LOGO VNBET
16. THỂ THỨC TỰ TỨ
An cư là nếp sinh hoạt rất thiết thực trong đời sống của Tăng đoàn mà đức Phật đã qui định. Nếp sinh hoạt này đã được chư Tăng tuân thủ nghiêm túc từ thời đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay. Và sau 3 tháng an cư kết thúc, chư Tăng sẽ làm lễ Tự tứ. Tự tứ là dịch nghĩa chữ Phạn Pravàrana, từ này được phiên âm là Bát-hòa-la, đồng thời còn được dịch là Tỳ ý, Thỉnh thỉnh. Nghĩa là sau khi an cư kết thúc, mỗi Tỳ-kheo phải tự nguyện đưa mình ra trước đại chúng, nhờ các vị đồng phạm hạnh chỉ cho biết những lỗi lầm ta đã phạm phải (nếu có) mà các vị ấy đã thấy, nghe hoặc nghi. Thế rồi, tự mình kiểm điểm, nếu thấy đúng sự thật, ta sẽ thành khẩn sám hối để tiêu trừ tội lỗi, hầu hoàn thiện phẩm hạnh của một Tỳ-kheo chân chính.
1. Định kỳ tự tứ:
Hiện nay đoàn thể Tăng già đệ tử của Phật áp dụng hai truyền thống giới luật: Truyền thống bắc truyền theo luật Tứ Phần, truyền thống Nam truyền theo Luật Pàli.
Theo Luật Tứ Phần, chư Tăng bắt đầu an cư ngày 16 tháng 04 âm lịch, và sau 03 tháng làm lễ Tự tứ vào ngày rằm tháng 7 âm lịch. Theo Luật Pàli, chư Tăng bắt đầu an cư ngày 16 tháng 06 âm lịch, và Tự tứ vào ngày rằm tháng

* Trang 163 *
device

09 âm lịch. Định kỳ Tự tứ này có thể du di trong hai ngày; ngày rằm, hoặc ngày 14.
Nếu tại một trú xứ có một Tỳ-kheo tiền an cư – nghĩa là nhập hạ ngày 16 tháng 4 âm lịch – thì tất cả Tăng chúng của trú xứ ấy theo vị này Tự tứ ngày 15 tháng 7 (sau đúng ba tháng an cư). Nhưng những người an cư sau, khi Tự tứ rồi, phải ở lại an cư đủ ba tháng, mới được rời khỏi trú xứ.
Nếu tại một trú xứ, tất cả Tỳ-kheo đều hậu an cư – nghĩa là nhập hạ ngày 16 tháng 6 âm lịch, thì tất cả phải Tự tứ ngày 15 tháng 8 âm lịch.
2. Thể thức Tự tứ:
Khi Tự tứ, vị Tỳ-kheo trưởng lão cao hạ nhất trong đại chúng nói lời Tự tứ trước nhất với một vị Tỳ-kheo tương đương với mình. Nhưng vị Tỳ-kheo thứ 2 này chỉ là đối tượng để hành lễ, còn nội dung lời Tự tứ thì nhằm đến toàn thể đại chúng. Lời Tự tứ như sau: Hôm nay là ngày chúng Tăng Tự tứ, tôi Tỳ-kheo …cũng Tự tứ. Nếu Trưởng lão và đại chúng Tăng thấy, nghe hay nghi tôi có tội, xin từ bi chỉ giáo. Nếu tự thấy mình có tội, tôi sẽ sám hối đúng pháp. Sau khi vị trưởng lão nói lời Tự tứ xong, thì tự mình làm  người nhận Tự tứ để cho đại chúng tuần tự từ lớn đến nhỏ Tự tứ với mình. Tuy nhiên, nếu đại chúng đông đúc, thì có thể cử ra một hay hai người làm người nhận Tự tứ.
Người nhận Tự tứ phải hội đủ 5 đức tính:
1) Không thiên vị;
2) Không tức giận;
3)Không khiếp sợ;

* Trang 164 *
device

4) Không ngu si;
5) Biết ai Tự tứ rồi, ai chua Tự tứ.
Người Tự tứ, dù là hàng Thượng tọa, trưởng lão cũng không được ngồi trên ghế Tự tứ, mà phải đến trước vị nhận Tự tứ, rồi tùy theo địa vị của mình hoặc đứng, hoặc quỳ gối Tự tứ, thì tất cả Tăng chúng cũng phải làm theo như thế.
Luật quy định không được làm Yết-ma Tự tứ trước mặt Tỳ-kheo ni, Thức xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni hay bạch y. Nếu vì một lý do nào đó mà bảo họ không đi, thì các Tỳ-kheo phải rời khỏi nơi ấy, đến chỗ họ không thấy, không nghe, làm Yết-ma Tự tứ. Trừ loài người chưa thọ đại giới, còn các loại khác thì Tự tứ trước chúng không có tội.
Đây là trường hợp một trứ xứ có 5 Tỳ-kheo trở lên đủ điều kiện để làm Yết-ma chúng pháp Tự tứ. Ngoài ra, nếu một trú xứ chỉ có từ 4 Tỳ-kheo trở xuống 2 Tỳ-kheo thì phải áp dụng thể thức đối thủ Tự tứ.
Sau cùng, nếu một trú xứ chỉ có một Tỳ-kheo thì thực hiện thể thức tâm niệm Tự tứ, tức là Tâm nghĩ, miệng nói: “Hôm nay ngày chúng Tăng Tự tứ, tôi Tỳ-kheo mỗ giáp thanh tịnh”.
3. Gởi dục Tự tứ:
Trên  nguyên tắc, khi đến ngày Tự tứ, những Tỳ-kheo bị bệnh được quyền gởi dục cho Tỳ-kheo khác. Nhưng nếu Tỳ-kheo nhận dục (nhận chúc thọ) rồi mà rời khỏi trú xứ, hoặc hoàn tục, hoặc đến chỗ ở của ngoại đạo, hoặc gia nhập vào nhóm phá Tăng, hoặc tự nói mình phạm Biên tội (4 tội Ba-la-di), hoặc xâm phạm tịnh hạnh của Tỳ-kheo ni,

* Trang 165 *
device

hoặc đi tu với tâm trộm pháp, hoặc trong hàng ngũ ngoại đạo trở về, hoặc là kẻ hoàng môn, hoặc phạm tội ngũ nghịch v.v…hoặc là đối tượng mà Tăng sắp cử tội thì sự gởi dục ấy coi như bất thành.
Nếu người nhận dục ấy thanh tịnh, nhưng khi đến giới trường vì nhập định, hoặc quên không trình bày, thì sự gởi dục ấy vẫn hợp lệ. Tuy nhiên, người nhận dục này phạm tội Đột-cát-la. Trong trường hợp, người nhận dục rồi mà có lý do chính đángkhông thể đến giới trường, thì được phép chuyển dục của người kia, đồng thời gởi dục của mình cho một người khác.
Người nhận dục sau khi đến giữa chúng Tăng, nếu nhớ tên người gởi dục thì nói tên. Nếu không nhớ tên mà nhớ họ thì nói họ. Nếu không nhớ họ thì mô tả tướng mạo. Nếu cũng không nhớ tướng mạo, thì có thể nói: “Tôi nhận dục của Tỳ-kheo mỗ giáp. Vị ấy gởi dục Tự tứ đúng theo Tăng sự”.
Người nhận dục có thể nhận sự gởi dục của bao nhiêu người cũng được, không hạn chế số lượng. Tuy nhiên, luật quy định số người gởi dục không bao giờ được phép nhiều hơn, hoặc bằng số người tập họp. Nếu số người gởi dục nhiều hơn hoặc bằng số người tập họp, thì pháp Yết-ma ấy bất thành.
4. Hai chúng cùng Tự tứ một chỗ:
Nếu hai chúng cùng dự định Tự tứ tại một địa điểm, mà cựu Tỳ-kheo định Tự tứ ngày 14, khách Tỳ-kheo định Tự tứ ngày 15, thì chúng nào ít người phải tùy thuận theo ngày quy định của chúng nhiều người. Nếu số người của hai chúng bằng nhau thì khách Tỳ-kheo phải tùy thuận

* Trang 166 *
device

theo ngày quy định của cựu Tỳ-kheo. Nếu như khác Tỳ-kheo không muốn tùy thuận thì phải cùng nhau đem ra ngoài trú xứ kết tiểu giới để Tự tứ. Nếu không làm như vậy thì phạm tội Việt-tì-ni.
Trong khi cựu Tỳ-kheo đang Tự tứ mà khách Tỳ-kheo đến với số người ít hơn cựu Tỳ-kheo , thì Thượng tọa Tự tứ theo Thượng tọa, Hạ tọa Tự tứ theo Hạ tọa.
Nếu cựu Tỳ-kheo Tự tứ vừa xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc nhiều người đã đứng dậy, hoặc tất cả đều đã giải tán, rồi khách Tỳ-kheo mới đến, thì có hai trường hợp:
a) Nếu Khách Tỳ-kheo ít hơn cựu Tỳ-kheo, thì phải nói lời tùy hỷ với cựu Tỳ-kheo.
b) Nếu khách Tỳ-kheo nhiều hơn hoặc bằng cựu Tỳ-kheo, thì cựu Tỳ-kheo phải cùng tự tứ lại với khách Tỳ-kheo. Nếu không tuân hành thì căn cứ theo luật định mà cử tội.
khi cựu Tỳ-kheo Tự tứ xong, mà có công việc gấp, tất cả đều phải rời khỏi trú xứ, thì phải nhờ tịnh nhân hay cư sĩ nói với khách Tỳ-kheo đến sau biết rằng nơi này đã có người Tự tứ rồi, để họ không Tự tứ tại đó. Vì tại một trú xứ mà hai nhóm Tăng làm Yết-ma Tự tứ hai lần trong một ngày, thì đó là dấu hiệu chia rẽ của Tăng.
5. Người bệnh tự tứ:
Khi Tự tứ, nếu Tỳ-kheo bệnh cố gắng đến được giới trường để Tự tứ thì có thể miễn giảm một số nghi pháp, như: “trật vai áo phải, cởi bỏ giày dép, quỳ gối chấp tay; vì sợ bệnh tình sẽ gia tăng. Do đó, Tỳ-kheo bệnh có thể tùy nghi giữ gìn thân thể na ổn mà Tự tứ.

* Trang 167 *
device

Trong trường hợp Tỳ-kheo bị bệnh nặng, mê man không thể gởi dục được, thì tăng phải khiêng giường người ấy đến giới trường để tham dự Tự tứ. Nếu khiêng giường đến sợ bệnh nặng thêm, hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thì tất cả Tăng phải đến bên giường người ấy làm Yết-ma Tự tứ.
Nếu có nhiều người bệnh, khiêng giường đến không tiện, thì các Tỳ-kheo khẻo mạnh phải ngồi tiếp nối nhau giữa các giường tạo thành một giới trường, rồi tác Yết-ma Tự tứ. Nếu làm như vậy cũng không được, thì các Tỳ-kheo khỏe mạnh phải ra ngoài cương giới kết tiểu giới để Tự tứ, chứ không được Tự tứ biệt chúng.
6. Ngăn cản Tự tứ
Luật quy định người bệnh không được ngăn cản người bệnh Tự tứ. Người bệnh không được ngăn cản người mạnh Tự tứ. Người mạnh cũng không được ngăn cản người bệnh Tự tứ. Chỉ có người mạnh mới được ngăn cản người mạnh Tự tứ, nhưng phải có lý do chính đáng. Nếu người mạnh muốn ngăn cản người khác Tự tứ mà một trong 3 nghiệp thân, khẩu, ý không thanh tịnh, thiếu trí tuệ, không thông luật, không thạo vấn đáp, thì vị Yết-ma nên nói với thầy: “Trưởng lão hãy thôi đi, không nên làm phát sinh sự tranh cãi vô ích”. Thế rồi, không ần quan tâm đến lời nói của Thầy ấy, Tăng cứ việc tiến hành Tự tứ.
Nếu người ngăn Tự tứ mà 3 nghiệp thanh tịnh, có trí tuệ biết cách vấn đáp, thì vị Yết-ma nên chất vấn ngược lại Thầy vì sao mà ngăn cản, người kia phạm tội gì, Thầy thấy, nghe hay nghi phạm tội. Nếu trình bày ấp úng, không trôi chảy, mâu thuẫn, thì bấy giờ vị Yết-ma phải kết tội

* Trang 168 *
device

ngược lại Thầy này. Nếu thầy tố cáo người kia phạm tội Ba-la-di vô căn cứ, thì giờ đây kết tội Thầy phạm tội Tăng tàn. Nếu Thầy tố cáo người kia phạm tội Tăng tàn, thì giờ đây kết tội thầy phạm tội Ba-dật-đề. Nghĩa là kết tội Thầy phạm một tội danh thấp hơn một bậc đối với tội mà Thầy đã tố cáo người khác.
Thế nhưng, nếu thầy tố cáo người khác phạm tội Ba-la-di chẳng hạn, mà có chứng cứ xác thực, thì bấy giờ Tăng phải làm Yết-ma diệt tẫn kẻ phạm tội rồi mới Tự tứ.
Nếu tố cáo người khác phạm tội Tăng tàn mà phú tàng, có bằng chứng xác thực, thì Tăng phải làm Yết-ma phú tàng cho kẻ phạm tội. Hoặc người phạm tội cần làm Yết-ma Bản nhật trị, Ma-na-đỏa, xuất tội, thì Tăng phải làm yết-ma xử lý xong, mới Tự tứ. Hoặc người phạm các tội khác cần phải sám hối, thì bắt sám hối xong mới tiến hành Tự tứ.
Ngoài ra, nếu Tự tứ kết thúc mới phát hiện một người nào đó đã phạm tội, thì coi như thông qua, nghĩa là áp dụng nguyên tắc bất hồi tố. Nếu ai còn khơi lại tội phạm của người ấy thì Tăng căn cứ theo luật mà trị tội người sinh sự này; ngoại trừ trường hợp người kia phạm tội trầm trọng để lại hậu quả xấu đối với Tăng đoàn, thì Tăng mới xử lý.
7. Tự tứ giản lược:
Trong khi chuẩn bị Tự tứ mà gặp các chướng nạn xảy ra thì Tăng có thể Tự tứ giản lược. Các chướng nạn này bao gồm 8 việc:
1) Nạn vua xâm phạm;
2) Nạn giặc cướp phá hoại;

* Trang 169 *
device

3) Nạn hỏa hoạn;
4) Nạn nước lụt;
5) Nạn bệnh dịch;
6) Nạn kẻ cường bạo phá rối;
7) Nạn loài phi nhân (ma quỉ) quấy phá;
8) Nạn độc trùng gây trở ngại.
Ngoài ra, nếu gặp các trường hợp: Chúng Tăng đông mà chỗ ngồi chật hẹp; có nhiều người đau ốm; tăng có sự lục đục; luận bàn về giáo pháp, giới luật hoặc thuyết pháp đã khuya, thì có thể Tự tứ giản lược.
Nếu gắp một trong 8 nạn kể trên xảy ra, không đủ thì giờ để nói 3 lần Tự tứ, thì có thể nói 2 lần hay một lần. Nếu cũng không đủ thì giờ thì toàn thể Tăng chúng đồng loạt nói ba lần Tự tứ. Nếu vẫn không kịp thì có thể nói 2 lần hay một lần. Nếu vẫn không kịp thì chỉ cần tuyên bố: “Vì có tai nạn xảy ra cấp bách, xin Tăng chúng giải tán”, cũng hợp pháp.
8. Triển hạn Tự tứ:
Đến ngày Tự tứ mà gặp một trong hai trường hợp như sau đâu thì có thể hoãn ngày Tự tứ:
a) Nếu tại trú xứ nào có thì chủ cúng dường tứ tự đầy đủ, tăng chúng sống an lạc, tinh cần hành đạo, đạt nhiều tiến bộ, mà toàn thể Tăng chúng muốn kéo dài thêm thời gian tu học, thì Tăng nên làm yết-ma Bố-tát, rồi triển hạn thêm nửa tháng hoặc tối đa là một tháng nữa mới Tự tứ; miễn là thời gian an cư không kéo dài hơn 4 tháng là được.
b) Trong trường hợp nội bộ Tăng chúng đang có sự bất hòa, nếu cứ tiến hành Tự tứ thì không những bất thành, mà

* Trang 170 *
device

còn có thể dẫn đến sự phá Tăng, khi ấy Tăng nên triển hạn thêm nửa tháng hay một tháng để giải quyết sự bất hòa rồi mới Tự tứ. Nếu đã hoãn đến hai lần Bố-tát, tức là một tháng, mà Tăng vẫn chưa hòa hợp, thì những Tỳ-kheo thanh tịnh cùng chí hướng nên dẫn nhau ra ngoài trú xứ, kết tiểu giới để Tự tứ.
Đó là những lý do để triển hạn Tự tứ.
Tóm lại, người xuất gia mang hoài bão phát túc siêu phương, thượng cầu, hạ hóa, tự nhận mình là con Phật, mà đức Phật là bậc Điều Ngự sư, lẽ đương nhiên mình phải cố gắng làm sao để xứng danh là một Điều Ngự tử. Do vậy, phải luôn luôn kiểm điểm chính mình, khắc phục nội chướng, ngoại ma trong từng hoi thở, chứ không phải đợi hết 3 tháng hạ mới thỉnh cầu các pháp hữu chỉ điểm những sai trái mà mình đã vấp phải. Bởi thế, phương thức Tự tứ, ngoài ý nghĩa biểu thị tinh thần tương ái tương thân, đồng cam cộng khổ, sách tấn lẫn nhau, còn là một khẳng định thành quả tu học của bản thân mỗi người, nên lòng đầy dũng cảm, không e ngại sự phê phán hay chỉ trích của bất cứ ai. Vì lẽ, trong những ngày qua mình đã sống nghiêm túc tinh tấn, nỗ lực vượt qua mọi chướng ngại của nội tâm cũng như ngoại cảnh để tiến đến chỗ hoàn thiện, giải thoát, mục đích mà mọi người con Phật đều khát khao hướng đến.

* Trang 171 *
device

* Trang 172 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật