LOGO VNBET
xuống đất, Sư nghe tiếng động này và triệt ngộ. Sư bèn lên đảnh lễ Tổ trình kiến giải, được Tổ ấn chứng truyền trao y bát.
Năm Kỷ Mão (1279), niên hiệu thứ 2 đời vua Tống Đế Bính triều Nam Tống, Sư dựng một thảo am nhỏ ở hang Sư Tử trên núi Thiên Mục đề tên là “Tử Quan”, trong 15 năm không hề bước chân ra khỏi cửa. Từ đó, tiếng tăm Sư vang xa, đồ chúng theo về tu học ngày càng đông.
Vào năm Ất Mùi (1295), niên hiệu Nguyên Trinh năm đầu, đời vua Thành Tông triều Nguyên, Sư thâu thần thị tịch, thọ thế 58 tuổi, thụy hiệu là Phổ Minh Quảng Tế thiền sư. Tác phẩm của Sư để lại gồm: Cao Phong Diệu thiền sư ngữ lục, Cao Phong Hòa thượng thiền yếu. Đệ tử nối pháp có ngài Minh Bổn.
 
Tổ Thứ 56
Đời Thứ 19 Tông Lâm Tế
Thiền sư TRUNG PHONG – MINH BỔN

(1263 – 1323)
Sư họ Tôn, tự Huyễn Trụ, hiệu Trung Phong, sinh năm Quý Hợi (1263), niên hiệu Cảnh Định thứ 3 đời vua Lý Tông triều Nam Tống tại xứ Tiền Đường (Hàng Châu), Trung Quốc.
Năm 15 tuổi, Sư phát tâm xuất gia. Năm 24 tuổi, Sư đến tham học với thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu. Một hôm, nhân đọc kinh Kim Cang, Sư tỉnh ngộ. Tổ sư Nguyên Diệu trao cho Sư câu thoại đầu, khổ kham trong vòng 10 năm Sư mới thấu triệt diệu lý Lâm Tế và được truyền trao tâm ấn.
Từ đó, Sư đi giáo hóa khắp mọi nơi chứ không trụ ở một nơi nhất định. Hoặc lúc non cao, hoặc nơi am viện, hoặc nơi sông hồ v.v... và thường xưng là “Huyễn Trụ lão nhân”. Nếu có dựng thảo am thì Sư vẫn để hiệu là Huyễn Trụ.
Vào năm Quý Hợi (1323), niên hiệu Chí Trị thứ 3 triều vua Nguyên Anh Tông, Sư thị tịch, thọ 61 tuổi, thụy hiệu là Trí Giác

* Trang 81 *
device

 
Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh