LOGO VNBET
12. THỂ THỨC SÁM HỐI CÁC TỘI
Tăng đoàn đệ tử của Phật gồm có 5 chúng, mà 2 chúng lớn là Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni có trách nhiệm giữ gìn giềng mối kỷ cương của Đạo và đảm nhận sứ mệnh hoằng dương chánh pháp. Hai bộ phận này thường sống theo tập thể tại các tu viện trong tinh thần thanh tịnh và hòa hợp, lấy giới luật làm trung tâm. Và giới luật mà họ tuân thủ gồm có Ngũ thiên và Thất tụ.
Ngũ thiên là: 1. Ba-la-di
                      2. Tăng tàn
                      3. Ba-dật-đề.
                      4. Đề-xá-ni.
                      5. Đột-cát-la
Còn Thất tụ thì sau hai thiên 1 và 2 thêm thiên Thâu-lan-giá, và thiên thứ 5 Đột-cát-la chia làm 2 cột là: Ác tác và Ác thuyết.
Tăng-già tại Việt Nam hiện nay bao gồm 2 hệ phái: Nam Tông và Bắc Tông. Nam Tôn tuân thủ luật Thượng tọa bộ Pàli. Tỳ-kheo có 227 giới; Tỳ-kheo-ni có 311 giới; nhưng Tỳ-kheo-ni đã bị thất truyền. Bắc Tông tuân thủ luật Tứ Phần thuộc Đàm-vô-đức-bộ. Tỳ-kheo có 250 giới,

* Trang 125 *
device

Tỳ-kheo-ni có 348 giới. Nếu Tăng Ni sống với tập thể giữ gìn giới Luật thanh tịnh, đó là điều rất lý tưởng, là dấu hiệu đạo pháp hưng thịnh. Tuy nhiên, thỉnh thoảng một vài cá nhân vì nghiệp lực trói buộc, hoặc vì sơ suất mà phạm giới khiến cho bản thân bất an, công phu thoái hóa, dẫn đến tình trạng Tăng đoàn bất hòa, thiếu sự thanh tịnh, thanh danh của Thánh chúng bị tổn thương. Để khắc phục tình trạng không hay ấy, giới pháp đã quy định những thể thức sám hối đối với các tội đã phạm.
Toàn bộ giới pháp gồm 5 thiên hay 7 tụ, nhưng khi vi phạm thì chỉ bao gồm vào 6 khoản như sau:
1. Ba-la-di.
2. Tăng tàn.
3. Thâu-lan-giá.
4. Ba-dật-đề
5. Đề-xá-ni.
6. Đột-cát-la.
Sau đây, người viết xin tuần tự trình bày về thể thức sám hối các khoản tội kể trên.
1. Thể thức sám hối tội Ba-la-di:
Tiếng Phạn Pàràjika, được phiên âm là Ba-la-di, Hán dịch là đoạn đầu (bị chặt đức đầu) hay Tha thắng (bị ma quân đánh bại). Ba-la-di gồm có 4 giới; Giới âm; giới trộm cắp; giới sát nhân; giới đại vọng ngữ, thuộc về tánh giới.
Trong 4 giới trên, ngoại trừ phạm tội giết người thì không thể sám hối, còn phạm các giới khác đều có phương pháp sám hối. Người phạm tội này phải sám hối suốt đời, và không thể phục hồi phẩm chất Tỳ-kheo như cũ, không

* Trang 126 *
device

thể đạt được Thánh quả trong đời này, nhưng có thể chuyển được khổ báo nặng nơi cõi địa ngục thành quả báo nhẹ trong hiện tại. Tỳ-kheo phạm tội Ba-la-di nếu không sám hối sẽ đày vào địa ngục Diễm Nhiệt, chịu khổ báo 16.000 năm, tính theo thời gian của cõi trời Tha Hóa, tức là 9.216.000.000 năm tính theo cõi người.
Cách xử lý tội này có 3 trường hợp:
a/ Phạm tội mà che giấu:
Nếu Tỳ-kheo phạm tội Ba-la-di mà che giấu, sau đó được Ta9ng phát hiện thì Tăng sẽ làm Yết-ma ban cho thầy ấy pháp Ức niệm (nhớ lại sự phạm tội của mình). Khi thầy ấy xác nhận tội trạng, Tăng sẽ tập hợp, bạch tứ Yết-ma cho pháp diệt tẫn (đuổi hẳn ra khỏi Tăng đoàn). Khi Yết-ma xong, vị Thiền chủ gọi vào an ủi, khuyến khích thầy ấy tìm nơi thanh vắng ngày đêm nỗ lực trì tụng kinh chú, lễ bái, sám hối v.v…
b/ Phạm tội mà pháp lồ (bày tỏ):
Nếu Tỳ-kheo nào phạm tội Ba-la-di, ngoại trừ tội giết người, mà có tâm tàm quí, hối hận, quyết chí sữa chữa, bạch với Tăng chúng ngay sau khi phạm, thì Tăng chúng sẽ tập hợp ít nhất là 20 Tỳ-kheo, bạch tứ Yết-ma (một lần bạch, 3 lần biểu quyết) ban cho vị ấy pháp Học hối Ba-la-di hay Dữ học Ba-la-di. Đồng thời ban cho 35 pháp Tùy thuận bắt phải tuân thủ suốt đời. Ba mươi lăm pháp này được chia làm bảy nhóm, mỗi nhóm làm 5 pháp (*). Ngoài ra vị này còn phải chấp hành một số chế tài như sau:
_______________
(*) Xem Trùng Trị Tỳ-ni Sự Nghĩa Tập Yếu và Huyền Ty.

* Trang 127 *
device

- Khi Tăng Bố-tát, vị này đến dự hay không đến dự Tăng chúng không phạm tội Biệt chúng (nghĩa là được xem như là một Tỳ-khoe dự thính chứ không chính thức).
- Vị này chỉ được phép tham dự hai pháp Yết-ma Bố-tát và Tự tứ, nhưng không được tính vào túc số của Tăng, ngoài ra các Yết-ma khác đều không được tham dự.
- Trong các dịp hội họp, vị này phải ngồi sau tất cả các Tỳ-kheo và trước tất cả Sa-di.
c/. Tái phạm:
Nếu vị này tái phạm cũ hay phạm bất cứ giới Ba-la-di nào khác, Tăng sẽ tập hợp bạch Tứ Yết-ma, cho pháp Diệt tẫn. Sau khi Tăng làm Yết-ma xong, bảo vị này để lại y, bát và rời khỏi trú xứ.
2. Thể thức sám hối tội Tăng tàn:
Chữ Phạn Sanghàvasena, được phiên âm là Tăng-già-bà-thi-sa, Hán dịch là Tăng tàn. Nghĩa là người phạm tội này như người bị trọng thương tàn khuyết, nhưng nhờ uy đức của chúng Tăng mà có thể chữa lành. Ai phạm tội này nếu không sám hối sẽ đọa vào địa ngục Đại khiếu hoán (kêu la dữ dội), chịu khổ báo 8.000 năm theo thời gian của họa trời Hóa Lạc, tức là 2.304.000.000 năm theo thời gian của cõi người. Người phạm tội này thường rơi vào một trong ba trường hợp, tùy mỗi trường hợp mà có cách xử lý riêng, và biện pháp xử lý giữa Tăng và Ni có nhiều điểm không giống nhau.
A. Phạm tội mà phát lồ:
Trước hết nói về Tỳ-kheo.

* Trang 128 *
device

Nếu Tỳ-kheo nào phạm tội Tăng tàn mà thành khẩu phát lồ ngay sau khi phạm, thì Tăng sẽ tập hợp ít nhất là 4 Tỳ-kheo cho pháp Yết-ma Ma-na-đỏa, và bắt thi hành trong vòng 6 ngày đêm. Ma-na-đỏa là từ phiên âm của tiếng Phạn Mànàpya, Hán dịch là Duyệt-chúng-ý, nghĩa là làm cho tâm ý của chúng Tăng vui vẻ. Trong thời gian thi hành pháp Ma-na-đỏa, vị Tỳ-kheo này phải tuân thủ 35 pháp Tùy thuận như người Học hối Ba-la-di, đồng thời phải thực hiện 7 pháp hỗ trợ khác. (*)
Sau sáu hôm thi hành pháp Ma-na-đỏa nghiêm chỉnh, vị này sẽ đến xin Tăng cho mình pháp Yết-ma xuất tội (giải tội). Sau khi xem xét, nếu thấy thầy không vi phạm điều gì, tăng sẽ tập hợp ít nhất là 20 Tỳ-kheo, cho thầy pháp Yết-ma xuất tội. Sau khi được xuất tội, các biện pháp chế tài đều giải tỏa, vị này sẽ phục hồi đầy đủ phẩm chất của Tỳ-kheo, và trở lại sinh hoạt với chúng Tăng như một Tỳ-kheo thanh tịnh.
Trường hợp Tỳ-kheo phạm tội Tăng-tàn, thì hai bộ Tăng Ni phải tập hợp mỗi bên ít nhất 4 vị, làm Yết-ma cho pháp Ma-na-đỏa, bắt thi hành trong 15 ngày giữa hai bộ Tăng và Ni, và phải tuân thủ các biện pháp chế tài như trên đã nói. Sau khi thi hành pháp Ma-na-đỏa nghiêm chỉnh, vị này có thể đến hai bộ Tăng, Ni xin pháp Yết-ma xuất tội. Hai chúng sẽ cứu xét, nếu thấy không vi phạm đều gì, sẽ tập hợp 40 vị, mỗi bên 20 người, cho pháp Yết-ma xuất tội. Sau khi được xuất tội, vị này sẽ phục hồi phẩm chất Tỳ-kheo-ni, trở lại sinh hoạt bình thường với Ni chúng.
________________
(*) Xem Giáo trình Luật học, Thích Phước Sơn.

* Trang 129 *
device

B. Phạm tội mà che giấu:
Nếu Tỳ-kheo phạm tội Tăng-tàn mà che giấu, sau đó Tăng phát hiện, thì Tăng sẽ tập hợp ít nhất là 4 Tỳ-kheo, làm phép Yết-ma Biệt trú để trị phạt số ngày đã che giấu của vị ấy. Biệt trú nghĩa là ở phòng riêng, nhưng sinh hoạt chung với chúng Tăng, và phải chấp hành mọi việc nhọc nhằn mà Tăng chúng phân công. Đồng thời phải tuân thủ 35 pháp Tùy thuận và 8 pháp hỗ trợ(*)
Người phạm tội Tăng-tàn mà không phát lồ rồi cùng tham dự các sinh hoạt với chúng Tăng như Bố-tát, Tự tứ v.v…, thì sẽ mắc thêm một hoặc nhiều tội nữa trong số 12 tiểu tội tùng sinh. (**)
Sau khi thi hành pháp Biệt trú xong, không vi phạm điều gì, Tăng sẽ cho pháp Ma-na-đỏa và sau đó cho pháp xuất tội, như trên đã nói.
Trường hợp Tỳ-kheo-ni phạm tội Tăng tàn, dù có che giấu cũng không cho pháp Biệt trú, mà chỉ cho pháp Ma-na-đỏa rồi cho pháp xuất tội như trên đã nói. Vì nếu Tỳ-kheo- ở phòng riêng sẽ gặp nhiều bất tiện- căn cứ vào thời điểm Phật chế giới.
C. Trường hợp tái phạm
Sự tái phạm tội này có thể xảy ra vào 2 đợt:
1) Tái phạm trong lúc hành Biệt trú.
2) Tái phạm trong lúc hành Ma-na-đỏa.
______________
(*) Xem Giáo trình Luật học, Thích Phước Sơn.
(**) Xem Tứ Phần Giới Bổn Như Thích, Tỳ-kheo Thích Hành Trụ dịch, S.1967, tr 246.

* Trang 130 *
device

1) Tái phạm trong lúc hành Biệt trú:
Người đang hành Biệt trú mà tái phạm thì có thể rơi vào một trong hai trường hợp: a/ Phát lồ ngay sau khi phạm. b/. Che giấu.
a/ Phát lồ ngay sau khi phạm.
Nếu tái phạm mà phát lồ ngay trong ngày ấy thì Tăng sẽ cho tiếp tục hành số ngày Biệt trú còn dang dở cho đến hết, rồi cho pháp Yết-ma Ma-na-đỏa.
b/. Che giấu.
Nếu khi đang hành Biệt trú mà tái phạm rồi che giấu, sau đó bị phát hiện, thì số ngày đã hành Biệt trú của tội trước coi như bị hủy bỏ. Do đó phải hành lại toàn bộ số ngày của tội trước cộng với số ngày che giấu sau khi tái phạm. Trường hợp này gọi là “Hoại phú tàng bản nhật trị”.
2) Tái phạm trong lúc hành Ma-na-đỏa:
Nếu đang hành Ma-na-đỏa mà tái phạm thì có thể dẫn đến một trong hai trường hợp: a/ Phát lồ ngay sau khi phạm. b/. Che giấu.
a/ Phát lồ ngay sau khi phạm: Trường hợp này Tăng sẽ cho thi hành 6 ngày Ma-na-đỏa của tội tái phạm, cộng với số ngày còn lại của tội trước.
b/. Che giấu: Nếu tái phạm mà che giấu, sau đó bị phát hiện, thì Tăng sẽ bắt đình chỉ pháp Ma-na-đỏa, cho pháp Yết-ma phú tàng, phạt Biệt trú số ngày đã che giấu. Sau khi thi hành Biệt trú xong, Tăng sẽ bắt hành 6 ngày Ma-na-đỏa của tội tái phạm, cộng với toàn bộ 6 ngày Ma-na-đỏa của tội trước, thành 12 ngày Ma-na-đỏa. Đây gọi là “Hoại Ma-na-đỏa bản nhật trị”.

* Trang 131 *
device

Sau khi hoàn thành xong pháp Ma-na-đỏa một cách nghiêm chỉnh, sẽ xin Tăng cho pháp Yết-ma xuất tội.
 Tuy nhiên, Căn Bản Tát-bà-đa Bộ Luật Nhiếp, quyển 4 nói: “Có 6 hạng người khi phạm tội Chúng giáo (tức Tăng tàn) chỉ cần sám hối với một Tỳ-kheo thì tội được tiêu trừ:
1/ Người chuyên trì tạng Kinh.
2/ Người chuyên trì tạng Luật.
3/ Người chuyên trì tạng Luận.
4/ Người cả hổ thẹn.
5/ Vị Thượng tọa cao tuổi nhất trong chúng.
6/ Người có phước đức lớn”.
Thiết nghĩ đây là một quan điểm xử lý tương đối khá thoáng, xin nêu ra đây để tiện bề tham khảo.
3. Thể thức sám hối tội Thâu-lan-giá
Thâu-lan-giá là phiên âm của tiếng Pàli Thullaccaya, Hán dịch là Đại tướng thiện đạo, nghĩa là gây trở ngại lớn cho con đường hạnh thiện.
Tội này do phạm hai tội Ba-la-di và Tăng tàn chưa đầy đủ mà cấu thành, được chia thành 2 loại: Độc đầu và Tùng sinh; đồng thời mỗi loại được chia thành 3 bậc là Thượng phẩm, Trung phẩm và Hạ phẩm.
Tỳ-kheo nào phạm tội Thâu-lan-giá mà che giấu, rồi tham dự các sinh hoạt của chúng Tăng thì sẽ phạm thêm một số tiểu tội Tùng sinh như đã nói ở trên.
Người phạm tội Thâu-lan-giá, nếu không sám hối sẽ đọa vào địa ngục Khiến hoán, chịu khổ báo 4.000 năm theo thời gian của cõi trời Đâu Suất, tương đương với 576.000.000 năm của cõi nhân gian.

* Trang 132 *
device

Số người thụ sám hối cho tội này như sau:
- Thượng phẩm sám hối với 20 Tỳ-kheo.
- Trung phẩm sám hối với 4 hoặc 3 Tỳ-kheo.
- Hạ phẩm sám hối với 1 Tỳ-kheo.
Người phạm tội này khi sám hối đúng pháp sẽ phục hồi lại bản thể thanh tịnh của Tỳ-kheo.
4. Thể thức sám hối tội Ba-dật-đề
Ba-dật-đề là từ phiên âm của chữ Phạn Pàyattika, Hán dịch là đơn đọa, nghĩa là bị đọa lạc.
Khoản tội này bao gồm cả hai là Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề và Ba-dật-đề, tức Xả đọa và Đơn đọa.
Nếu người nào phạm tội xả đọa phải sám hối với 3 Tỳ-kheo trở lên. Nếu phạm Đơn đọa phải  sám hối với một Tỳ-kheo. Sau khi sám hối đúng pháp vị ấy sẽ phục hồi nguyên vị phẩm chất của một Tỳ-kheo thanh tịnh. Người phạm tội này nếu chưa sám hối mà sinh hoạt với Tăng chúng trải qua một thời gian lâu, sẽ phạm thêm nhiều tội trong khoản 12 tiểu tội Tùng sinh. Hơn nữa, phạm tội này nếu không sám hối sẽ đạo vào địa ngục Chúng hợp, chịu khổ báo 2.000 năm, tính theo thời gian của cõi trời Diệm-ma, tương đương với 144.000.000 năm của cõi nhân gian.
5. Thể thức sám hối tội Hối quá
Chữ Pàli Patidesaniya, phiên âm là Ba-la-đề-đề-xá-ni, nói gọn là Đề-xá-ni, Hán dịch là Hướng bỉ hối hay Hối quá. Tội này liên quan đến vấn đề ẩm thực. Tỳ-kheo gồm 4 giới, Tỳ-kheo-ni gồm 8 giới. Tội này không nghiêm trọng lắm. Vị nào sau khi phạm tội do việc ăn uống liền

* Trang 133 *
device

hướng đến một Tỳ-kheo khác nói lời hối lỗi, thì hết tội, nên gọi là Hướng bỉ hối. Tuy nhiên, nếu ai phạm tội này mà không sám hối thì sẽ đọa vào địa ngục Hắc thằng, chịu khổ báo 1.000 năm theo thời gian của cõi trời Đao Lợi, tương đương với 36.000.000 năm của cõi nhân gian.
6. Thể thức sám hối của tội Đột-cát-la
Đột-cát-la là từ phiên âm của chữ Pà li Dukkata, Hán dịch là Ác-tác, nghĩa là hành vi xấu. Tội  này thuộc về oai nghi, là tội nhẹ nhất trong các khoản tội. Người nào phạm tội này, nếu là cố ý, phải sám hối với một Tỳ-kheo. Nếu vô tình phạm, chỉ cần tự trách tâm sám hối là hết tội và phục hồi lại phẩm chất của Tỳ-kheo. Tuy nhiên, theo luật ghi nhận, người nào phạm tội này mà không sám hối, sẽ đọa vào địa ngục Đẳng hoạt, chịu khổ báo 500 năm tính theo cõi trời Tứ Thiên Vương, tương đương với 9.000.000 năm của cõi nhân gian.


* Trang 134 *
device


Ý nghĩa sám hối:

Luật văn từng nói: “Thọ giới hữu hà nan, nan giả chung thân trì tịnh giới” (Thọ giới đâu có khó, cái khó là suốt đời giữ được tịnh giới). Bởi vì chúng ta sinh ra đời, ai mà không có lỗi, ai mà không có tội! Mà đã có tội thì phải

* Trang 135 *
device

nỗ lực sửa đổi để trở nên người tốt, như Cổ đức từng dạy: “Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, cửu cửu tất hoạch kiết khánh; sở vị chuyển họa vi phúc dã” (Nếu có kẻ từng làm điều ác, sau đó quyết tâm sửa đổi, thì dần dần sẽ được tốt lành; đó tức là đổi họa thành phúc vậy). Thế nên ta không sợ người phạm tội mà chỉ ngại người không chịu sửa lỗi. Và để khích lệ những người lỡ phạm tội, người xưa bảo: “Ở đời có hai hạng người đáng quí: Người không bao giờ phạm lỗi và người phạm lỗi mà biết ăn năn hối cải”. Hễ biết hối cải thình hoàn cảnh sẽ thay đổi, bản thân sẽ được thăng hoa; như Kinh Luật Dị Tướng đã khẳng định: “Tiền tâm tác ác như vân phú nhật, hậu tâm khỏi thiện như cự tiêu ám” (Tâm trước làm điều ác như vầng mây che khuất mặt trời, tâm sau khởi niệm thiện như ánh đuốc xua tan bóng tối). Vậy thì đã rõ, tội hay phúc, thiện hay ác, tốt hay xấu đều do ta cả: “Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta làm cho ta trong sạch, không ai ngoài ta có thể làm cho ta nhiễm ô hay trong sạch” (50)
Lợi ích sám hối:
Trên đây là ý nghĩa của sự sám hối. Thế còn ích lợi của sám hối thì ta thấy hiện rõ trên hai phương diện: Đối với cá nhân và đối với Tăng bảo
Một tu sĩ khi phạm tội thì thường cảm thấy mặc cảm tội lỗi, tâm hồn ray rứt, bất an; nhưng khi đã chí thành thống thiết, quyết tâm sửa chữa, sám hối đúng pháp, thì mọi mặc cảm sẽ được xóa tan, không còn hổ thẹn với chính mình và áy náy với tha nhân. Do đó, tâm trí trở nên
_________________
(50) Kinh Trung Bộ.

* Trang 136 *
device

an tịnh, dễ chịu, sống vui vẻ, nhờ vậy mà có đủ nghị lực tu tập, để tăng trưởng trí tuệ và thành tựu định lực. Đó là lợi ích đối với cá nhân.
Khi một vị tăng phạm lỗi mà thành tâm sám hối với Tăng chúng, thì chúng Tăng sẽ cảm kích, sẵn sàng mở lượng hỉ xả, biểu lộ sự khoan dung, nhìn vị ấy với cặp mắt thiện cảm và ái kính. Do đó, tăng đoàn sẽ tạo được bầu không khí thanh tịnh và hòa hợp. Mà thanh tịnh và hòa hợp vốn là bản thể của tăng, nhờ thế tăng mới thể hiện được địa vị tăng bảo, làm chổ dựa tinh thần cho bốn chúng đệ tử của Phật và là phước điền cho cõi trời người. Chúng ta đều biết rằng, khi nói đến tăng thì không phải là nói đến cá nhân một tăng sĩ nào, mà là nói đến tập thể, tức là tăng đoàn. Do đó, mọi thành viên của tăng đoàn đều có trách nhiệm liên đới với nhau rất mật thiết, cho nên tục ngữ ta có câu: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”, và Tổ Qui Sơn cũng bảo: “sinh ngã giả phụ mẩu, thành ngã giả bằng hữu” (sinh ra ta là cha mẹ, làm cho ta thành tựu là bạn bè).
Mỗi tăng sĩ sống trong sạch, có trách nhiệm là điều kiện cần thiết để tạo nên uy tín của Tăng-già, có uy tín là điều kiện tối yếu để quang hưng Tam Bảo.
Trên đây người viết đã trình bày đôi nét về thể thức sám hối các tội thuộc về giới pháp của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni, chứ không phải trình bày về phương pháp sám hối chung chung. Hình như lâu nay, Tăng, Ni nào có điều gì vấp váp hay gặp phải những sự rắc rối thì thường tự

* Trang 137 *
device

mình cố gắng xoay xở để vượt qua những khó khăn mà ít khi được sự hỗ trợ tinh thần đắc lực của tăng đoàn qua các pháp Yết-Ma và sám hối. thiết nghĩ, Nếu tăng chúng thường xuyên thực hiện các pháp Yết-Ma, sám hối như thời Phật còn tại thế, thì có thể đã chấn chỉnh được nhiều sự lỉnh kỉnh và lệch lạc của một số cá nhân, nhờ đó mà thanh danh của thánh chúng được tỏa sáng sẽ tạo tiền đề cho sự hưng long của Đạo pháp, và do đó Đạo pháp xứng đáng là nơi quy ngưỡng cho những tâm hồn đang chơi vơi, hụt hẫng giữa thế giới có quá nhiều biến động và kinh hoảng như chúng ta đã từng chứng kiến.
 

* Trang 138 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật