niên hiệu Gia Hy thứ 2 đời vua Lý Tông nhà Nam Tống tại xứ Ngô Giang, Tô Châu (nay là Giang Tô), Trung Quốc. Năm 15 tuổi Sư phát tâm xuất gia, đến năm 17 tuổi thọ giới Cụ túc, 18 tuổi học giáo quán Thiên Thai và được ý chỉ.
Sư chuyên tâm mộ thiền pháp nên đã đến tham vấn ngài Đoạn Kiều–Diệu Luân nhưng vẫn không khế ngộ. Về sau Sư đến pháp hội của tổ Tuyết Nham–Tổ Khâm để tham học. Vào năm Kỷ Tỵ (1269), một hôm khi một bạn đồng tham đẩy cái gối rơi

* Trang 80 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh