LOGO VNBET
10. CÁC GIÀ NẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI XUẤT GIA
Tăng đoàn là hình ảnh của đức Phật, mang trọng trách “Thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự” (thừa truyền sứ mệnh của đức Như Lai và thực hiện sự nghiệp cao cả của Phật); do đó, khi tuyển chọn người xuất gia cần phải tuân thủ một số điều kiện tương đối nghiêm chặt, hầu tuyển chọn được những người có thân tướng đoan nghiêm và phẩm chất ưu việt. Điều này nhằm mục đích tị thế cơ hiềm, linh nhân sinh khởi tín tâm (tránh sự chê bai của người đời, khiến người ta sinh tâm tin tưởng và tôn kính). Nhờ thế hành giả mới đủ mãnh lực cảm hóa tha nhân hướng về con đường Thánh thiện, đạt đến giác ngộ và giải thoát.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu 32 già nạn (những chướng ngại) đối với người xuất gia để giúp chư Tôn túc và Tăng Ni tham khảo.
1. Hủy hoại Tịnh Hạnh Của Tỳ-Kheo-Ni:
Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy, đồng tử Ly-xa là Am Bà La phá hoại tịnh hạnh đệ tử của Tỳ-kheo-ni pháp Dự. Do thế, Ni sư liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với Ngài: “ Bạch Thế Tôn, đồng tử Ly-xa phá hoại phạm hạnh đệ tử của con”.

* Trang 101 *
device

Nói như thế xong, cô bèn lễ Phật rồi ra đi. Sau khi Ni sự Pháp Dự ra đi, đức Thế Tôn liền cùng với A Nan đi đến chỗ các người Ly-xa. Trông thấy Thế Tôn viếng thăm bất ngờ, các người Ly-xa niềm nở đón chào Ngài. Sau những lời chào hỏi xã giao, đức Thế Tôn liền nói với các Ly-xa: “Này các người Ly-xa, quyến thuộc của các người, các người phải bảo hộ, cũng như đệ tử Tỳ-khoe-ni của Ta, Ta cũng phải bảo hộ. Nếu có ai xâm phạm, hoặc phá hoại tịnh hạnh của họ, thì theo phép tắc của Ta, suốt đời Ta không nói chuyện, không ở chung, không ăn chung”.
Các người Ly-xa liền bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn, cũng như phép tắc của Thế Tôn, phép tắc thế tục của chúng tôi cũng như vậy.” Khi ấy, đức Thế Tôn tùy nghi thuyết pháp cho các Ly-xa khiến họ sinh tâm hoan hỷ, rồi Ngài từ giã ra đi. Sai khi Ngài đi không bao lâu, Tỳ-kheo-ni Pháp Dự liền đến chỗ các người Ly-xa, nói với họ: “Này các cư sĩ, đồng tử Ly-xa Am Bà La đã hủy hoại phạm hạnh đệ tử của tôi. Đó là việc bất thiện, không phải pháp tùy thuận”.
Các người Ly-xa nghe thế liền bảo nhau: “Vừa rồi, chính đức Thế Tôn muốn nói về việc này đây”, đồng thời cảm thấy rất xấu hổ, nói với Tỳ-kheo-ni Pháp Dự: “Vậy Ni sư muốn chúng tôi trừng trị bằng cách nào đây?”
Ni Sư nói: “Đổi họ ông ta, công bố ông ấy không còn là người Ly-xa nữa, xoay cửa nhà về hướng Tây, phá nhà bếp, hủy mái nhà ông ta xung quanh một khuỷu tay” (Đây là cách trừng trị những kẻ xâm phạm tình dục phụ nữ theo luật pháp thời bấy giờ).

* Trang 102 *
device

Các Ly-xa đáp: “Xin thọ giáo”, rồi tuyên bố rằng Am Bà La không còn là người Ly-xa nữa, rồi xoay cửa nhà ông ta về hướng Tây, cho đến phá hủy [417a] mái nhà ông ấy.
Sau sự việc xảy ra vừa rồi, đức Thế Tôn cho tập hợp các Tỳ-kheo lại rồi tuyên bố: “Nếu kẻ nào hủy hoại tịnh hạnh của Tỳ-kheo-ni thì không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni”.
2. Sống Trong Tăng Chúng Để Trộm Pháp
Khi Phật an trú tại Xá-vệ, có đàn việt đến tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Tới giờ thọ trai có một người đen đủi, bụng bự đến ngồi  chỗ của Thượng tọa. Trong chốc lát, Thượng tọa đến hỏi:
- Ông bao nhiêu hạ lạp?
- Ngồi ở đây ăn cơm thì bình đẳng cả, còn phải vất vả hỏi hạ lạp làm gì?
Vị Thượng tọa ấy có uy đức nghiêm trang, bèn bảo: “Ối chao! Ông đi xuống dưới kia”. Ông bèn rời chỗ ấy, đến ngồi chỗ của Thượng tọa thứ hai. Trong khoảnh khắc, Thượng tọa thứ hai đến cũng hỏi:
- Ông bao nhiêu hạ lạp?
- Ngồi ở đây ăn cơm thì bình đẳng cả, còn phải vất vả hỏi hạ lạp làm gì?
Cứ như vậy, lần lượt đến chỗ của Sa-di. Sa-di xua đuổi, hỏi:
- Ai là Hòa thượng của ông? Ai là thấy ông?
- Tôi là đệ tử lớn nhất của Nan đà và Ưu-ba-Nan-đà.

* Trang 103 *
device

Chung cục không ai biết ông là ai, gây ra tình trạng lộ xộn trong Tăng chúng. Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật nói: “Ông ta không phải là đệ tử lớn nhất của Nan đà và Ưu-ba-Nan-đà. Đây là người tự động xuất gia. Nếu người ấy chưa từng tham dự Bố-tát, Tự tứ, sau này có lòng tốt muốn xuất gia, thì nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Nếu đã từng tham dự Bố-tát, Tự tứ thì gọi là kẻ sống trong Tăng chúng để trộm pháp, không cho xuất gia, thọ giới Cụ túc. Nếu là con vua hay con quan đại thần [417b] vì tị nạn mà khoác Ca-sa, nhưng chưa tham dự Bố-tát, Tự tứ thì nên cho xuất gia. Nếu đã từng tham dự Bố-tát, Tự tứ thì không cho xuất gia. Nếu Sa-di suy nghĩ: “ Trong khi thuyết giới không biết quí thầy bàn luận về vấn đề gì?”, rồi lén chui trước dưới gầm gường để nghe trộm, mà thông minh, ghi nhớ tất cả giới pháp từ đầu đến cuối, thì sau này không được thọ giới Cụ túc. Nhưng nếu đần độn, không nhớ đầy đủ các giới pháp thì sau này được thọ giới Cụ túc. Tóm lại, nếu kẻ nào sống trong Tăng chúng để trộm pháp thì không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni.
3. Kẻ Lừa Đảo
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có một người, trước bữa ăn, mặc theo hình thức của Sa-môn, tay cầm bát đen, vào xóm làng khất thực. Sau bửa ăn,ông lại mặc theo hình thức ngoại đạo, tay cầm bát bằng gỗ, theo các du khách vào nơi công viên, hồ nước, chỗ du ngoạn trong rừng để khất thực. Dân chúng thấy thế chê bai: “Vì sao Sa-

* Trang 104 *
device

môn Thích tử đã vào nhà tôi khất thực, bây giờ lại vào cà trong rừng, không làm sao thoát được ông ta?” Kẻ khác lại nói: “Ông không biết sao? Kẻ Sa-môn này dối trá, vì y phục, ẩm thực nên vào cả hai nơi”.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật nói: “Đó gọi là kẻ lừa đảo, bỏ hình thức Sa-môn, khoác hình thức ngoại đạo, rồi lại bỏ hình thức ngoại đạo khoác hình thức Sa-môn. Những kẻ lừa đảo như vậy không nên cho xuất gia. Nếu đã cho xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho họ thọ giới Cụ túc thì phạm tổi Việt-tì-ni”.
4. Phạm Tội Ngũ Nghịch
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Bà-la-môn Đô Di vốn là Thiện tri thức cũ của tôn giả Xá-lợi-phất, đến chỗ Xá-lợi-phất, nói với thầy:
- Tôn giả, cho tôi xuất gia.
- Đó là việc tốt. Ông vốn là Bà-la-môn thường tương phản với Sa-môn, vì sao mà có lòng tin., phát tâm hoan hỷ như vậy? Theo ai nghe pháp, theo Thế Tôn hay theo các Tỳ-kheo?
- Tôi cũng chẳng có lòng tin gì, lại không hoan hỷ, cũng chẳng theo ai nghe pháp cả. Chỉ vì tôi lỡ giết mẹ, nay muốn đoạn trừ tội lỗi này, cho nên mong được xuất gia.
- Đợi tôi hỏi đức Thế Tôn đã.
Thế rồi, tôn giả Xá-lợi-phất đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: “Người này giết mẹ, tạo tội ngũ nghịch, phải đọa địa ngục vô gián, vốn là hạt giống thối

* Trang 105 *
device

nát, đối với chánh pháp không thể phát sinh thiện quả, không nên cho xuất gia”.
Sau đó lại có bạn cũ của Tôn giả A-nan là Bà-la-môn Đô Do vì lỡ giết cha nến đến xin A-nan cho mình xuất gia. A-nan liền đem việc đó trình lên Thế Tôn. Phật nói với tôn giả: “Người này giết cha, tạo tội vô gián, là hạt giống nát, đối với chánh pháp không thể thành tựu đạo quả. Giá như bảy đức Phật cùng xuất hiện một lúc, thuyết pháp cho y nghe, thì rốt cuộc y cũng không thể phát sinh thiện tâm. Ví như cây đa-la đã bị chặt đầu thì không thể sống còn, không thể xanh tươi, vì không còn mầm sống bên trong. Tội vô gián này cũng như vậy, đối với chánh pháp không thể sinh mầm mống Thánh thiện…Nếu kẻ nào gây ra năm tội vô gián thì không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì phải đuổi đi. Ai độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni”.
5. Sáu Loại Người Không Thể Làm Đàn Ông
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, vào lúc ban đêm, các Tỳ-kheo đang ngủ trong phòng tại một tịnh xá, thì có kẻ đến rờ mó từ gót chân lên đến bắp vế, đến bụng, rồi lần hồi tới chỗ kín. Tỳ-kheo định chụp bắt, thì y liền chạy thoát. Rồi y lại đến những nơi khác tiếp tục những hành vi như thế. Cuối cùng, một Tỳ-kheo tóm cổ được y, liền hỏi:
- Ngươi là ai?
- Tôi là con gái của vua.
- Ngươi là con gái thật sao?
- Tôi thuộc lưỡng tính, phi nam, phi nữ
- Vì lý do gì mà ngươi sống lẫn lộn trong chúng Tăng?

* Trang 106 *
device

- Tôi nghe nói Sa-môn không có vợ, tôi muốn đến làm vợ.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: “Đó là kẻ bất năng nam. Hạng này gồm sáu loại. Đó là: 1) Sanh; 2) Bị phá hỏng; 3) Cắt bỏ; 4) Nhân người khác (mà có tác dụng); 5) Tật đố; 6) Nửa tháng có tác dụng.
1) Sanh: Đứa bé từ khi mới sinh đã không có nam căn.
2) Bị phá hỏng: Vợ lớn, vợ bé ganh ghét nhau nên tìm cách phá hỏng nam căn con của đối phương khi mới sinh ra.
3) Cắt bỏ: Vua chúa hoặc đại thần dùng những người đã cắt bỏ nam căn để hầu hạ nơi phòng the.
4) Nhân người khác: Nhân có người xúc chạm mà nam căn cương cứng.
5) Tật đố: Thấy người khác hành dâm mà nam căn cương cứng.
6) Nửa tháng có tác dụng: Nửa tháng có tác dụng, nửa tháng không có tác dụng
Trong đây, sanh không thành đàn ông, bị phá hỏng không thành đàn ông, cắt bỏ không thành đàn ông, ba loại này không nên xuất gia. Nếu có xuất gia thì phải đuổi đi. Còn nhân người khác mà không thành đàn ông, tật đố không thành đàn ông, nửa tháng không thành đàn ông, ba loại này cũng khôn nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Sau đó, nếu sinh khởi dâm dục thì phải đuổi đi. Tóm lại, sáu loại người không thành đàn ông này không nên cho xuất gia. Nếu ai độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni

* Trang 107 *
device

6. Trẻ quá
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, các Tỳ-kheo độ trẻ con xuất gia, khi nằm ngồi phải nhờ khác đỡ đần, lúc đi cầu tiêu, dính đồ bất tịnh làm dơ bẩn mền gối của tăng chúng, khi ngủ dậy kêu khóc, do đó, bị người đời chê cười rằng: “Vì sao Sa-môn Thích tử lại độ trẻ con xuất gia, chưa biết phép tắc, chưa biết những lời nói nào là tốt hay xấu? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!”
Lại có người mỉa mai: “Ông không biết sao? Vì các Sa-môn này không có con, nên nuôi trẻ con người khác để tưởng tượng là con mình, lấy đó làm niềm vui”.
Rồi có người khác chê vào: “Các Sa-môn này chỉ có hai hạng người mà họ không độ: một là người chết, hai là người không muốn xuất gia. Vì nếu không độ thì đồ chúng không đông đảo. Do đó mà phải độ nhiều người”
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng Phật dạy:
- Từ nay về sau không cho những người còn trẻ quá xuất gia. Trẻ quá nghĩa là quá bảy tuổi, nhưng nếu bảy tuổi mà không biết việc tốt xấu , cũng không nên cho xuất gia. Nếu đủ bảy tuổi mà hiểu biết được việc tốt xấu thì nên cho xuất gia. Nếu trẻ con đã cho con xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia thì phạm tội Việt-tì-ni.
7. Già Quá
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ các Tỳ-kheo độ những người tám mươi, chín mươi tuổi xuất gia, đầu bạc, lưng còng, xương sống lồi lõm, các căn không còn chủ động được, khi muốn tiểu tiện thì phân lòi ra, đi đứng

* Trang 108 *
device

phải có người giúp đỡ, không thể tự mình đứng dậy nổi. Họ ho hen liên hồi muốn hụt cả hơi, đàm dãi tuôn ra làm dơ bẩn trú xứ của Tăng, khiến người chê cười rằng: “Vì sao Sa-môn Thích tử độ những ông lão đầu bạc, [418b] lưng còng, ho hen chấn động, đi đứng phải chờ người giúp đỡ xuất gia? Người xuất gia phải lẽ ra phải tráng kiện để tọa Thiền, tụng kinh, tu tập các nghiệp thiện, đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!”
Lại có người mỉa mai: “Ông không biết sao? Vì Sa-môn Thích tử xuất gia không có cha, nên nuôi những ông lão này để tưởng tượng là cha mình”. Lại có người chem. Vào: “Các Sa-môn này chỉ có hai hạng người họ không độ: một là người chết, hai là người không muốn xuất gia. Vì nếu không độ thì hội chúng không tăng trưởng”.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền ân cần chỉ dạy:
- Từ nay về sau, những người quá già không nên cho xuất gia. Quá già nghĩa là quá bảy mươi tuổi. Những người quá bày mươi tuổi dù còn có thể làm việc được cũng không nên cho xuất gia. Nhưng nếu dưới bảy mươi tuổi mà không còn làm việc nổi, nằm ngồi phải nhờ người khác giúp đỡ, cũng không nên cho xuất gia. Những người bảy mươi tuổi mà còn khang kiện có thể tu tập các nghiệp thiện thì nên cho xuất gia. Cón già quá thì không nên cho xuất gia. Nếu ai đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho họ thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni
8. Quan Viên Tại Chức
Khi Phật an trú tại vườn Trúc Ca-lan-đà, nơi thành

* Trang 109 *
device

Vương Xá, bấy giờ có Tỳ-kheo độ một viên quan tại chức xuất gia, cho thọ giới Cụ túc. Vị quan hình sự thấy thế, liền bắt thầy Tỳ-kheo ấy tống đến chỗ quan tòa, nói như sau: “Vị Sa-môn này lén độ quan viên tại chức xuất gia”.
Vị quna tòa nói: “Đem Hòa thượng Đương đầu ra bẻ gảy ba xương sườn, [420a] dẫn thầy Giáo thọ đến kéo lưỡi ra, lôi Thập sư ra đánh mỗi người tám roi. Còn kẻ thọ giới Cụ túc kia thì dùng cực hình trị tội”.
Sau khi lệnh được truyền ra, những kẻ thừa hành liền hộ tống các tội nhân ra khỏi thành đến chỗ trị tội thì nhằm lúc vua Tần-Bà-ta-la đi đến Thế Tôn. Trông thấy đám đông này, vua liền hỏi kẻ tả hữu: “Đó là những người nào vậy?”
Quân hầu liền đem sự việc lên tâu đầy đủ với nhà vua. Nghe xong, vua tức giận cực độ, liền truyền lệnh thả ra tất cả, và nói với họ: “Từ nay về sau, ai muốn xuất gia thì cho phép Thầy được tiếp độ”.
Thế rồi, vua bảo gọi quan tòa đến. Khi y đi đến, vua hỏi:
- Trong nước này ai là vua?
- Đại Vương là vua chứ ai.
- Nếu trẫm là vua thì vì sao ngươi trị tội người một cách tùy tiện mà không tâu với trẫm?
Đoạn, vua ra lệnh 1uan Hữu Ty cách chức viên quan tòa, đồng thời tịch thu hết tài sản của y sung vào công khố. Quan Hữu Ty liền thi hành mệnh lệnh của vua, lột chức quan của y, và tịch thu hết tài sản nhập vào công khố.
Các Tỳ-kheo đem việc ấy bạch lên Thế Tôn, Phật liền nói với các Thầy: “Ước gì tất cả các vì vua đều có lòng tin

* Trang 110 *
device

như thế! Từ nay về sau, Ta không cho phép thu nhận quan viên tại chức xuất gia. Quan chức có bốn loại: 1) Có danh mà không có bổng lộc; 2) Có bổng lộc mà không có danh; 3) Vừa có bồng lộc vừa có danh; 4) Không có bổng lộc cũng không có danh. Những người thuộc loại thứ nhất và thứ ba thì ở nước này không cho xuất gia và các nước khác cũng không cho. Còn lại thứ hai thì ở đây không cho, nhưng ở nơi khác thì cho. Còn loại thứ tư thì ở đây cho và các nơi khác cũng cho. Tóm lại, không nên cho viên quan tại chứ xuất gia. Nếu Tỳ-kheo nào vi phạm thì phạm tội Việt-tì-ni.
9. Kẻ Mắc Nợ:
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỳ-khoe độ kẻ mắc nợ xuất gia. Chủ nợ gặp được người ấy, liền thộp cổ đem đến quan tòa, tố cáo: “Người này mắc nợ tôi chưa trả mà xuất gia”. Viên quna tòa vốn có lòng tin Phật pháp, bèn nói với chủ nợ: “Người này đã xả bỏ tài sản, xuất gia, vì sao lại mắc nợ? liền thả cho đi.
Chủ nợ liền oán trách” Người này đang mắc nợ của tôi chưa trả, vì sao Sa-môn Thích tử  lại cho y xuất gia? Đây là hạng người bại hoại, nào có đạo hành gì!”
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy: “Từ nay về sau, khi có kẻ nào đến xin xuất gia thì trước hết phải hỏi: “Ngươi có mắc nợ ai khôn?” Nếu đám: “Có mắc nợ, nhưng nhà tôi có vợ con, ruộng đất, tài sản, tôi sẽ trả”, thì nên cho xuất gia. Nếu nói: “Không mắc nợ”, thì nên cho xuất gia. [429b]. Trường hợp sau khi xuất gia mà chủ nợ đến đòi, nếu món

 

* Trang 111 *
device

nợ ít thì lấy y bát của người ấy trả cho chủ nợ. Nếu không đủ thì phải đem y bát của mình hoặc xin thêm để giúp vào mà trả. Nếu số nợ nhiều không thể trả nổi, thì nên nói: “Trước đây ta đã hỏi ngươi có mắc nợ ai không thì ngươi bảo là không, vậy thì giờ đây ngươi hãy tự đi xin tiền để trả nợ người ta”. Tóm lại, người mắc nợ không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi”.
10. Bị Bệnh:
Khi Phật an trú tại vườn Trúc Ca-lan-đà, nơi thành Xá-vệ, bấy giờ, có một người bệnh đến chỗ lương y Kỳ-vức, nói với ông: “Này Kỳ-vức, chữa bệnh cho tôi rồi tôi sẽ trả cho ông năm trăm lượng vàng và hai cây lụa mỏng”. Kỳ-vức đáp: “Tôi không thể chữa. Tôi chỉ chữa trị cho hai hạng bệnh nhân: một là đức Phật, Tỳ-kheo Tăng; hai là nhà vua và các phu nhân hậu cung của vua”.
Người bệnh liền đi đến phòng Nan-đà, Ưu-ba-Nan-đà. Sauk hi thăm hỏi xã giao và tường thuật lại sự việc vừa rồi, Nan-đà nói:
- Ông bỏ năm trăm lượng vàng và hai cây lụa mỏng làm chi cho uổng. Ông chỉ cần bỏ hai thứ: một là bỏ tóc, hai là bỏ y phục thế tục là được.
- Thưa thầy, thầy muốn tôi xuất gia sao?
- Dĩ nhiên.
Nan-đà liền độ cho ông xuất gia cho thọ Cụ túc. Thế rồi, sang sớm thầy khoác y thường mặc, đi đến nhà Kỳ-vức, nhờ ông trị bệnh cho người đệ tử mới của mình. Vâng lời thầy dạy, Kỳ-vức liền mang thuốc đến tu viện, nhưng khi trông thấy người bệnh, ông nhận diện ran gay, liền hỏi:

* Trang 112 *
device

- Tôn giả đã xuất gia rồi sao?
- Vâng.
- Tốt lắm. Giờ tôi sẽ chữa trị cho Thầy.
Thế là Kỳ-vức liền dùng thuốc chữa bệnh cho vị tân Tỳ-kheo ấy. Đến khi lành bệnh còn đem hai cây lụa mỏng cúng dường và cầu chúc: “Mong tôn giả hãy sống trong Phật pháp để tịnh tu phạm hạnh”.
Người ấy nhận vật cúng dường rồi liền bãi đạo, cởi áo cà-sa, mặc hai tấm lụa mỏng, đi vào trong đường hẻm, chửi xéo như sau: “Lương y Kỳ-vức có rất nhiều con. Tôi đem năm trăm lượng vàng, hai cây lụa mỏng thuê ông trị bệnh mà ông không chịu trị. Nhưng khi thấy tôi xuất gia liền chữa trị, lại còn cúng dường hai cây lụa nữa chứ”. Kỳ-ức nghe thấy, lòng rất bực tức, liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn, người bệnh kia nhờ con mới được sống còn thế mà lại nhục mạ con. Bạch Thế Tôn, con là Ưu-bà-tắc, vì muốn cho Phật pháp được hưng thịnh nên mới nhiệt thành làm việc công đức, kính xin Thế Tôn từ nay về sau đừng cho các Tỳ-kheo [420c] độ người bệnh xuất gia”.
Bấy giờ, Thế Tôn vì đồng tử Kỳ-vức tùy thuận thuyết pháp, chỉ bảo những điều lợi ích, khiến ông hoan hỷ, đảnh lễ Ngài rồi ra đi. Đoạn, Thế Tôn đi đến chỗ các Tỳ-kheo, thuật lại sự việc kể trên, rồi dạy: “Nầy các Tỳ-kheo, từ nay về sau, không nên cho những người mang các chứng bệnh sau đây xuất gia: bệnh ghẻ, bệnh lở loét, bệnh hủi, bệnh ung thư, bệnh trĩ, bệnh đái tháo, bệnh vàng da, bệnh sốt

* Trang 113 *
device

rét, bệnh suyễn, bệnh gầy còm, bệnh điên cuồng, bệnh nhiệt, bệnh phong thũng, thủy thũng, bụng chướng v.v.., nói chung, nếu ai có bệnh mà uống thuốc chưa bình phục thì không nên cho xuất gia. Nếu bệnh sốt rét trong vòng bồn ngày mà không tái phát thì nên cho xuất gia. Tóm lại, nếu thì người bệnh thì không nên xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho thọ Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni
11. Ngoại Đạo:
Lúc bấy giờ có Tỳ-kheo độ một người ngoại đạo xuất gia. Sau khi xuất gia, hễ ai nói về những thói xấu của ngoại đạo như: Ngoại đạo không có lòng tin, tà kiến, phạm giới, không có tàm quí thì ông ta liền bênh vực: “Này trưởng lão, chớ nói như thế. Trong hàng ngũ ấy cũng có những bậc hiền Thiện, cũng giữ giới. Tất cả đều đạt được Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán”.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo: “Từ nay về sau, nếu có kẻ ngoại đạo đến xin xuất gia thì chúng Tăng phải làm Yết-ma cho họ sống chung trong bốn tháng để thử thách. Sau khi làm Yết-ma xong, phải sắp xếp công việc của y như một Sa-di. Trong thời gian ấy, nếu nghe ai chỉ trích ngoại đạo mà y bênh vực thì phải đuổi đi; trái lại, nếu y nói: “Đúng như Trưởng lão bảo, ngoại đạo có tà kiến, không biết xấu hổ, gây nghiệp địa ngục, xin Trưởng lão hãy cứu vớt con”, thì nên cho xuất gia. Tuy nhiên, nếu nửa chừng mà được Thánh pháp thì chấm dứt sự thử thách. Nếu người ấy bỏ hình thức ngoại đạo, mặc sắc phục của người đời đến xin

* Trang 114 *
device

xuất gia thì nên cho xuất gia, không cần phải trải qua bốn tháng thử thách.
12. Con Trốn Cha Mẹ:
Khi Phật an trú tại tịnh xá của dòng họ Thích, bên cây ni-câu-luật, nước Ca-duy-la-vệ, bấy giờ có đồng tử con nhà họ Thích trốn cha mẹ đi xuất gia liền được các Tỳ-kheo thế độ. Sau đó những đứa còn lại khi cha mẹ sai bảo cái gì, thì chúng hậm hực nói: “Đức Thế Tôn lúc sắp trở thành Chuyển Luân Thánh Vương mà còn bỏ nhà xuất gia, con còn luyến tiếc điều chi mà không xuất gia?” Do vậy, các người họ Thích cùng nhau đến chỗ vua Bạch Tịnh đề nghị nhà vua đến thỉnh cầu đức Thế Tôn một nguyện vọng. Thế là nhà vua cùng họ hàng đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến nơi, họ đảnh lễ Phật, đoạn nhà vua trình bày: “Bạch Thế Tôn, cha mẹ nghĩ đến con thương nhớ thâu suốt tâm can. Tôi cũng đã từng gắp cảnh ngộ như vậy. Trong thời gian bảy năm Thế Tôn xuất gia, khi đi đứng nằm ngủ, lúc ăn uống nghỉ ngơi, không lúc nào tôi không thầm khóc. Kính mong Thế Tôn hãy chế định: “ Nếu đứa con nào cha mẹ chưa cho phép thì các Tỳ-kheo không nên cho xuất gia”.
Bấy giờ Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp cho vua Bạch Tịnh và mọi người hoan hỉ, rồi họ đảnh lễ cáo lui. Đoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo tập hợp đông đủ, rồi Ngài dạy: “ Từ nay về sau, những đứa con nào không được phép của cha mẹ thì không nên cho xuất gia. Nhưng nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni.

* Trang 115 *
device

13. Đầy Tớ Trốn Chủ
Bấy giờ có một người đầy tớ của dòng họ Thích trốn chủ, đến tịnh xá xin xuất gia. Các Tỳ-kheo liền thế độ cho y. Do thế, bọn đầy tớ còn lại khi được chủ nhà phân công công việc, chúng không chịu phục tùng mà hậm hực nói: “Tôn già Xiển Đà mà còn xuất gia, thì tôi đây luye61c tiếc thứ gì, thà đi xuất gia sẽ được người ta lễ bái, cung kính, cúng dường”.
Sau khi xảy ra việc này, đức Phật cho tập hợp các Tỳ-kheo  và quy định: “Kể từ nay những kẻ nô bộc nào trốn chủ thì không nên cho xuất gia. Nhưng nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Ai độ họ xuất gia, cho họ thọ giới Cụ túc thì phạm tồi Việt-tì-ni.
Ngoài những trường hợp đặc biệt kể trên còn có các trường hợp khác như những người bị dị tật bẩm sinh, bị tật nguyền do tai nạn, hoặc vì phạm pháp mà không chịu nhục hình thành ra tàn khuyết v.v…, cụ thể như là:
14/ Bị chặt tay;
15/ Bị chặt chân;
16/ Bị chặt cả tay chân;
17/ Bị cắt tai;
18/ Bị xéo mũi;
19/ Bị cắt cả tai mũi;
20/ Bị mù;
21/ Bị điếc;
22/ Bị mù lẫn điếc;
23/ Bị câm;

* Trang 116 *
device

24/ Bị quẻ;
25/ Vừa câm vừa què;
26/ Bị đánh có sẹo;
27/ Bị đóng dấu;
28/ Bị rút gân;
29/ Bị bong gân;
30/ Bị còng lưng;
31/ Thân thể dị dạng;
32/ Hình dáng xấu xí, đều không nên cho xuất gia; nhưng nếu đã xuất gia không nên đuổi đi. Vị Tỳ-kheo nào độ họ xuất gia, cho thọ giới Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni.
Trên đây chúng tôi đã soạn thuật về 32 già nạn đối với người xuất gia theo Luật Ma-ha-tăng-kỳ, quyển 23. Trong số đó, có người phạm tội ngũ nghịch như giết mẹ; có người vi phạm đạo đức như phá tịnh hạnh của Tỳ-kheo-ni, lừa đảo, đầy tớ trốn chủ; có người vi phạm luật pháp như quan viên tại chức bỏ nhiệm sở; có người thiếu những điều kiện cần thiết như già quá hay trẻ quá; ngoài ra những người còn lại đều do các khiếm khuyết về cơ thể mà thuật ngữ chuyên môn gọi là lục căn bất túc (6 cơ quan không hoàn chỉnh). Tuy những trường hợp kể trên được ghi lại từ thời đức Phật, cách nay hơn 25 thế kỷ, nhưng ngày nay chúng vẫn còn giữ nguyên giá trị hiện thực. Do thế, khi chọn người xuất gia, thiết nghĩ chúng ta không thể làm một cách tùy tiện mà phải cân nhắc cẩn thận. Vì người xuất gia vốn là biểu tượng của Thánh chúng, trưởng tử của Như Lai, Đạo sư của trời người, là tượng trưng cho đạo

* Trang 117 *
device

đức và giải thoát. Nếu vị thầy bất cẩn, cho những người thiếu phẩm chất đạo đức và thân thể khiếm khuyết xuất gia, thì không những vi phạm những điều Phật chế mà còn làm cho thanh danh của Giáo hội bị tổn thương, uy tín của Tăng đoàn bị hoen ố, và khó tránh khỏi sự hủy nhục của người đời.

* Trang 118 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật